1
BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
BÁO CÁO PHÚC TRÌNH
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VÀ XỬ
LÝ VI PHẠM TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN
Ban chủ nhiệm Đề tài
Chủ nhiệm: TS. Đinh Thị Mai Phương
Thư ký: Ths. Trần Thị Quang Hồng
Hà Nội, tháng 05/2011
10. CN. Nguyễn Mai Trang, Viện Khoa học Pháp lý - Bộ
Tư pháp.
11. CN. Đỗ Thị Thúy Hằng, Viện Khoa học Pháp lý - Bộ
Tư pháp.
12. CN. Nguyễn Hữu Thắng, Viện Khoa học Pháp lý - Bộ
Tư pháp.
3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Công ty chứng khoán: CTCK
Công ty quản lý quỹ: CTQLQ
SGDCK: SGDCK
Tổ chức phát hành: TCPH
UBCKNN: UBCKNN
4
MỤC LỤC
***
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN KHI TIẾP CẬN CƠ CHẾ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP VÀ XỬ LÝ VI PHẠM TRÊN TTCK
1. Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
của Trung Quốc 44
1.1. Cơ chế xử lý vi phạm trên TTCK Trung Quốc 44
1.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK Trung Quốc 54
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
của Hoa Kỳ 57
2.1. Cơ chế xử lý vi phạm trên TTCK Hoa Kỳ 57
2.2. Cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK Hoa Kỳ 67
3. Cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trên TTCK
của Australia 70
CHƯƠNG III
THỰC TRẠNG CƠ CHẾ
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP, XỬ LÝ VI PHẠM TRÊN
TTCK VÀ VIỆC VẬN HÀNH CÁC CƠ CHẾ NÀY Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm
trên TTCK Việt Nam 80
1.1. Thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK
Việt Nam 80
1.1.1. Thực trạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh
chấp trên TTCK Việt Nam 80
1.1.2. Các thiết chế giải quyết tranh chấp trên TTCK và
phương thức sử dụng 86
6
1.1.3. Các điều kiện đảm bảo cơ chế giải quyết tranh chấp trên
TTCK Việt Nam 89
1.2. Yêu cầu hoàn thiện đối với cơ chế giải quyết tranh chấp
trên TTCK 137
1.3. Yêu cầu hoàn thiện đối với cơ chế xử lý vi phạm trên TTCK 139
2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp và xử
lý vi phạm trên TTCK Việt Nam hiện nay 140
2.1. Hoàn thiện pháp luật điều tiết TTCK 140
2.2. Hoàn thiện pháp luật về dân sự tạo cơ sở cho việc giải quyết
tranh chấp trên TTCK 143
2.3. Hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực của các thiết chế và
các điều kiện bảo đảm nhằm phát huy vai trò của cơ chế xử lý
vi phạm trên TTCK 143
2.4. Đa dạng hóa cơ chế giải quyết tranh chấp trên TTCK, nâng cao
năng lực của các thiết chế giải quyết tranh chấp trên TTCK nhằm
xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp đa dạng, hữu hiệu và
dễ tiếp cận 146
8
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong những năm qua đã có những
bước phát triển vượt bậc và thực sự trở thành một thị trường quan trọng trong
hệ thống các thị trường cơ bản của nền kinh tế, có tác động to lớn không chỉ
đến đời sống kinh tế mà cả đời sống xã hội. Vai trò của TTCK đối với nền
kinh tế có thể được thể hiện qua các thông số
1
sau đây:
Các chỉ ti
ợng công
ty chứng khoán
102 105
5.
Số lư
ợng công
ty quản lý quỹ
43 47
6.
Số lư
ợng công
ty đại chúng đã
đăng
ký
1.090 1.016
7
Số tài kho
ản
mở tại CTCK
550.000 730.000
8.
