Th.S.Nguyn Thanh Hi
1
THANH TRA CHNH PH
TRNG CN B THANH TRA
báo cáo Tổng thuật
TI KHOA HC CP B
nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra
trong các đơn vị sự nghiệp công
- Ch nhim ti: ThS.NGUYN THANH HI
Hiu trng Trng Cỏn b Thanh tra
- Th ký ti: DNG HNG THNH
Cc Chng tham nhng - Thanh tra Chớnh ph
7893
H Ni, 6 - 2009
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
2
I.2.1.2 Trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công trong công tác thanh tra,
kiểm tra trong đơn vị 41
I.2.1.3 Những dạng sai phạm chủ yếu trong các loại hình đơn vị sự nghiệp công 43
I.2.1.4.Nội dung thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công 43
I.2.1.5. Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công 45
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
3
I.2.1.6. Mối quan hệ giữa công tác thanh tra, kiểm tra của đơn vị sự nghiệp công với hoạt
động thanh tra của các tổ chức thanh tra nhà nước 47
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA
TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG 49
II.1. Các quy định của pháp luật về đơn vị sự nghiệp công liên quan đến công tác thanh
tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công 49
II.2 Khái quát thực trạng chung về công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra
trong các đơn vị sự nghiệp công 52
II.2.1. Tổ chức và hoạt động thanh tra kiểm tra đơn vị sự nghiệp công những năm qua 52
II.2.1.1. Thanh tra thủ trưởng 52
II.2.1.1. Hoạt động thanh tra, kiểm tra của đơn vị chủ quản 54
II.2.1.2. Thanh tra nhân dân ở đơn vị sự nghiệp công 58
II.2.2 Những khó khăn vướng mắc trong hoạt động thanh tra, kiểm tra các đơn vị sự nghiệp
công 61
II.2.2.1. Những khó khăn vướng mắc trong hoạt động thanh tra thủ trưởng trong các đơn
vị sự nghiệp công 61
II.2.2.2 Những vướng mắc khó khăn trong công tác thanh tra đơn vị sự nghiệp công 62
II.2.2.3. Hạn chế, vướng mắc trong sự phối kết hợp giữa thanh tra, kiểm tra nội bộ với
hoạt động của thanh tra nhân dân trong đơn vị sự nghiệp công 66
II.3.1. Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động của Đài Truyền hình Việt Nam 67
II.3.1.1. Khái quát về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Đài truyền hình
Việt Nam 67
II.3.1.2. Đặc thù của công tác thanh tra, kiểm tra của Đài THVN 68
nghiệp công 94
III.1.2. Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra nội bộ trong đơn vị
sự nghiệp công 96
III.1.3. Phương hướng về xây dựng mô hình tổ chức thanh tra nội bộ trong đơn vị sự nghiệp
công phù hợp với yêu cầu xã hội hóa các dịch vụ công 97
III.1.4. Tăng cường tính tự chủ, độc lập trong hoạt động thanh tra thủ trưởng 98
III.1.5. Đối mới phương thức tiến hành thanh tra 98
III.1.6. Tăng cường tính phối hợp 99
III.1.7. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy trình về thanh tra nội bộ trong các đơn vị
sự nghiệp 100
III.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra
trong các đơn vị sự nghiệp công 101
III.2.1. Nâng cao nhận thức về thanh tra nội bộ như một công cụ hữu hiệu góp phần phục
vụ công tác quản lý của thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công 101
III.2.2. Xây dựng mô hình tổ chức thanh tra nội bộ phù hợp với yêu cầu quản lý theo xu
hướ
ng tăng cường vai trò tự chủ của đơn vị sự nghiệp công 102
III.2.3. Tăng cường phối kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thanh tra,kiểm tra
trong đơn vị sự nghiệp công 104
III.2.4. Tăng cường năng lực cán bộ đảm nhiệm công tác thanh tra nội bộ trong đơn vị sự
nghiệp công 105
III.2.5. Hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động thanh tra
nội bộ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
5
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài khoa học cấp bộ: “Nâng cao hiệu quả hoạt
2 Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia HVHC
3 Ngân sách nhà nước NSNN
4 Thanh tra Nhà nước TTNN
5 Chính phủ CP
6 Hội đồng nhân dân HĐND
7 Thanh tra nhân dân TTND
8 Hành chính nhà nước HCNN
9 Hành chính sự nghiệp HCSN
