Những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở việt nam - Pdf 13

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
__________________

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC
KX.02/06-10 BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI:

NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM
Mã số: KX.02.16/06-10 Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Chủ nhiệm: PGS.TS. Trần Đức Cường

8725

HÀ NỘI, 3 – 2011

1NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:


I.1. Một số khái niệm cơ bản …………………………………………………. 22
I.1.1. Xã hội …………………………………………………………………… 22
I.1.2. Phát triển xã hội …………………………………………………………. 26
I.1.3. Quản lý phát triển xã hội ……………………………………………… 29
I.1.4. Yếu tố ngoại sinh………………………………………………………… 33
I.1.5. Yếu tố nội sinh………………………………………………………… 34
I.2. Định dạng các yếu tố tác động
đến phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội …………………………………………………………….

36
I.2.1. Quan niệm và triết lý về phát triển bền vững, phát triển hiện đại hóa … 36
I.2.2. Tương tác giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội tới lĩnh vực xã hội của
phát triển ……………………………………………………………….
38
I.2.3. Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tác động đến phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội …………………………………………….
41
I.2.4. Những biến đổi của tình hình thế gi
ới và khu vực tác động tới phát triển
xã hội và quản lý phát triển xã hội của Việt Nam ……………………
49
I.2.5. Tác động của thể chế chính trị, chính sách và quản lý vì sự ổn định xã
hội, phát triển bền vững ………………………………………………
54
I.2.6. Tác động của kinh tế thị trường và tình trạng phát triển không đều về

3
kinh tế…………………………………………………………………
58

xã hội và quản lý phát triển xã hội……………………………………

148

4
II.3.4.1. Khái quát tình trạng phát triển không đều về kinh tế tác động đến
phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở
Việt Nam
149
II.3.4.2. Một số giải pháp hạn chế sự phát triển không đều về kinh tế trong
tiến trình đổi mới ở Việt Nam ………………………………………….
157
II.4. Yếu tố văn hóa trong phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội… 161
II.4.1. Hiện đại hóa, tính hiện
đại và tính hiện đại trong đa dạng ……………. 164
II.4.2. Tác động của các yếu tố truyền thống, thiết chế làng xã, di sản và
phong tục, tập quán, tâm lý, lối sống đến quản lý xã hội và phát triển
xã hội ở nước ta hiện nay……………………………………………….
167
II.4.2.1. Một số đặc điểm của thiết chế làng xã Việt Nam ……………………. 168
II.4.2.2. Một số nhân tố ảnh hưởng đến phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội …………………………………………………………………
176
II.4.3. Tiến tới quan niệm “văn hóa điều tiết sự phát triển” ………………… 184
II.5. Yếu tố con người và nguồn nhân lực trong phát triển xã hội và quản lý
phát triển xã hội………………………………………………………
186
II.5.1. Con người Việt Nam truyền thống 187
II.5.2. Con người Việt Nam đương đại 190
II.5.3. Đào tạo nguồn nhân lực 191

III.1.5.3. Xã hội dân sự ……………………………………………………… 232
III.1.5.4. Đổi mới chức năng xã hội của nhà nước …………………………… 233
III.1.5.5. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý xã hội như là nguồn
nhân lực quan trọng của xã hội …………………………………………
235
III.1.5.6. Các giải pháp cho việc xây dựng đội ng
ũ cán bộ quản lý xã hội …… 236
III.1.5.7. Công tác quy hoạch cán bộ quản lý xã hội …………………………. 238
III.1.5.8. Xây dựng và ban hành chuẩn mực của cán bộ quản lý xã hội ……… 240
III.2. Khả năng thích ứng của các dân tộc đa số và thiểu số trước tác động của
các yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam 242
III.2.1. Thực trạng …………………………………………………………… 242
III.2.1.1. Địa bàn cư trú của các dân tộc ……………………………………… 242
III.2.1.2. Những thay đổi về địa bàn c
ư trú …………………………………… 244