Hệ số P/E
9-10 15.8 1
trường mới nổi như giao dịch nội gián, lũng đoạn thị trường… gần như không
được phát hiện, xử lý. Điều này không chỉ cho thấy những bất ổn trong các
quy định về xử lý vi phạm mà còn cho thấy cơ chế thực thi giám sát chưa có
hiệu quả cao. Các tranh chấp trên thị trường chứng khoán được giải quyết tại
2
Thông tin trên Đài truyền hình Hà Nội- Chương trình Thương hiệu chứng khoán uy tín, ngày 11 tháng 10
năm 2010.
10
các cơ quan giải quyết tranh chấp chính thống là tòa án, trọng tài cũng rất ít
và thống kê cho thấy cho đến nay mới chỉ có một vài vụ tranh chấp về chứng
khoán được giải quyết tại toà án. Điều này, trên thực tế không thể hiện các
tranh chấp về chứng khoán là hiếm gặp (phần lớn các chuyên gia cho rằng
tranh chấp trên thị trường xảy ra tương đối nhiều nhưng chủ yếu được các bên
tự giải quyết hoặc chấp nhận chịu thiệt), song lại cho thấy các cơ chế giải
quyết chính thức hiện nay (chủ yếu là con đường toà án) chưa thực sự đáp
ứng được mong muốn của các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt là các nhà
đầu tư.
Trong bối cảnh thị trường còn sơ khai và đang có những tốc độ phát
triển nhanh chóng, việc định hình một cơ chế phù hợp để giải quyết những
vấn đề vốn được coi là mặt trái nhưng lại là tất yếu của quá trình tồn tại của
thị trường chứng khoán sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển
lành mạnh và vững chắc của thị trường. Thực tế và lý luận đều cho thấy
chứng khoán là một lĩnh vực có những đặc thù riêng và do vậy, những vi
phạm cũng như tranh chấp trong lĩnh vực này đòi hỏi phải có một cơ chế phù
hợp để giám sát, phát hiện, xử lý và giải quyết kịp thời, tránh những tác động
xấu ảnh hưởng tới thị trường và bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
các chủ thể tham gia thị trường.
Vấn đề pháp lý liên quan đến chứng khoán cũng như giải quyết tranh
bài viết đề cập đến các tranh chấp và vi phạm trên thị trường
4
. Các bài viết
này đã phần nào phản ánh được bức tranh đa dạng về các vi phạm và tranh
chấp trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam. Tuy nhiên, những bài viết này
chủ yếu mang tính thông tin, thiếu tính lý luận và những đề xuất phù hợp
mang tính chuyên môn cao. UBCKNN, với tư cách là cơ quan quản lý nhà
nước chuyên ngành về chứng khoán cũng đã tiến hành nhiều nghiên cứu khoa
học về chứng khoán nói chung và về việc giám sát, xử lý vi phạm trên thị
trường chứng khoán nói riêng. Trong số những nghiên cứu này có thể kể đến
Đề tài “Nhận diện vi phạm và hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm trên thị
trường chứng khoán”; “Giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra, giám sát
công ty chứng khoán” thực hiện năm 2003; Năm 2004 có Đề tài “Hợp tác
quốc tế trong phòng tránh, phát hiện và xử lý các giao dịch bất hợp pháp trên
4
Có thể lấy các ví dụ như “Cảnh giác với cổ phiếu rởm” trên báo Người lao động; Vụ kiện tranh chấp cổ
phiếu đầu tiên ở Đắc Lắc trên báo Công an nhân dân ngày 26/2/2008; Tranh chấp 19.300 cổ phiếu của Công
ty Cổ phần Âu Lạc trên Diễn đàn Doanh nghiệp ngày 8/10/2007, Tranh chấp về chuyển nhượng cổ phần, cổ
phiếu trong công ty cổ phần trên Diễn đàn Doanh nghiệp ngày
12
thị trường chứng khoán trong bối cảnh hội nhập”; “Giải pháp hoàn thiện hoạt
động thanh tra, giám sát các tổ chức niêm yết trên TTCKVN”; năm 2005 có
đề tài “Một số giải pháp ngăn ngừa hoạt động giao dịch nội gián trên thị
trường chứng khóan Việt Nam”; “Luật hình sự và việc xử lý vi phạm trong
lĩnh vực chứng khóan”; Năm 2007 có đề tài “Giải pháp tăng cường hoạt động
thanh tra đối với hành vi giao dịch nội bộ, thao túng thị trường”. Các nghiên