10 Truyền hình Việt Nam THVN
11 Nghị định số 43/2006/ NĐ-CP NĐ 43, Nghị định 43
12 Nghị định số 10/2002/ NĐ-CP NĐ 10, Nghị định 10
13 Khiếu nại, tố cáo Khiếu nại Tố cáo
14 Nghị định NĐ
15 Thông tư TT
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
7
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công tác thanh tra, kiểm tra là một khâu không thể thiếu trong mọi hoạt động
quản lý, kể cả quản lý mang tính chất nhà nước hay quản lý có tính chất nội bộ
trong các cơ quan, tổ chức đơn vị, trong khu vực công và cả khu vực tư. Hoạt động
thanh tra ở mỗi thời kỳ khác nhau, đối với mỗi đối tượng khác nhau có những đặ
c
điểm riêng đòi hỏi hoạt động này phải được tiến hành theo những trình tự, thủ tục
và phương pháp thích hợp. Hiện nay theo quy định của Luật thanh tra đã phân chia
thành hai loại hình là Thanh tra hành chính và Thanh tra chuyên ngành.
Tuy nhiên sau khi Luật thanh tra năm 2004 có hiệu lực thì sự phân chia này
thực chất cũng chỉ mang tính tương đối và đều do các cơ quan thanh tra nhà nước
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này để từ đó đưa ra các giải pháp và kiến nghị với
các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản thích hợp điều chỉnh vấn đề này.
Có th
ể thấy vấn đề này trước mắt là là một trong những nội dung cần sửa đổi, bổ
sung của Luật thanh tra. Đó là lý do của việc nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả
hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công nói chung và kinh
nghiệm tổ chức và hoạt động của bộ phận này đ
ã được nhiều nhà khoa học quan
tâm nghiên cứu, có thể kể ra một số công trình và bài viết sau đây:
- Văn Tiến Mai: Những quy định pháp luật về thanh tra chuyên ngành trong
một số lĩnh vực – các vướng mắc và giải pháp(Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh
tra 1999 -2002, tập 5);
- Nguyễn Hữu Lượng: Suy nghĩ về thanh tra Việt Nam và đổi mới hệ thống
thanh tra giáo dục (Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 5);
- Nguyễn Đức Doanh: Thanh tra Y t
ế những mặt được và một số vấn đề cần
nghiên cứu(Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 5);
- Phạm Văn Khanh: Một số vấn đề về phương án lựa chọn mô hình tổ chức,
hoạt động thanh tra (Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 6);
- Lê Văn Võ: Thanh tra nhân dân trong các doanh nghiệp và cơ quan hành
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
9
chính sự nghiệp (Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 3);
- Nguyễn Bá Thu: Thanh tra nhân dân trong nhà trường – Thực trạng và giải
pháp(Kỷ yếu nghiên cứu khoa học thanh tra 1999 -2002, tập 3);
- Đồng Quang Hưng: Những vấn đề đặt ra từ thực tế triển khai thực hiện
Luật thanh tra(Tạp Chí Thanh tra số 10/2007);
- Làm rõ một số khái niệm về sự nghiệp công, thanh tra, kiểm tra tại đơn vị
sự nghiệp công tại Việt Nam;
- Nghiên c
ứu một số mô hình hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị
sự nghiệp công;
- Thực trạng chung của hoạt động động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị
sự nghiệp công trong thời gian vừa qua;
- Đánh giá thực trạng tổ chức và cơ sở pháp lý của hoạt động thanh tra trong
các đơn vị sự nghiệp công trong thời gian qua, từ đó tìm ra những nguyên nhân và
những giải pháp nhằm đổi mới tổ chứ
c và nâng cao hoạt động này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu mô hình một số khái niệm căn bản về đơn vị sự nghiệp công,
Những ưu điểm, hạn chế của một số quy chế pháp lý dành cho hoạt động thanh tra
trong các đơn vị này;
- Đề tài tập trung nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của hoạt
động thanh tra tại các đơn vị sự nghiệp công đặ
c thù như Đài truyền hình, các tổ
chức giáo dục
- Chỉ ra những điểm bất cập quá trình hoạt động thanh tra trong đơn vị sự
nghiệp công từ đó đề xuất các giải pháp trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm đã thực
hiện ở một số đơn vị để đưa ra mô hình, tổ chức, quy chế pháp lý cho hoạt động
này trong thời gian tới.