6
III.2.1.3. Nguyên nhân của những thay đổi địa bàn cư trú ……………………. 246
III.2.2. Xu hướng ……………………………………………………………… 264
III.3. Những ảnh hưởng và khả năng thích ứng đối với yếu tố tôn giáo, tín
ngưỡng của hệ thống quản lý và hệ thống xã hội ở Việt Nam trong
tiến trình đổi mới ………………………………………………………
269
III.3.1. Đặc trưng của sự chuyển biến đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt
Nam hiện nay và “tính vấn đề” của nó …………………………………
269
III.3.1.1. Sự biến đổi của “hệ thống tôn giáo”…………………………………. 269
III.3.1.2. Sự biến đổi trong sinh hoạt tôn giáo: xu hướng hiện đại hóa ………. 273
III.3.1.3. “Tính vấn đề” của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng ………………… 275
III.3.1.4. Đời sống tín ngưỡng, tâm linh ……………………………………… 280

Tài liệu tham khảo …………………………………………………………… 3348

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Phát triển xã hội là một quá trình mà trong đó, toàn thể loài người áp dụng
những công cụ hiện đại của khoa học và công nghệ vào những mục tiêu của mình,
qua những thời kỳ khác nhau và có tính không thể đảo ngược của quá trình đó.
Quản lý xã hội thể hiện như là tổng thể các cơ cấu tổ chức và các mối liên hệ
giữa các c
ơ cấu ấy để qua đó cho phép thực hiện sự tương tác bằng quản lý giữa các
cá nhân, các nhóm và các cộng đồng xã hội, các thiết chế chính trị, kinh tế… của xã
hội. Quản lý xã hội bao trùm mọi khách thể và quá trình xã hội mà trạng thái có ý
nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của hệ thống xã hội, đối với hoạt động sống
của con người.
Như vậy, phát triể
n xã hội và quản lý phát triển xã hội có mối liên hệ biện
chứng. Quản lý xã hội là để phát triển xã hội theo những mục tiêu được hoạch định.
Sự phát triển xã hội đề xuất những tình huống và yêu cầu để hoạt động quản lý phát
triển xã hội, phù hợp với xu hướng và mục tiêu của phát triển. Nhận thức mối quan
hệ này đang trở thành sự quan tâm phổ biến, và đang là v
ấn đề cấp bách đối với
những người hoạch định chính sách và giới nghiên cứu khoa học.
Bước sang thế kỷ XXI, việc chú ý đến phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội đã trở thành sự quan tâm của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Quyết định
số 153/2004/QĐ-TTg về định hướng chiến lược phát triển ở Việt Nam của Chính
phủ đã đề ra chủ trương, biện pháp th

sống quốc tế có nhiều biến đổi mạnh mẽ. Quá trình toàn cầu hoá, những thách thức
trong hội nhập và phát triển đòi hỏi hoạt động quản lý xã hội ở Việt Nam phải phù
hợ
p với xu thế chung của thời đại, của các quan hệ pháp lý kinh tế quốc tế. Các
quan sát vĩ mô cho biết vai trò của những tác nhân chủ thể chủ yếu như thị trường
quốc tế, đoàn thể toàn cầu, các tổ chức và chế độ quốc tế, những liên đoàn siêu quốc
gia, các phong trào tập thể, những cộng đồng xã hội ở các mức độ khác nhau đều có
những ảnh hưởng
đến các yếu tố nhỏ trong các khu vực. Các tương tác không chỉ
diễn ra một cách nhỏ lẻ ở các khu vực riêng biệt xét về phạm vi địa lý và các lĩnh
vực cụ thể xét trong phạm vi xã hội của từng quốc gia mà nó luôn có những quan hệ
trong những chiều kích khác nhau của sự phát triển. Các chiều kích này có thể, như
người ta mong muốn, phù hợp với các chính sách đã được chế định, nhưng nó cũng
có thể diễn ra không nh
ư người ta mong muốn và bất chấp các chế định. Tình hình
này đòi hỏi tập trung phân tích sâu những yếu tố tác động đến phát triển xã hội và
quản lý sự phát triển xã hội. Yêu cầu này đang trở nên hết sức cấp thiết đối với các
thể chế hành chính chính trị cũng như đối với các tổ chức khoa học. Yêu cầu này
đặt ra các nhiệm vụ cho hoạt động nhận thức cả trên bình di
ện lý luận và thực tiễn,
nhất là về mặt thực tiễn. Nhấn mạnh vấn đề này là để chỉ rõ ý nghĩa thực tiễn của
các nghiên cứu liên quan đến chủ đề nói trên. Ở đây, hoạt động nghiên cứu phải
xuất phát từ thực tiễn sinh động của đời sống xã hội, nó không chỉ dừng lại ở sự ghi
nhận các sự kiện, các tương tác phức tạ
p trong sự phát triển và quản lý xã hội, nó
đòi hỏi phải đạt đến sự khái quát có tính chất nguyên lý về mục tiêu phát triển và cơ
chế quản lý sự phát triển xã hội. Mục đích này bao trùm một phạm vi rộng lớn trong
các bộ phận tạo thành cơ cấu xã hội tổng thể, có nghĩa là trong bộ khung với những
yếu tố cơ bản nhất của hệ thống xã hội.
Bằng nh