cứu này, nhìn chung mới tập trung vào vấn đề vi phạm và xử lý vi phạm,
trong khi lại thiếu vắng những nghiên cứu về tranh chấp và giải quyết tranh
quyết tranh chấp và cơ chế xử lý vi phạm hiện hành và so với các yêu cầu đặc
thù trong lĩnh vực chứng khoán;
- Nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế về việc xây dựng cơ chế giám
sát, phát hiện, xử lý vi phạm trên thị trường chứng khoán và các cơ chế giải
quyết tranh chấp và những bài học có thể áp dụng ở Việt Nam;
- Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế phù hợp để hoàn thiện hệ thống pháp
luật hiện hành về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng
khoán.
II. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Theo Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin năm 1999
thì “Cơ chế” là cách thức theo đó một quá trình thực hiện hoặc cách thức sắp
xếp, tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện (trang 464). Từ
điển Từ và ngữ Hán Việt – Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 2002, trang
C149 định nghĩa "Cơ chế là cách thức sắp xếp theo một trật tự nhất định".
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Giáo sư Hoàng Phê chủ
biên, Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2004 thì “Cơ chế là cách thức theo đó một
quá trình thực hiện”.
Trong lĩnh vực pháp luật, cách thức vận động của tất cả các quá trình sẽ
được định hình bởi một khuôn khổ đã định từ trước: đó chính là các quy định
pháp luật, dưới sự dẫn dắt của các chủ thể là những người thực thi, đồng thời
chịu sự tác động bởi các điều kiện nhất định như nguồn lực, phương tiện hay
14
còn gọi là các điều kiện đảm bảo. Tất cả các yếu tố này sẽ quyết định cách
thức, hay là cơ chế pháp lý của một quá trình.
Với ý nghĩa đó, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, cơ chế giải
quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán được hiểu là
hệ thống các thể chế (quy định pháp luật), các thiết chế (chủ thể) thực thi và
điều kiện đảm bảo để giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực
khoán, cơ quan quản lý v.v.); đặc thù của các tranh chấp này cũng như các
yêu cầu về giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán; vai trò
của từng chủ thế trong giải quyết các tranh chấp phát sinh.
2. Phân tích về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán và yêu
cầu đối với viêc giám sát, phát hiện, xử lý các vi phạm về chứng khoán (các
dạng hành vi vi phạm, vai trò của các chủ thể khác nhau trong việc giám sát,
phát hiện, xử lý vi phạm v.v.).
Phần thứ hai: Cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm trong lĩnh
vực chứng khoán và thực trạng ở Việt Nam
1. Các vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi
phạm và các bộ phận cấu thành của cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi
phạm.
2. Đánh giá thực trạng vi phạm và tranh chấp trong lĩnh vực chứng
khoán hiện nay ở Việt Nam.
3. Đánh giá thực trạng cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm
trong lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam, vai trò của cơ chế này trong việc
đảm bảo sự phát triển lành mạnh và bình ổn của thị trường (bao gồm thực
trạng giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm; thực trạng giải quyết tranh chấp;
các quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này, vai trò của các chủ thể và các
điều kiện đảm bảo sự vận hành của cơ chế)
16
4. Yêu cầu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm trong
lĩnh vực chứng khoán ở Việt Nam.
Phần thứ ba: Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh
chấp và xử lý vi phạm trong lĩnh vực chứng khoán.