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
11
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp chung
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin về chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng các quan điểm
các đơn vị sự nghiệp công
2. Trách nhiệm của thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công trong công tác
thanh tra,kiểm tra đơn vị
3. Nội dung thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công
4. Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong đơn vị sự nghiệp công
5. Mối quan hệ giữa công tác thanh tra, kiểm tra của đơn vị sự nghiệp công với
hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra nhà nước
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA,
KIỂM TRA TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
I. Các quy định của pháp luật liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra trong các
đơn vị sự nghiệp công, những đặc thù và bất cập trong các quy định này
II. Khái quát thực trạng chung về tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các
đơn vị sự nghiệp công những năm qua
1.Tổ chức và hoạt động thanh tra kiểm tra đơn vị sự nghiệp công những năm
qua
2. Những khó khăn vướng mắc trong tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra
trong các đơn vị sự nghiệp công
III. Thực trạng về mô hình, tổ chức, hoạt động và một số vướng mắc, hạn chế
trong hoạt động thanh tra, kiểm tra tại một số đơn vị sự nghiệp công tạ
i Việt Nam
1. Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động đặc thù của Đài Truyền hình
Việt Nam
2. Công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động tại Học viện Hành chính Chính trị
Quốc gia
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
13
CHƯƠNG III. MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH
TRA, KIỂM TRA TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG
I.1.1 Khái niệm và phân loại các đơn vị sự nghiệp công hiện nay
I.1.1.1 Khái niệm
“Sự nghiệp” là một từ có nguồn gốc từ Trung qu
ốc. Theo nghĩa rộng, đó là
mục tiêu cao cả mà con người theo đuổi, ví dụ như: “vì sự nghiệp độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội”, hoặc là chiến tích trong một ngành, một lĩnh vực như trong
cụm từ “thân thế và sự nghiệp của ” hay “sự nghiệp văn học của Nguyễn Du”,
"sự nghiệp quân sự của Trần Quốc Tuấn" v.v
Theo nghĩa hẹp dùng trong ngành kinh tế, nh
ất là trong lĩnh vực ngân sách
và kế hoạch, từ “sự nghiệp” dùng để chỉ những hoạt động không tạo ra sản phẩm
vật chất những cần thiết để thỏa mãn nhu cầu xã hội và của cá nhân con người, ví
dụ như giáo dục, y tế, khoa học, văn hoá, xã hội , những hoạt động này thường
không lấy lợi nhuận làm mục tiêu nên thường do Nhà nước sử dụng ngân sách để
thực hi
ện. Do đó, trong ngân sách có phần chi phí dành cho “sự nghiệp”, trong kế
hoạch Nhà nước có lĩnh vực “sự nghiệp” bên cạnh lĩnh vực sản xuất kinh doanh và
lĩnh vực hành chính, hoặc nói cụ thể về “sự nghiệp kinh tế”, "sự nghiệp văn hoá
giáo dục", "sự nghiệp khoa học, điều tra cơ bản” v.v Các đơn vị sự nghiệp
(trường học,bệnh viện ) trước đây hoạt độ
ng không khác các đơn vị hành chính
bao nhiêu, cũng là những đơn vị dự toán, kế hoạch do cấp trên giao, nhân sự do cấp
trên quyết, kinh phí do cấp trên duyệt và chi, vì vậy mà hai từ sự nghiệp và hành
chính hay đi liền cùng nhau, nhiều khi còn gọi chung là “các đơn vị hành chính sự
nghiệp”.