toàn cầ
u hoá. Quá trình này đưa Việt Nam hoà nhập sâu hơn và chủ động hơn vào
đời sống quốc tế, mặt khác, những biến động kinh tế và chính trị trong phạm vi toàn
cầu, với những mức độ khác nhau đang ngày càng có những ảnh hưởng sâu sắc và
toàn diện đến Việt Nam, đặc biệt là từ khi Việt Nam tham gia vào Tổ chức thương
mại thế giới (WTO). Hai vấn đề trên đây được coi là bối cảnh chi phối sâu sắ
c đến
sự biến đổi xã hội trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Tiếp theo đó,
chúng tôi hướng sự quan tâm của mình vào việc phân tích vai trò cơ bản của chủ thể
quản lý sự phát triển là Nhà nước, trong đó, vấn đề bản chất Nhà nước và hệ thống
công cụ pháp luật có vai trò quan trọng như một nhân tố hàng đầu đối với phát triển
và quản lý.
Trong hệ thống xã h
ội, vai trò của xã hội dân sự đang được đề cao, nó mở
rộng sự tham gia của người dân vào tiến trình phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội, nó tháo gỡ sự phi tập trung hoá dẫn đến tình trạng quan liêu của Nhà nước,

11
nó là biểu hiện của nền dân chủ, nó gắn với kinh tế thị trường và Nhà nước pháp
quyền. Vì vậy, xã hội dân sự cần được xem xét như một yếu tố tác động đến phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.
Các dự báo khoa học về thế giới trong thế kỷ XXI đều nhấn mạnh đến tầm
quan trọng đặc biệt của văn hoá đối với phát triển xã h
ội và quản lý phát triển xã
hội. Thực tế cho thấy, văn hoá không phải là sự “phản ánh” thụ động, là sản phẩm
tự nhiên của kinh tế. Vì vậy, UNESCO đã nhấn mạnh “khi các mục tiêu tăng trưởng
kinh tế được đặt ra mà tách rời môi trường văn hoá thì kết quả thu được rất khập
khiễng, mất cân đối cả về mặt kinh tế lẫn văn hoá, đồng thời, tiềm nă
ng sáng tạo
của mỗi dân tộc sẽ bị suy yếu đi rất nhiều”. Mục tiêu của công cuộc Đổi mới ở Việt


12
và thời đại, quá khứ và hiện tại, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội trong đó nhấn
mạnh đến vai trò của yếu tố dân chủ, kinh tế, văn hoá và xã hội, vai trò của các tổ
chức phi chính phủ - NGO, một yếu tố ngày càng có sự ảnh hưởng rõ nét trong sự
phát triển xã hội hiện nay. Mục tiêu của đề tài cũng sẽ lưu ý đến đặc điểm Việt
Nam chưa qua tư
bản chủ nghĩa. Đặc điểm này có tác động trên cả hai chiều thuận
lợi và khó khăn trong việc xem xét các nhân tố của sự phát triển xã hội và quản lý
sự phát triển xã hội. Cũng cần phải nhận thấy rằng, hậu quả của chế độ bao cấp
nặng nề diễn ra trước thời gian đổi mới cũng để lại những hệ luỵ đối vớ
i sự phát
triển và quản lý xã hội. Trên cơ sở đó luận giải cơ sở của sự phân loại ấy và vai trò
của nó trong nghiên cứu. Trên cơ sở định dạng và loại hình hoá, đề tài sẽ lựa chọn
trọng điểm nghiên cứu ở những yếu tố cơ bản, có sức chi phối lớn đối với sự phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
ở nước ta trong thới kỳ Đổi mới (như rào
cản của phong tục tập quán, tính đa dạng của văn hoá tộc người và vùng miền, toàn
cầu hoá, xu hướng phát triển xã hội dân sự, vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện
đại, thiết chế quản lý xã hội quan phương và phi quan phương, kết cấu xã hội, di
động xã hội…)
3.2. Đánh giá thực trạng, xu hướng tác động của các yế
u tố đối với phát
triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra
Thực hiện mục tiêu lớn này, đề tài đặt ra yêu cầu làm rõ những tác động của
các yếu tố nội sinh và ngoại sinh đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội, gồm cả tác động “đơn” và tác động “kép”, tác động tập trung và tác động
phân tán, tác động trực tiế
p và tác động gián tiếp, tác động qua thể chế và tác động
phi thể chế, tác động “điểm” và tác động “diện”… Tóm lại đó là cơ chế, phương