Phần này sẽ phân tích về cơ chế giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm
trong lĩnh vực chứng khoán ở một số quốc gia nhằm tìm kiếm những cách tiếp cận
chung hoặc những mô hình thành công trong thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp
và xử lý vi phạm về chứng khoán. Các quốc gia được lựa chọn để nghiên cứu
lợi nhuận hay làm cho số tiền của họ bị giảm giá trị. Phần đông công chúng
không thể thành thạo trong việc phân tích mức độ rủi ro của mỗi loại chứng
khoán để quyết định xem mua loại nào. Vì lợi ích thu được từ các chứng
khoán này nhiều khi còn phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp
trong tương lai. Do vậy, không phải ai cũng xét đoán được chính xác khả
năng và mức độ rủi ro của nó.
Mặt khác, bản thân chứng chỉ chứng khoán không hề có công năng, nó
chỉ là một chứng thư mà nhìn vào nó người mua không có được một thông tin
gì ngoài việc đảm bảo cho họ có một khoản lợi ích nằm ở đâu đó. Chính vì
vậy, người ta có thể lợi dụng sự thiếu thông tin của họ để tống cho họ những
thứ “hàng” ế ẩm sau khi đã dùng những lời lẽ văn hoa để làm cho họ tin rằng
đó là hàng tốt. Đó là những lý do để khẳng định chứng khoán là một loại hàng
hoá đặc biệt và TTCK là một thị trường đặc biệt. Xem xét hoạt động của thị
trường này càng khẳng định thêm điều đó.
18
Người bán trên thị trường này là người có dư thừa tiền đem tiền
nhượng đi nhưng không phải với tư cách là tiền mà nhượng đi với tư cách là
vốn, nghĩa là một việc nhượng vốn đi với tư cách là hàng hoá nhằm thu được
khoản tiền lãi nhất định. Còn đối với người mua, cái mà họ cần cũng chính là
vốn để phát triển và mở rộng kinh doanh.
Thông thường, trong khi bán, cái mà người bán thực tế nhượng đi là giá
trị sử dụng của hàng hoá. Trong TTCK, cái mà người bán nhượng đi cũng
chính là quyền sử dụng khoản tiền đó với tư cách sử dụng vốn và nhờ vào
việc sử dụng số vốn đó, người mua thu được số lợi nhuận lớn hơn số lợi tức
phải trả cho người bán. Như vậy, có thể nói rằng, thực chất đối tượng mua
bán trên TTCK là mua bán quyền sử dụng vốn.
Giá cả của hàng hoá đặc biệt đó trên TTCK chính là số lợi tức mà
người phát hành trả cho người mua. Tuỳ theo hình thức cụ thể mà giá cả của
hàng hoá đó được thể hiện dưới hình thức lợi tức trái phiếu hoặc lợi tức cổ
tài chính phi ngân hàng, quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm, thậm chí cả các công ty,
các ngân hàng thương mại… Căn cứ vào quy mô, mức độ tham gia thị trường
và năng lực tham gia thị trường, nhóm này thường được chia thành nhà đầu tư
thông thường và các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp.
c) Các nhà môi giới và các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng khoán khác
Đây là những tổ chức có chức năng cung cấp dịch vụ trên TTCK, được
coi là những nhà trung gian thị trường, trong đó có hai nhà cung cấp dịch vụ
chính là các CTCK và CTQLQ.
