ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Đặng Minh Nhật NGHIÊN CỨU WEB SERVICE VÀ ỨNG DỤNG TRONG
THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Công nghệ thông tin Cán bộ hướng dẫn: ThS Đào Ngọc Phong
Cán bộ đồng hướng dẫn: PGS TS Trịnh Nhật Tiến HÀ NỘI - 2009
Hà Nội, 5/2009
Đặng Minh Nhật Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
3Tóm tắt nội dung
Dịch vụ Web (Web Service) được coi là một công nghệ mang đến cuộc cách
mạng trong cách thức hoạt động của các dịch vụ B2B (Business to Business) và B2C
(Business to Customer). Giá trị cơ bản của dịch vụ Web dựa trên việc cung cấp các
phương thức theo chuẩn trong việc truy nhập đối với hệ thống đóng gói và hệ thống
kế thừa. Các phần mềm được viết bởi những ngôn ngữ lập trình khác nhau và chạy
trên những nền tảng khác nhau có thể sử dụng dịch vụ Web để chuyển đổi dữ liệu
thông qua mạng Internet theo cách giao tiếp tương tự bên trong một máy tính. Tuy
nhiên, công nghệ xây dựng dịch vụ Web không nhất thiết phải là các công nghệ mới,
nó có thể kết hợp với các công nghệ đã có như XML, SOAP, WSDL, UDDI… Với sự
phát triển và lớn mạnh của Internet, dịch vụ Web thật sự là một công nghệ đáng
được quan tâm để giảm chi phí và độ phức tạp trong tích hợp và phát triển hệ
như Mạng Internet, Website, mạng điện thoại di động… Quá trình giao dịch không
nhất thiết phải có hai bên tham gia trực tiếp nhưng có hóa đơn hoặc bất cứ giấy tờ
điện tử nào có thể chứng thực. Việc thanh toán dựa vào các ứng dụng về số hóa: thẻ
tín dụng, thẻ trả sau, tài khoản ngân hàng online – E-banking….Còn việc chứng
thực giao dịch có thể dựa vào các luật về thương mại điện tử quốc tế hoặc vùng lãnh
thổ diễn ra giao dịch, chữ ký điện tử, mã số thẻ ….
Ngày nay Web service đã trở nên rất thông dụng. Nó được ứng dụng rất rộng
rãi trong các lĩnh vực của cuộc sống, trong Công nghệ thông tin nói chung và trong
thương mại điện tử nói riêng. Web service có thể được ứng dụng trong tất cả các
hoạt động của thương mại điện tử như: quảng cáo trực tuyến, sử dụng trong các
công cụ tìm kiếm, ứng dụng trong giao dịch mua bán hàng trực tuyến và trong dịch
vụ thanh toán. Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
2.3 Nền tảng của thương mại điện tử:____________________________________ 31
2.3.1 Mạng viễn thông và Internet:______________________________________ 31
2.3.2 Các dịch vụ trên Internet:_________________________________________ 38
2.3.3 Các nhà cung cấp dịch vụ: ________________________________________ 41
2.3.4 Các công nghệ hỗ trợ TMĐT: _____________________________________ 43
2.4 Ứng dụng của thương mại điện tử: ___________________________________ 45
2.4.1 Các cấp độ ứng dụng TMĐT: _____________________________________ 45
2.4.2 Các hình thức chủ yếu của TMĐT: _________________________________ 46
2.4.3 Công nghệ ứng dụng trong TMĐT: _________________________________ 48
2.4.4 Triển khai ứng dụng Web: ________________________________________ 51
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
6
2.4.5 Các bước triển khai TMĐT:_______________________________________ 53
Chương 3: Ứng dụng của Web service trong TMĐT. __________________________ 57
3.1 Ứng dụng trong quảng cáo trực tuyến: _______________________________ 57
3.1.1 Quảng cáo logo – banner, pop-up:__________________________________ 58
3.1.2 Quảng cáo bằng đường Text link___________________________________ 58
3.1.3 Quảng cáo tài trợ tại Google, Yahoo!, MSN, Altavista…________________ 58
3.2 Ứng dụng trong các công cụ tìm kiếm:________________________________ 59
3.3 Ứng dụng trong giao dịch, mua bán hàng trực tuyến ____________________ 61
3.4 Ứng dụng trong dịch vụ thanh toán (Payment gateway) _________________ 62
3.4.1 Payment gateway là gì? __________________________________________ 62
3.4.2 Payment Gateway hoạt động thế nào? _______________________________ 62
Kết luận ______________________________________________________________ 64
Phụ lục _______________________________________________________________ 65