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
15
Nhiều nhà nghiên cứu xem “sự nghiệp” là một từ được phát sinh từ nền kinh
tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, chủ yếu bao gồm: khoa học, giáo dục, văn hoá,
thành lập nhưng dùng tài sản nhà nước”. Như vậy, hiểu theo định nghĩa này thì có
3 yếu tố được coi là quan trọng trong khái niệm “sự nghiệp công”:
- Tổ chức phục vụ xã hội
- Hoạt động công ích
- Do nhà nước thành lập.
I.1.1.2. Khái niệm sự nghiệp và phục vụ
Theo quan niệm truyền thống trước đây, nhiều người cho rằng phải làm ra
sản phẩm vật chất mới gọi là sản xuấ
t, còn các hoạt động không tạo ra sản phẩm
vật chất nhưng thoả mãn những yêu cầu thiết yếu của xã hội được gọi là “phục vụ”;
những sản phẩm vô hình làm ra có thể gọi là “sản phẩm phục vụ”. Sản phẩm phục
vụ có thể bao gồm cả phục vụ sản xuất (như vận tải, viễn thông ), phục vụ đời
sống (như
ăn uống, du lịch ) và phục vụ phát triển (như giáo dục, y tế, khoa
học ), song cũng chưa bao trùm toàn bộ khu vực kinh tế thứ ba như khái niệm
“dịch vụ” hiện nay. Riêng trong các kế hoạch kinh tế quốc dân các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây đã đưa vào một “ngành phục vụ”, nhưng nội dung chủ yếu lại chỉ
nói về các nghề phục vụ đời sống (như
ăn uống, sửa chữa v.v ). Thời gian gần
đây, kinh tế và khoa học công nghệ thế giới phát triển rất nhanh, khu vực thứ ba
chiếm tỷ trọng ngày càng cao (ở các nước phát triển có thể chiếm tới 3/4 tổng sản
phẩm xã hội), sản phẩm phục vụ được coi là có giá trị sử dụng và giá trị trao đổi
như các hàng hoá khác; phạm vi sản xuất không còn giới hạn ở sản phẩm vậ
t chất
mà sản xuất được đánh giá ở giá trị gia tăng tạo ra, bao gồm cả hàng hoá vật chất
và hàng hoá dịch vụ. So sánh với “sự nghiệp”, phạm vi của “phục vụ” rộng hơn,
không bị bó hẹp trong hoạt động không vụ lợi và chủ yếu do nhà nước làm, đồng
thời cũng có thể không chỉ giới hạn ở một số ngành đơn lẻ như giáo dục, khoa học
v.v ; song theo cách hiểu thông thường, từ “phục vụ” vẫn được coi là có nghĩa hẹp
hơn từ “dịch vụ”, thậm chí nằm trong phạm vi của “dịch vụ”. Ở Trung quốc là nơi
giới hạn
ở một số đơn vị có chung các đặc điểm sau:
- Không tạo ra sản phẩm vật chất và cũng không tham gia trực tiếp vào việc
sản xuất của cải vật chất, nhưng thoả mãn trực tiếp nhu cầu thiết yếu về phát triển
của cả xã hội hoặc của các thành viên trong xã hội.
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
18
- Nhà nước, ngoài trách nhiệm bảo đảm an ninh, an toàn xã hội, tạo môi
trường thuận lợi cho hoạt động phát triển kinh tế, tổ chức quản lý xã hội theo luật
pháp và đạo đức xã hội, công bằng xã hội, còn có chức năng phục vụ xã hội, dùng
tiền thuế thu được để chi vào việc nâng cao dân trí, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, nâng
cao thẩm mỹ và đời sống tinh thần, nâng cao trình độ khoa học công nghệ của
người dân và củ
a đất nước…
- Phần lớn hoặc toàn bộ tài sản của đơn vị được coi là thuộc trách nhiệm Nhà
nước nên nguồn kinh phí hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước, có nghĩa là hoạt
động sự nghiệp là hoạt động “không vụ lợi, không đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng
đầu”
Trước kia khi các tổ chức sự nghiệp rất dễ bị hành chính hoá và ỷ lại vào sự
bao cấp của Nhà nước: kế ho
ạch do trên giao, tổ chức do trên quyết, chi tiêu do trên
duyệt, kết quả nộp cấp trên. Các ngành sự nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ công về
văn hoá xã hội, trong đó nổi bật là 4 ngành: giáo dục, y tế, khoa học, văn hoá thể
thao là những ngành sử dụng kinh phí lớn, liên quan đến nhiều người và cả xã hội,
cũng là nơi dễ tồn đọng tệ nạn quan liêu, tham nhũng, dễ tạo sự lạm dụ
ng công quỹ
nhà nước. Nếu tiến hành xây dựng hoàn chỉnh mô hình thanh tra, kiểm tra trong 4
ngành quan trọng trên thì kinh nghiệm có thể tham khảo để áp dụng cho các ngành
sự nghiệp công khác. Hơn nữa, trong quá trình đổi mới đang tiến hành, cải cách
lộ một số yếu tố cần được đi sâu hơn nữa, chính vì vậy đề
tài cũng sẽ không đi vào
hoạt động đặc thù của đơn vị sự nghiệp công có thu hay không có thu.