d) Người tổ chức thị trường
Với mục đích tạo ra một địa điểm giao dịch ổn định và có được các
phương tiện điều hành có hiệu quả, các CTCK (tổ chức của những người kinh
doanh chứng khoán) thoả thuận với nhau để thành lập một công ty với chức
năng là phục vụ cho các hoạt động giao dịch chứng khoán. Nhiệm vụ của
công ty này là tìm địa điểm để đặt nơi giao dịch, mua sắm trang thiết bị phục
vụ giao dịch và tổ chức các giao dịch. Tên của các công ty này thường được
gọi là SGDCK. 20
đ) Người điều tiết quản lý thị trường
Đây là người ban hành các luật lệ cho hoạt động của thị trường, tổ chức
công tác giám sát, theo dõi mọi hoạt động của thị trường. Người hoạt động
với tư cách người điều hoà này chính là nhà nước – trong đó có những cơ
quan chuyên môn được nhà nước thành lập để thực hiện nhiệm vụ này. Chức
năng của nhà nước trên TTCK được thể hiện trên hai mặt: một mặt, đặt ra luật
lệ, tức là xác định xây dựng quy tắc cho trò chơi, mặt khác tổ chức kiểm tra
giám sát các hoạt động trên thị trường kịp thời xử lý mọi hành vi vi phạm.
1.3. Cấu trúc TTCK
Thị trường này có cơ chế phức tạp, làm môi giới cho sự biến động cung
cầu, cho phép thực hiện được giá thực của cổ phiếu, trái phiếu. Không có thị
trường này thì các chứng khoán không thể giữ được vai trò quan trọng trong
cơ chế thị trường hiện nay. Đây là thị trường thu hút sự chú ý của dân chúng,
những nhà đầu tư và tất cả những ai quan tâm đến thị trường đầy hấp dẫn và
sôi động này.
Điều khác nhau căn bản giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là
ở chỗ chứng khoán được đưa ra mua bán có phải là chứng khoán bắt đầu được
phát hành hay không. Đây không phải là sự khác nhau về hình thức mà là sự
khác nhau về nội dung, về mục đích của TTCK. Bởi lẽ, việc phát hành cố
phiếu hay trái phiếu ở thị trường sơ cấp là nhằm thu hút mọi nguồn vốn đầu tư
và tiết kiệm vào công cuộc phát triển kinh tế. Ở thị trường thứ cấp, dù việc
giao dịch rất nhộn nhịp, có hàng chục, hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỷ đôla
chứng khoán được mua đi, bán lại nhưng không có một đồng vốn nào được
huy động vào đầu tư cả. Ở đây chỉ có những khoản lời từ chênh lệch giá của
những người mua bán chứng khoán.
Tuy có sự phân chia như vậy nhưng giữa thị trường sơ cấp và thị
trường thứ cấp có mối quan hệ mật thiết với nhau. Quan hệ giữa thị trường sơ
cấp và thị trường thứ cấp là quan hệ nội tại, trong đó thị trường sơ cấp là cơ
sở, là tiền đề; thị trường thứ cấp là động lực. Nếu không có thị trường sơ cấp
thì thị trường sơ cấp khó hoạt động trôi chảy, các chứng khoán sẽ rất khó
khăn trong việc phát hành, không ai muốn mua cổ phiếu hoặc trái phiếu vì
vốn của họ bị bất động, chứng khoán không dễ dàng chuyển hoá thành tiền tệ
khi người đầu tư có nhu cầu (nghĩa là không có khả năng thanh khoản).
22
ii) Xét về phương thức tổ chức và giao dịch:
TTCK bao gồm:
- TTCK tập trung: là thị trường ở đó việc giao dịch mua bán chứng
khoán được thực hiện thông qua SGDCK, tại sàn giao dịch. Đây là thị trường
1.4. Bối cảnh phát triển của TTCK Việt Nam
TTCK Việt Nam ra đời khá muộn so với các nước khác trên thế giới.
Sự ra đời của TTCK Việt Nam được đánh dấu bằng việc đưa vào vận hành
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000
và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000. Nghĩa là cho đến
năm 2010, TTCK nước ta mới được 10 năm tuổi. Năm 2005, trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội được khai trương; năm 2009 chính thức ra mắt thị
trường UpCoM. Đây là những mốc rất quan trọng trong quá trình hình thành
và phát triển của TTCK ở Việt Nam.