người sử dụng Internet nói chung và người làm trong lĩnh vực Công nghệ thông tin nói
riêng. Vai trò của Web service và Thương mại điện tử cũng đang thể hiện ngày càng rõ
nét trong lĩnh vực Công nghệ thông tin hiện nay. Nhưng việc tìm hiểu các khái niệm, đặc
điểm, chức năng, cách xây dựng web service và ứng dụng trong thương mại điện tử thì
chưa nhiều. Có thể nói đây là một đề tài khá mới, nó cũng mang tính cập nhật, thực tiễn
và có khả năng ứng dụng cao. Vì vậy em đã mạnh dạn chọn đề tài này cho bài luận văn
của mình.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Việc tìm hiểu và đưa ra được một tài liệu tổng hợp về những khái niệm, chức năng,
cách xây dựng, triển khai web service và ứng dụng trong thương mại điện tử là một việc
cần thiết và mang tính ứng dụng cao. Theo đó, mang lại một cái nhìn tổng quát về khái
niệm thương mại điện tử, khái niệm web service và ứng dụng vào thương mại điện tử nói
riêng. Dựa vào tài liệu này, cũng có thể giúp xây dựng một ứng dụng web service cho
thương mại điện tử và đưa vào ứng dụng trong thực tế.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tri thức có sẵn và nguồn tài liệu phong phú trên mạng, dưới sự hướng dẫn
chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo là các PGS, TS, ThS; đề tài nghiên cứu, tìm hiểu về
Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử. Từ đó có thể tổng hợp thành một tài
liệu chuẩn, thu được những kiến thức mới và có thể xây dựng một sản phẩm Demo về
ứng dụng của Web service trong thương mại điện tử đơn giản có thể hoạt động được…
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Web service, Thương mại điện tử; các nền tảng, công nghệ liên quan liên quan đến
web service và thương mại điện tử.
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
9Chương 1: Tổng quan về Web service
1.1 Web service là gì?
1.1.1 Khái niệm Web service:
Theo định nghĩa của W3C (World Wide Web Consortium), dịch vụ Web là một hệ
thống phần mềm được thiết kế để hỗ trợ khả năng tương tác giữa các ứng dụng trên các
máy tính khác nhau thông qua mạng Internet, giao diện chung và sự gắn kết của nó được
mô tả bằng XML. Dịch vụ Web là tài nguyên phần mềm có thể xác định bằng địa chỉ
URL, thực hiện các chức năng và đưa ra các thông tin người dùng yêu cầu. Một dịch vụ
Web được tạo nên bằng cách lấy các chức năng và đóng gói chúng sao cho các ứng dụng
khác dễ dàng nhìn thấy và có thể truy cập đến những dịch vụ mà nó thực hiện, đồng thời
có thể yêu cầu thông tin từ dịch vụ Web khác. Nó bao gồm các mô đun độc lập cho hoạt
động của khách hàng và doanh nghiệp và bản thân nó được thực thi trên server.
Hình 1: Mô tả tổng quan Web service
Trước hết, có thể nói rằng ứng dụng cơ bản của Dịch vụ Web là tích hợp các hệ
thống và là một trong những hoạt động chính khi phát triển hệ thống. Trong hệ thống này,
các ứng dụng cần được tích hợp với cơ sở dữ liệu (CSDL) và các ứng dụng khác, người
sử dụng sẽ giao tiếp với CSDL để tiến hành phân tích và lấy dữ liệu. Trong thời gian gần
dụng và tích hợp dịch vụ Web là khá rộng lớn như dịch vụ chọn lọc và phân loại tin tức
(hệ thống thư viện có kết nối đến web portal để tìm kiếm các thông tin cần thiết); ứng
dụng cho các dịch vụ du lịch (cung cấp giá vé, thông tin về địa điểm…), các đại lý bán
hàng qua mạng, thông tin thương mại như giá cả, tỷ giá hối đoái, đấu giá qua mạng…hay
dịch vụ giao dịch trực tuyến (cho cả B2B và B2C) như đặt vé máy bay, thông tin thuê
xe…Các ứng dụng có tích hợp dịch vụ Web đã không còn là xa lạ, đặc biệt trong điều
kiện thương mại điện tử đang bùng nổ và phát triển không ngừng cùng với sự lớn mạnh
của Internet. Bất kì một lĩnh vực nào trong cuộc sống cũng có thể tích hợp với dịch vụ
Web, đây là cách thức kinh doanh và làm việc có hiệu quả bởi thời đại ngày nay là thời
đại của truyền thông và trao đổi thông tin qua mạng. Do vậy, việc phát triển và tích hợp
các ứng dụng với dịch vụ Web đang được quan tâm phát triển là điều hoàn toàn dễ hiểu.