Muốn có một cái nhìn tương đối tổng hợp và về những biến đổi tích cực
cũng như những vấn đề tồn tại của hoạt động thanh tra, kiểm tra trong những ngành
sự nghiệp nêu trên, cần tiến hành khảo sát một cách nghiêm túc và khách quan của
chính hoạt động này trong thực tế.
I.1.1.3. Phân loại các đơ
n vị sự nghiệp công
Theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính
phủ quy định cụ thể các đơn vị sự nghiệp được chia làm 3 loại cơ bản là gồm: Đơn
vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
20
nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên và đơn vị sự
nghiệp không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp; mọi kinh phí hoạt động đều do
ngân sách nhà nước cung cấp.
* Để xác định được chính xác các loại đơn vị sự nghiệp cần dựa vào phương
thức xác định như sau:
Mức tự bảo đảm chi phí Tổng số nguồn thu sự nghiệp
hoạ
t động thường xuyên = x 100 %
của đơn vị (%) Tổng số chi hoạt động thường xuyên
Trong đó:
Tổng số nguồn thu sự nghiệp:
+ Nguồn thu sự nghiệp đối với đối với đơn vị bảo đảm toàn bộ và bảo đảm 1
phần gồm (a) Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí cho đơn vị sử dụng theo quy
định c
ủa nhà nước (b) Thu từ hoạt động dịch vụ phù với lĩnh vực chuyên môn và
theo quy định hiện hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao tài
sản cố định; sửa chữa tài sản cố định; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo
hình thức vay của cán bộ, viên chức; chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của
pháp luật và các khoản chi khác (nếu có);
-> Đối với các đơn vị NSNN bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động gồm (a)
Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhi
ệm vụ được cấp có thẩm quyền
giao; (b) Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí (nếu
có); (c) Chi cho các hoạt động dịch vụ (nếu có).
Tổng số nguồn thu sự nghiệp và tổng số chi hoạt động thường xuyên tính theo dự
toán thu, chi của năm đầu thời kỳ ổn định.
Căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên, đơn vị sự nghi
ệp
được phân loại như sau:
- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động, gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác
định theo công thức trên, bằng hoặc lớn hơn 100%.
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
22
+ Đơn vị sự nghiệp đã tự bảo đảm chi phí hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp,
từ nguồn ngân sách nhà nước do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đặt hàng.
- Đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Là đơn vị sự
nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác định theo công thức
trên, từ trên 10%
đến dưới 100%.
- Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động,
gồm:
+ Đơn vị sự nghiệp có mức tự bảo đảm chi phí hoạt động thường xuyên xác
định theo công thức trên, từ 10% trở xuống.
nhân sự khi thực hiện các nhiệm vụ. Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại
cho phù hợp với tính chất hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp. Việc phân loại này
không chỉ có ý nghĩa trong việc bảo đảm tự chủ về tài chính mà còn có ý nghĩa
trong việc phân c
ấp quản lý biên chế và sử dụng nhân sự của các đơn vị sự nghiệp.