Theo thống kê từ Ủy ban chứng khoán Nhà nước, quy mô TTCK Việt
Nam năm 2010 được thể hiện qua các con số cụ thể như sau:
- Số mã chứng khoán niêm yết là 631 mã
- Giá trị vốn hóa thị trường trên 700.000 tỷ VND (40% GDP)
- Số lượng công ty Đại chúng là 997 công ty
- Số lượng công ty chứng khoán là 105 công ty
- Số lượng công ty quản lý quỹ là 47 công ty (trong đó có 23 Quỹ đầu
tư chứng khoán được lập)
- Số lượng văn phòng đại diện là 31 văn phòng
- Số tài khoản giao dịch là trên 1 triệu tài khoản (trong đó có trên 4.000
tài khoản của tổ chức)
TTCK nước ta đã đạt được những kết quả nhất định thời gian qua, tuy
nhiên vẫn đang phát triển ở những bước đi đầu tiên. Do đó, TTCK nước ta
chưa có nhiều kinh nghiệm trong điều hành, quản lý thị trường cũng như
không tránh khỏi những vấp váp. Tuy nhiên, tiến hành trong điều kiện nhiều
nước đã phát triển TTCK ở mức độ rất cao, các TTCK ở các nước phát triển
là những đối tượng cần thiết cho phép chúng ta học hỏi và rút ra được những
bài học kinh nghiệm. Từ đó, tìm hiểu được những mặt mạnh, mặt yếu của các
24
mô hình, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra con đường đi thích hợp, nhanh
mọi người không phân biết lượng vốn ít hay nhiều cũng như kinh nghiệm,
kiến thức đầu tư tốt hay không. Sự mở rộng kênh huy động vốn cũng như tạo
thêm cơ hội đầu tư này đồng thời cũng tạo ra một nhóm người yếu thế hơn
trên TTCK, đó chính là công chúng đầu tư. Đây là những người có lượng vốn
nhỏ, thường là từ nguồn tích lũy bằng hình thức tiết kiệm, có kiến thức và
kinh nghiệm đầu tư hạn chế (do không có nhiều thời gian dành cho hoạt động
này) và dễ bị tác động bởi tâm lý đám đông, bị dẫn dắt bởi xu hướng hay bị
tác động bởi các tin đồn, không đủ khả năng để nhận định, đánh giá các thông
tin khác nhau trên thị trường để có thể tự mình ra quyết định một cách xác
đáng. Chính vì vậy, họ rất dễ bị dẫn dắt, thậm chí là bị đánh lừa bởi các tin
đồn, bởi các động thái tạo xu hướng ảo trên thị trường bởi các nhà đầu tư
chuyên nghiệp và có ý định trục lợi từ sự thiếu thông tin và thiếu kiến thức
của công chúng đầu tư. Chính vì vậy, đây cũng là mảnh đất tiểm ẩn rất nhiều
khả năng xảy ra các tranh chấp và vi phạm.
2.1. Nhận diện các tranh chấp và vi phạm trên TTCK
2.1.1. Nhận diện tranh chấp trên TTCK
Các tranh chấp thường phát sinh trên TTCK khi một hoặc một số chủ
thể cho rằng chủ thể cùng tham gia quan hệ về chứng khoán đã có hành vi
xâm phạm lợi ích của mình. Tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán
có thể xuất phát từ hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán,
xâm phạm trật tự quản lý nhà nước về chứng khoán hoặc có thể không xuất
phát từ hành vi vi phạm hành chính hay hình sự mà chỉ là những bất đồng về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên, khi một hoặc các bên cho rằng bên kia đã
không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ để đảm bảo quyền lợi của bên còn lại trong
quan hệ. Căn cứ vào chủ thể, tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán
có thể bao gồm các loại sau:
- Tranh chấp giữa các nhà đầu tư: với số lượng đông đảo trên thị
trường và thường xuyên thực hiện các giao dịch mua và bán chứng khoán với