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
111.2 Nền tảng của Web service:
Dịch vụ Web cũng có thể được nói một cách khác là các khối cơ bản được xây dựng
để di chuyển trong hệ thống máy tính phân tán trên Internet. Các chuẩn mở và việc tập
trung vào giao tiếp và làm việc cộng tác giữa con người và các ứng dụng đã tạo nên một
môi trường nơi mà Web service đang trở thành nền tảng cho việc tích hợp ứng dụng. Các
ứng dụng được xây dựng sử dụng các Web service các loại từ nhiều nguồn khác nhau làm
việc cùng với nhau bất kể là chúng ở đâu hoặc chúng đã được triển khai như thế nào.
Có thể có các định nghĩa khác nhau về Web service khi các công ty xây dựng chúng,
nhưng hầu hết tất cả các định nghĩa đều có chung các điểm sau:
1. Web service đưa ra chức năng hữu dụng cho người sử dụng Web thông qua một
giao thức chuẩn Web. Trong hầu hết các trường hợp, giao thức được sử dụng đó là
trong MS Excel tổng kết toàn bộ bức tranh tài chính – chứng khoán, các tài khoản ngân
hàng, các khoản vay nợ Nếu các thông tin này sẵn sàng thông qua các dịch vụ WS,
Excel có thể cập nhật nó liên tục. Một vài thông tin trong số này có thể xem tự do và một
vài cần phải thông qua việc thuê bao dịch vụ. Hầu hết các thông tin này là sẵn có trên
Internet, nhưng WS sẽ làm cho việc truy cập chúng dễ dàng hơn và đáng tin cậy hơn.
Việc trình bày các ứng dụng đang có như các dịch vụ Web service cho phép người
sử dụng xây dựng các ứng dụng có các tính năng mạnh hơn thông qua việc sử dụng Web
service như những block được xây sẵn. Ví dụ, người sử dụng có thể phát triển một ứng
dụng mua bán để tự động lấy các thông tin về giá cả từ nhiều nhà cung cấp khác nhau,
cho phép người dùng chọn một nhà cung cấp, chuyển đơn hàng và sau đó theo dõi việc
chuyển hàng cho tới khi nhận được hàng. Ứng dụng của nhà cung cấp, khi trình bày các
dịch vụ của họ trên Web, có thể quay ra sử dụng các dịch vụ Web service để kiểm tra tín
dụng của khách hàng, lấy tiền từ tài khoản của khách hàng và thiết lập việc chuyển hàng
với một công ty vận tải.
Trong tương lai, sẽ có những dịch vụ Web service hỗ trợ các ứng dụng sử dụng Web
để làm một điều gì đó mà hiện nay ta không thể thực hiện được. Ví dụ, một trong các dịch
vụ mà WS có thể thực hiện là dịch vụ đặt lịch. Nếu bác sĩ nha khoa và kỹ thuật viên cơ
khí trình bày lịch của họ thông qua dịch vụ Web service này, ta có thể đặt trước lịch cho
các cuộc gặp với họ một cách trực tuyến hoặc họ có thể đặt thời gian cho cuộc gặp để
chữa răng hay bảo hành thiết bị trực tiếp trên lịch của ta nếu ta muốn. Hãy tưởng tượng, ta
có thể hình dung hàng trăm ứng dụng có thể được xây dựng một khi ta có khả năng lập
trình trên Web.
1.2.1 XML – eXtensible Markup Language
Là một chuẩn mở do W3C đưa ra cho cách thức mô tả dữ liệu, nó được sử dụng để
định nghĩa các thành phần dữ liệu trên trang web và cho những tài liệu B2B. Về hình
thức, XML hoàn toàn có cấu trúc thẻ giống như ngôn ngữ HTML nhưng HTML định
nghĩa thành phần được hiển thị như thế nào thì XML lại định nghĩa những thành phần đó
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử
chức năng chính xác có trong WSDL.