Về lý luận, chỉ ra được những yếu tố cơ bản tác độ
ng đến phát triển xã hội và
quản lý phát triển xã hội trong tiến trình đổi mới ở Việt Nam. Những yếu tố này
được căn cứ vào triết lý phát triển của Việt Nam phản ánh các tương tác từ chiều
sâu lịch sử đến những biểu hiện phong phú và sinh động trong bối cảnh hội nhập và
phát triển hiện nay. Sự đóng góp cơ bản về mặt lý luận là ở chỗ, các yếu tố
cơ bản
vừa có tính phổ quát trong nguyên lý chung của sự phát triển và trong hoạt động
quản lý, vừa xuất phát từ các điều kiện hiện thực của Việt Nam.
Về mặt thực tiễn, nghiên cứu nhằm chỉ rõ vai trò của từng yếu tố được lựa
chọn và tương tác của các yếu tố này với các yếu tố khác dẫn đến hiệu quả chung
tác động đến phát tri
ển xã hội và quản lý phát triển xã hội. Các nghiên cứu thực
chứng được đề tài tiến hành sẽ cho thấy các mức độ từ sự đo lường thực tế, ý nghĩa
của các yếu tố đang ở vị trí nào, nó cần phải được thúc dẩy ở chiều cạnh nào, để
từng yếu tố phát huy được giá trị của mình trong phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội.
4. Cách tiếp c
ận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài tiếp cận từ góc độ nghiên cứu xã hội và phát triển xã hội trong đó chú
trọng phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành trong đó các khía cạnh sử học,
xã hội học, văn hóa học, dân tộc học, chính trị học, tâm lý học… nhằm làm rõ các
yếu tố tác động đến phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội trong thời kỳ Đổi
mới xây dựng đất nướ
c ở Việt Nam hiện nay.
Phương pháp luận chung để nghiên cứu là chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng

14
Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội, nêu lên và phân tích, đánh giá về các yếu tố chủ

Kể từ khi Ph.U.Taylo đặt nền móng cho khoa học quản lý. Ông đưa ra một
học thuyết được giới kinh doanh và các nhà nghiên cứu rất quan tâm, đó là “thuyết
con người kinh tế”. Theo thuyết này, hiệu qu
ả làm việc của người công nhân phụ
thuộc chủ yếu vào sự khuyến khích vật chất. Việc tăng lương, tăng tiền cho vay,
giảm tỷ lệ phần trăm tiền đặt trước để xây dựng nhà ở, mở rộng việc bán chịu một
số mặt hàng tiêu dùng… là những động lực chính thúc đẩy người công nhân làm
việc tận tuỵ. Khi học thuyết này ra đời, nó không chỉ nhận đượ
c sự ủng hộ của