Thông tư số 10/2004/TT- BNV ngày 19/02/2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực
hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP đã chỉ rõ việc phân cấp quản lý
viên chức của các đơn vị sự nghiệp thông qua việc phân loại các đơn vị sự nghiệp
như sau:
Đố
i với đơn vị sự nghiệp Loại 1 thì các Bộ, tỉnh phân cấp cho đơn vị sự
nghiệp đó được tự chủ việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức của đơn vị
mình;
- Đối với đơn vị sự nghiệp Loại 2 thì tuỳ theo mức độ tự chủ và tự bảo đảm
chi phí hoạt động thường xuyên của từng đơn v
ị sự nghiệp mà Bộ, tỉnh phân cấp
cho đơn vị sự nghiệp đó được tự chủ từng phần về tuyển dụng, sử dụng và quản lý
viên chức của đơn vị mình;
- Đối với đơn vị sự nghiệp Loại 3 thì bộ, tỉnh thực hiện quản lý việc tuyển
dụng, sử dụng và quản lý viên chức của đơn vị sự
nghiệp đó.
I.1.2. Vai trò của đơn vị sự nghiệp công trong quá trình đổi mới
Trong công cuộc phát triển và công nghiệp hoá của mỗi nước, khoa học công
nghệ và giáo dục đào tạo nói riêng và các lĩnh vực sự nghiệp nói chung bao giờ
Nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra trong các đơn vị sự nghiệp công
Th.S.Nguyễn Thanh Hải
24
cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Kinh nghiệm mấy thập kỷ qua của các nước
mới công nghiệp hoá (NIC) và các quốc gia khu vực Châu Á đã chứng minh rõ
điều đó. Cũng với ý nghĩa ấy, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
vùng, các miền và giữa các cộng đồng, nhóm dân cư. Có thể trong một thời gian,
khoảng chênh lệch về kinh tế chưa thể rút ngắn do cần phải tạo ra một số vùng phát
triển trọng điểm có đủ sức mạnh kinh tế để đẩy nhanh bước tăng trưởng chung,
song về mặt xã hội (giáo d
ục, y tế, văn hoá v.v ) cần giữ cho khoảng chênh lệch
không mở rộng và dần dần thu hẹp lại bằng các chính sách tài chính, chính sách
đầu tư thích hợp. Như vậy, với định hướng xã hội chủ nghĩa, các lĩnh vực giáo dục,
khoa học, y tế, văn hoá v.v , nói chung lại là các lĩnh vực về phát triển con người,
càng cần được đặt vào vị trí xứng đáng. Nói tóm lại, phát triển các lĩnh vực sự
nghiệ
p là điều kiện tiền đề, là nền tảng và động lực cho sự phát triển và công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đó cũng là động lực chủ yếu cho sự phát triển
bền vững, kết hợp công nghiệp hoá với hiện đại hoá, vừa công nghiệp hoá, vừa
từng bước phát triển kinh tế tri thức. Với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, những lĩnh vực
s
ự nghiệp trên gắn bó chặt chẽ với sự phát triển con người, càng cần được coi trọng
đúng mức. Nhấn mạnh như trên cũng là nhấn mạnh đến chất lượng của sự phát
triển, chất lượng sự sống của con người và xã hội.
I.1.3. Thực trạng về hoạt động của đơn vị sự nghiệp công
Hiện nay, chính sách đối với lĩnh vực sự nghi
ệp đã có nhiều thay đổi, nhà
nước cũng đã tạo các điều kiện tối đa trong hoạt động của nhóm đơn vị này tuy
nhiên kết quả thực sự còn chưa đáng kể, cụ thể:
- Hiệu quả và chất lượng các hoạt động sự nghiệp công nói chung còn thấp,
không theo kịp yêu cầu của công cuộc đổi mới nói riêng và của tiến trình phát triển
nói chung. Tuy về mặt số l
ượng có tiến bộ đáng kể (số trường học, số giường bệnh,
số thuốc cung cấp, số đề tài nghiên cứu hoàn thành, số người được hưởng thụ về
văn hoá v.v ), tuy nhiên nhìn về chất lượng nhiều vấn đề đáng quan ngại, đơn cử
như chất lượng giáo dục, đào tạo, chất lượng chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ, chất