1.2.3 Universal Description, Discovery, and Integration (UDDI)
Để có thể sử dụng các dịch vụ, trước tiên client phải tìm dịch vụ, ghi nhận thông tin
về cách sử dụng và biết được đối tượng nào cung cấp dịch vụ. UDDI định nghĩa một số
thành phần cho biết các thông tin này, cho phép các client truy tìm và nhận những thông
tin được yêu cầu khi sử dụng dịch vụ Web.
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
14
Cấu trúc UDDI:
Trang trắng - White pages: chứa thông tin liên hệ và các định dạng chính yếu
của dịch vụ Web, chẳng hạn tên giao dịch, địa chỉ, thông tin nhận dạng… Những
thông tin này cho phép các đối tượng khác xác định được dịch vụ.
Trang vàng - Yellow pages: chứa thông tin mô tả dịch vụ Web theo những loại
khác nhau. Những thông tin này cho phép các đối tượng thấy được dịch vụ Web theo
từng loại với nó.
Trang xanh - Green pages: chứa thông tin kỹ thuật mô tả các hành vi và các chức
năng của dịch vụ Web.
Loại dịch vụ - tModel: chứa các thông tin về loại dịch vụ được sử dụng. Những
thông tin về dịch vụ Web được sử dụng và công bố lên mạng sử dụng giao thức này.
Nó sẽ kích hoạt các ứng dụng để tìm kiếm thông tin của dịch vụ Web khác nhằm xác
định xem dịch vụ nào sẽ cần đến nó.
1.2.4 SOAP - Simple Object Access Protocol
Chúng ta đã hiểu cơ bản dịch vụ Web như thế nào nhưng vẫn còn một vấn đề khá
quá trình xử lý thông điệp.
Một SOAP đơn giản trong body sẽ lưu các thông tin về tên thông điệp, tham chiếu
tới một thể hiện của dịch vụ, một hoặc nhiều tham số. Có 3 kiểu thông báo sẽ được đưa ra
khi truyền thông tin: request message(tham số gọi thực thi một thông điệp), respond
message (các tham số trả về, được sử dụng khi yêu cầu được đáp ứng) và cuối cùng là
fault message (thông báo tình trạng lỗi).
Kiểu truyền thông: Có 2 kiểu truyền thông:
Remote procedure call (RPC): cho phép gọi hàm hoặc thủ tục qua mạng. Kiểu
này được khai thác bởi nhiều dịch vụ Web.
Document: được biết đến như kiểu hướng thông điệp, nó cung cấp giao tiếp ở
mức trừu tượng thấp, khó hiểu và yêu cầu lập trình viên mất công sức hơn.
Hai kiểu truyền thông này cung cấp các định dạng thông điệp, tham số, lời gọi đến
các API khác nhau nên việc sử dụng chúng tùy thuộc vào thời gian và sự phù hợp với
dịch vụ Web cần xây dựng.
Cấu trúc dữ liệu:
Cung cấp những định dạng và khái niệm cơ bản giống như trong các ngôn ngữ lập
trình khác như kiểu dữ liệu (int, string, date…) hay những kiều phức tạp hơn như struct,
array, vector… Định nghĩa cấu trúc dữ liệu SOAP được đặt trong namespace SOAP-
ENC.
Mã hóa:
Giả sử service requester và service provider được phát triển trong Java, khi đó mã
hóa SOAP là làm thế nào chuyển đổi từ cấu trúc dữ liệu Java sang SOAP XML và ngược
lại, bởi vì định dạng cho Web Service chính là XML. Bất kỳ một môi trường thực thi
SOAP nào cũng phải có một bảng chứa thông tin ánh xạ nhằm chuyển đổi từ ngôn ngữ
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
16
17
Mô tả dịch vụ: được sử dụng để miêu tả các giao diện chung cho một dịch vụ Web cụ
thể. WSDL thường được sử dụng cho mục đích này, nó là một ngôn ngữ mô tả giao tiếp
và thực thi dựa trên XML. Dịch vụ Web sẽ sử dụng ngôn ngữ này để truyền tham số và
các loại dữ liệu cho các thao tác và chức năng mà dịch vụ Web cung cấp.
Khám phá dịch vụ: tập trung dịch vụ vào trong một nơi được đăng ký, từ đó giúp
một dịch vụ Web có thể dễ dàng khám phá ra những dịch vụ nào đã có trên mạng, tốt hơn
trong việc tìm kiếm những dịch vụ khác để tương tác. Một dịch vụ Web cũng phải tiến
hành đăng ký để các dịch vụ khác có thể truy cập và giao tiếp. Hiện tại, UDDI API
thường được sử dụng để thực hiện công việc này.