15
nhiều nhà kinh doanh và các nhà khoa học mà nó còn bị nhiều nhà khoa học chỉ
trích, phê phán. Họ cho rằng, học thuyết của Taylo đánh giá thấp khía cạnh nhân
văn, đánh giá thấp nhiệt tình lao động của công nhân…
Để khắc phục các khiếm khuyết của thuyết “con người kinh tế”, một học
thuyết khác ra đời – thuyết “con người xã hội”. Người sáng lập ra thuyết này là
Elton Mayo và các cộng sự của ông. Học thuyết ra đời dựa trên kết quả nghiên c
ứu
của các thí nghiệm Hawthorne do Mayo lãnh đạo. Những người theo thuyết này
không phủ nhận ý nghĩa của khuyến khích vật chất, của các biện pháp kiểm tra và
trừng phạt. Nhưng họ đề cao hơn yếu tố tự giác và sáng tạo của người lao động.
Theo thuyết này, “con người xã hội” chịu ảnh hưởng rất nhiều của các mối quan hệ
nhân cách trong tập thể và con người sẽ tự giác làm việc nếu làm cho h
ọ thích thú.
Về động cơ của người lao động với vai trò là đối tượng của quản lý còn một
thuyết nữa đáng chú ý là thuyết động cơ của Maslow.
Năm 1943, A.H.Maslow đã cho ra cuốn sách A theory of human motivation
(thuyết về động cơ con người). Theo thuyết của Maslow, nhu cầu là yếu tố tạo nên
động cơ người lao động. Nhu cầu của con người được phân ra theo 5 mức độ từ
thấp lên cao: 1- Các nhu c

i coi sự hạn hẹp của thị trường là nguyên nhân chủ yếu dẫn
đến trì trệ. Một số người khác lại cho rằng sự tăng trưởng dân số quá cao là nguyên
nhân trì trệ. Một số học giả thường có xu hướng gắn phát triển với tăng trưởng kinh
tế, thậm chí đóng khung sự phát triển xã hội vào sự tăng trưởng đó. Hiện nay, trong
một số giới nghiên cứu về phát triể
n và kém phát triển người ta tạm lấy nội dung do
Liên hiệp quốc đưa ra làm căn cứ, theo đó phát triển được hiểu là một quá trình
trong đó toàn thể loài người áp dụng những công cụ hiện đại của khoa học và công
nghệ vào những mục tiêu của mình qua những thời kỳ khác nhau với tính hoàn toàn
không đảo ngược của quá trình đó.
Một tài liệu khác của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới cho rằng:
“Phát triển bao hàm m
ột sự biến đổi kinh tế và xã hội không ngừng ngay cả khái
niệm hẹp về sự bền vững vật chất cũng hàm chứa mối quan tâm với bình đẳng xã
hội, giữa các thế hệ, mối quan tâm cần được mở rộng một cách hợp lý tới sự bình
đẳng trong các thế hệ”.
Giáo sư Jun Oba, trong công trình Cơ sở hạ tầng và hoàn cảnh in trong công
trình World Social Science Report (published by the United Nations Educational,
Scientific and Cultural Organization (UNESCO) and Éditons scientifiques of
médicales Elsevier.Paris 1999), đã xác đị
nh những vấn đề ưu tiên sau đây trong mối
quan tâm của khoa học xã hội: Thành tựu kinh tế và phát triển; Môi trường và phát
triển bền vững; Toàn cầu hoá, vùng và thị trường mới nổi trội; Điều hành các doanh
nghiệp, quy chế hoá và minh bạch; Công nghệ và công chúng; Đổi mới; Tri thức,
truyền thông và giáo dục; Tuổi thọ, cách sống và sức khoẻ; Bao hàm và ngoại trừ xã
hội.
Những ưu tiên trên đây cho thấy rõ, phát triển có một v
ị trí hết sức quan trọng,
nó được xếp ở những vị trí đầu trong sự quan tâm.
Trong diễn văn mang tên Thị trường, Nhà nước, cộng đồng và quản lý toàn

ưng điều kiện nhân văn để thể hiện
mối quan hệ với tự nhiên và mối quan hệ xã hội, từ đó rút ra bài học, sắp xếp các tri
thức và truyền đi những nhận định có giá trị. Không một mối quan hệ xã hội nào
được dựng lên bên ngoài những tư tưởng, đồng thời mọi tư tưởng đều cần cắm rễ,
ăn sâu trong các biểu hiện thực tế
. Luận điểm của Francois Houtart, một mặt dựa
trên các quan hệ xã hội cơ bản, trong đó quan hệ kinh tế là nền tảng. Song, ông
cũng nhấn mạnh rằng, nhân tố văn hóa được biểu hiện ở các giá trị tư tưởng và hệ
thống biểu tượng đều cắm rễ, ăn sâu trong các biểu hiện thực tế và vì vậy, chúng trở
thành các nhân tố phi kinh tế trong phát triển.
Công trình Quản lý trong th
ế kỷ XXI của Subir Chowdhury và Lê Minh Hồng
(Nhà xuất bản Giao thông vận tải, 2006), đã đưa ra các xu hướng cơ bản của hoạt
động quản lý các quá trình kinh tế- xã hội trong giai đoạn phát triển kinh tế thị
trường trên phạm vi toàn cầu, chỉ rõ vai trò của quản lý trong xã hội thông tin và sự
phân công lao động xã hội đang diễn ra cả ở hai trạng thái phân mảnh và kết hợp.
Các vấn đề về xã hội quản lý và lý thuyết qu
ản lý được đề xuất dựa trên các vai trò
quan trọng: vị thế người lãnh đạo, quá trình quản lý, tổ chức quản lý và các biến
động xã hội có thể diễn ra trong thế kỷ XXI trên phạm vi thế giới.