Kiến trúc Web service được mô tả như hình vẽ sau:
Hình 3: Kiến trúc của Web service
Trong đó, tầng giao thức tương tác dịch vụ (Service Communication Protocol) với
công nghệ chuẩn là SOAP. SOAP là giao thức nằm giữa tầng vận chuyển và tầng mô tả
thông tin về dịch vụ, cho phép người dùng triệu gọi một dịch vụ từ xa thông qua một
thông điệp XML. Ngoài ra, để các dịch vụ có tính an toàn, toàn vẹn và bảo mật thông tin,
trong kiến trúc dịch vụ Web, chúng ta có thêm các tầng Policy, Security, Transaction,
Management.
1.3.2 Vấn đề an toàn cho Web service:
Dịch vụ Web liên kết và tương tác với các ứng dụng qua Internet, chính vì vậy bảo
mật là một vấn đề được quan tâm khi các công ty tiến tới kết hợp ứng dụng với một dịch
vụ Web. Việc đảm bảo an toàn cho dịch vụ Web là một vấn đề quan trọng, đặc biệt đối
với những dịch vụ liên quan đến trao đổi tiền tệ, thông tin từ thị trường chứng khoán hay
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
WS-security chỉ là một trong những lớp an toàn và bảo mật cho dịch vụ Web, vì vậy
cần một mô hình an toàn chung lớn hơn để có thể bao quát được các khía cạnh khác. Các
thành phần được thêm có thể là WS-Secure Conversation Describes,WS-Authentication
Describes,WS-Policy Describes hay WS-Trust Describes. Chúng sẽ thực hiện việc đảm
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
19
bảo an toàn hơn cho hệ thống khi trao đổi dữ liệu, mở và đóng các phiên làm việc cũng
như quản lý dữ liệu cần chứng thực và chính sách chứng thực.
1.4 Mô hình của ứng dụng Web service:
1.4.1 Xây dựng một Web service:
Có 4 giai đoạn chính để xây dựng một dịch vụ Web là xây dựng, triển khai, tiến
hành và quản lý, trong đó:
Giai đoạn xây dựng: bao gồm phát triển và chạy thử ứng dụng dịch vụ Web, xây
dựng các chức năng và định nghĩa dịch vụ. Có hai cách khác nhau để tiến hành trong giai
đoạn này, đó là Red-path- solod và Blue-path-dashed. Với Red- path-solod, chúng ta sẽ
xây dựng một dịch vụ Web mới từ trạng thái ban đầu hoặc với một dịch vụ đã có sẵn. Từ
đó, xây dựng định nghĩa service (WSDL) với các đối tượng, hàm chức năng mà chúng ta
mong muốn. Nếu theo cách Blue-path-dashed, dịch vụ Web sẽ được xây dựng từ đầu hoặc
từ một định nghĩa dịch vụ WSDL. Sử dụng WSDL này, xây dựng hoặc sửa đổi lại mã để
thực hiện các yêu cầu mong muốn trong dịch vụ Web.
Giai đoạn triển khai: công bố định nghĩa dịch vụ, xây dựng WSDL và triển khai mã
thực thi của dịch vụ Web. Triển khai dịch vụ Web tới một ứng dụng phía server, sau đó sẽ
SOAP server
6. Xây dựng ứng dụng phía client (chẳng hạn sử dụng Java) và sau đó gọi thực
hiện dịch vụ thông qua việc kết nối tới SOAP server.
Lựa chọn một ngôn ngữ, xây dựng các tiến trình nghiệp vụ và chúng ta bắt đầu tạo
nên một dịch vụ Web như ý muốn. Sau đó là cung cấp dịch vụ Web này trên Internet.
1.4.3 Tích hợp Web service theo chuẩn:
Để có thể thành công với dịch vụ Web chúng ta phải quan tâm đến khá nhiều vấn
đề, bao gồm việc triển khai, giám sát và tích hợp hệ thống. Doanh nghiệp không những
phải phát triển một ứng dụng dịch vụ Web mới mà còn phải tích hợp các ứng dụng nghiệp
vụ phụ trợ của họ trong kiến trúc Dịch vụ Web. Cùng với việc triển khai và tích hợp,
những nhà kinh doanh và những người sử dụng kỹ thuật cũng cần có khả năng giám sát,
triển khai toàn diện để đảm bảo hoạt động kinh doanh hiệu quả và tin cậy.
Giám sát (monitoring): Cần hỗ trợ ở cả mức công cụ và cơ sở hạ tầng để giám sát các
dịch vụ Web chạy như thế nào qua toàn bộ mạng, từ một chi nhánh con của một công ty
trên mạng tới các chi nhánh khác trong công ty hay giao tiếp với doanh nghiệp khác. Kết
hợp thông báo theo sự kiện với các lỗi trong luồng nghiệp vụ cho những người dùng
không có kinh nghiệm giám sát dịch vụ Web và các dịch vụ kế thừa khác.
Xác định đường đi dữ liệu (Data routing): Việc thiết lập đường đi của dữ liệu giữa
những thành phần của dịch vụ Web hướng tới tối đa hóa khả năng sử dụng lại. Nếu coi
một thành phần (component) là một đối tượng thì mỗi thể hiện (instance) của nó sẽ không
quan tâm đến các thể hiện khác của cùng thành phần đó. Những thể hiện của cùng một
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
21
thành phần có thể dễ dàng được sử dụng lại trong các ứng dụng phân tán khác bởi vì
chúng hoàn toàn độc lập và không phụ thuộc lẫn nhau.
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
22
Thúc đẩy đầu tư các hệ thống phần mềm đã tồn tại bằng cách cho phép các tiến
trình/chức năng nghiệp vụ đóng gói trong giao diện dịch vụ Web.
Tạo mối quan hệ tương tác lẫn nhau và mềm dẻo giữa các thành phần trong hệ thống,
dễ dàng cho việc phát triển các ứng dụng phân tán.
Thúc đẩy hệ thống tích hợp, giảm sự phức tạp của hệ thống, hạ giá thành hoạt động,
phát triển hệ thống nhanh và tương tác hiệu quả với hệ thống của các doanh nghiệp khác.
Nhược điểm:
Những thiệt hại lớn sẽ xảy ra vào khoảng thời gian chết của Dịch vụ Web, giao diện
không thay đổi, có thể lỗi nếu một máy khách không được nâng cấp, thiếu các giao thức
cho việc vận hành.
Có quá nhiều chuẩn cho dịch vụ Web khiến người dùng khó nắm bắt.
Phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề an toàn và bảo mật.
2.1.2 Thương mại điện tử theo nghĩa rộng:
TMĐT là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến các tổ chức hay
cá nhân.
TMĐT
là việc tiến hành hoạt động thương mại sử dụng các phương tiện điện tử và
công nghệ xử lý thông tin số hóa.
TMĐT bao gồm việc sản xuất, phân phối, marketing, bán hay giao hàng hóa và dịch vụ
bằng các phương tiện điện tử (UNCTAD - United Nations Conference on Trade And
Development , 1998).
TMĐT bao gồm các giao dịch thương mại thông qua các mạng viễn thông và sử dụng
các phương tiện điện tử. Bao gồm, TMĐT gián tiếp (trao đổi hàng hóa hữu hình) và
TMĐT trực tiếp (Trao đổi hàng hóa vô hình).
TMĐT
cũng được hiểu là hoạt động kinh doanh điện tử, bao gồm: mua bán điện tử
hàng hóa, dịch vụ, giao hàng trực tiếp trên mạng với các nội dung số hóa; chuyển tiền
điện tử - EFT (electronic fund transfer); mua bán cổ phần điện tử - EST (Electronic bill of
lading); đấu giá thương mại - Commercial auction; hợp tác thiết kế và sản xuất; tìm
kiếm
các nguồn lực trực tuyến; mua sắm trực tuyến - Online procurement; marketing trực
tiếp, dịch vụ khách hàng sau khi bán.
2.2 Bản chất, đặc trưng, lợi ích và hạn chế của thương mại điện tử
2.2.1 Bản chất của TMĐT:
TMĐT gồm toàn bộ các chu trình và các hoạt động kinh doanh của các tổ chức và cá
nhân được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử.
TMĐT phải được xây dựng trên một nền tảng vững chắc về cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ
sở hạ tầng về kinh tế, công nghệ, pháp lý và nguồn nhân lực).
2.2.2 Đặc trưng của TMĐT:
Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi
dữ liệu, còn đối với TMĐT thì mạng lưới thông tin chính là thị trường.
Các bên tiến hành trong giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và
Nghiên cứu về Web service và ứng dụng trong thương mại điện tử Đặng Minh Nhật – K50 CHTTT
25
không đòi hỏi phải biết nhau từ trước.
TMĐT được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thống nhất toàn cầu)
và nó tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Trong hoạt động giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó
có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng
phí hoạt động.