18
Các nghiên cứu về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội đang thu hút
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trong công trình Welfare State Futures/
Stephan Leibfried ed United Kingdom, Cambridge University Press.2001, đã phân
tích các mô hình xã hội ở Bắc Âu và Tây Âu và chỉ ra những hệ luỵ xã hội giữa
phát triển kinh tế với vấn đề phúc lợi xã hội và bảo trợ xã hội. Vấn đề nguồn nhân
lực và quản lý nguồn nhân lực cũng đang trở thành mối quan tâm của các nhà
nghiên cứu ở khu v
ực Mỹ Latinh, Brazil, Arhentina Trong công trình Managing

các quan hệ tích cực trong cơ cấu xã hội, trong hành vi xã hội.
Nền tảng của phát triển trước hết là sản xuất vật chất, sự tiến bộ của khoa học
kỹ thuật, nền đại công nghiệp, trình độ quản lý khoa học, quản lý kinh tế, xã hội là

19
những nguồn lực và động lực của sự phát triển.
Bên cạnh việc xem yếu tố kinh tế là chỉ số có tính quyết định sự phát triển xã
hội, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin không xem nhẹ các yếu tố tinh thần,
văn hóa, chính trị, pháp quyền trong phát triển.
Ở nước ta, ngay dưới thời phong kiến đã có những bậc vĩ nhân đưa ra những
tư tưởng quản lý rất có giá trị, th
ể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân hết
sức nhân văn. Những câu nói nổi tiếng của các bậc tiền nhân vẫn còn giá trị đối với
việc quản lý xã hội ngày nay, Lý Thường Kiệt: “Đạo làm chủ dân cốt ở yên dân”,
Trần Hưng Đạo nói: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng
sách để giữ nước”, Nguyễn Trãi nói: “Chở thuyền là dân mà lậ
t thuyền cũng là
dân… Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Trong thời đại mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh
vừa là nhà tư tưởng quản lý, vừa là nhà thực tiễn quản lý xuất sắc, kết hợp chủ
nghĩa Mác - Lênin với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam thể hiện qua tư
tưởng phục vụ con người, phục vụ nhân dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng
nhân dân. Trong thế giới, không gì mạ
nh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân…
Trong xã hội, không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”.
Trong nhiều thập kỷ qua, trên cơ sở vận dụng các nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học của nước ta cũng đã cố gắng
nghiên cứu, tìm tòi và bước đầu xây dựng cơ sở khoa học của môn khoa học quản
lý mang bản s
ắc Việt Nam.
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam rất coi trọng nghiên

ộ gia đình
(Nguyễn Đức Truyến); truyền thông và phát triển nông thôn (Mai Quỳnh Nam); về
mối quan hệ giữa xã và thôn, quản lý và tự quản (Hoàng Chí Bảo); công khai để
thực hiện quyền làm chủ của người dân (Mai Quỳnh Nam). Các nghiên cứu này có
vai trò như những yếu tố tác động trong hệ thống tri thức của thực tiễn phát triển và
quản lý phát triển xã hội.
Công trình Kinh tế - xã hội Việt Nam hướng tới chất lượng t
ăng trưởng hội
nhập – phát triển bền vững của Nguyễn Mạnh Hùng (Nhà xuất bản Thống kê,
2004), đã bàn đến mối quan hệ giữa tăng trưởng và chất lượng phát triển. Tại đây,
các chỉ tiêu kinh tế – xã hội được xem xét trong mối liên hệ với khái niệm phát triển
bền vững. Tác giả đã chỉ ra những vấn đề cần được quan tâm trong mối liên hệ này
ở vào đi
ều kiện kinh tế thị trường nước ta hiện nay. Cùng với chủ đề này còn có
công trình Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội tốc độ nhanh, bền vững,
chất lượng cao ở Việt Nam của Đinh Văn Ân (Nhà xuất bản Thống kê, 2005),
không chỉ dừng lại ở việc nhận diện tình hình kinh tế, xã hội ở Việt Nam trong
những năm qua, tác giả còn đi đến sự khái quát quan đ
iểm phát triển và chiến lược
phát triển ở nước ta trong thời gian tới.
Công trình Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực
tiễn do Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã
hội.2004, đã đặt vấn đề quản lý nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực ở Việt
Nam trong bối cảnh biến đổi xã hội và các yêu cầ
u, mục đích của công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Các quan sát trên đây hy vọng để thấy được tình hình nghiên cứu về phát triển
xã hội và quản lý xã hội trong mối quan tâm của những người hoạt động khoa học
xã hội nhân văn ở một số quốc gia và ở Việt Nam hiện nay. Đây chỉ mới là những
nhận diện ban đầu, song nó cũng cho thấy một quá trình và đặc biệt là cho thấ
22

Chương I
KHÁI NIỆM, ĐỊNH DẠNG
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
TRONG TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM

I.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I.1.1. Xã hội
Theo nghĩa rộng, khái niệm "xã hội" dùng để chỉ một chế độ xã hội nhất định
với toàn bộ các yếu tố cấu thành chỉnh thể của nó. Với nghĩa này, "xã hội" trùng
hợp với quan niệm của C. Mác về hình thái kinh tế - xã hội. Theo quan niệm đó,
mỗi hình thái kinh tế - xã hội bao gồm ba bộ phận cơ bản có mố
i quan hệ tác động
qua lại mật thiết với nhau:
i) Cơ sở kinh tế, tức phương thức sản xuất với tư cách là sự thống nhất biện
chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất;
ii) Cơ cấu xã hội, mà cốt lõi là cơ cấu các giai tầng xã hội (trong các xã hội
có giai cấp);
iii) Kiến trúc thượng tầng về pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức xã
hộ
i tương ứng.
Trình bày học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội do C. Mác đề xướng bằng
một công thức ngắn gọn, Ph. Ăngghen viết: "Trong mỗi thời đại lịch sử, phương
thức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội do phương
thức đó quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thờ
i đại và lịch sử

1
.
Qua một số luận điểm của các nhà kinh điển mác-xít vừa dẫn ở trên, ta thấy
bản thân khái niệm xã hội theo nghĩa rộng đã bao chứa trong nó một số điểm quan
trọng của nội hàm khái niệm "xã hội" theo nghĩa hẹp, mà dưới đây cần được nhận
biết đầy đủ hơn.
Khái niệm "xã hội" theo nghĩa hẹp dùng để chỉ lĩnh vực xã hộ
i trong tương
quan với các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội tổng thể. Cũng có thể
gọi đó là cái xã hội trong mối quan hệ tương tác với cái kinh tế, cái chính trị, cái
văn hóa của một hình thái xã hội nhất định. Cái xã hội có nội dung biểu hiện trực
tiếp của nó là các vấn đề có liên quan đến sự phát triển của con người và xã hội
như: dân số và nguồn nhân lự
c, lao động và việc làm, thu nhập và mức sống, giáo
dục và y tế, đạo đức và văn hóa, những đảm bảo về an ninh và an toàn xã hội của
đời sống cá nhân và của cộng đồng
2
.
Lĩnh vực xã hội có nhiều nội dung, nhưng chủ yếu bao gồm: cơ cấu xã hội,
các thiết chế xã hội, các nhu cầu của đời sống con người trong xã hội, và các quan
hệ xã hội của con người.
Có thể xem cơ cấu xã hội là cái cốt vật chất của xã hội theo nghĩa hẹp.
Không tìm hiểu cái cốt ấy thì không thể hình dung phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội trước h
ết phải nhằm đến đối tượng nào.

1. V. I. Lênin: Toàn tập, tập 1. Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1974, tr. 164-165.
2. Xem thêm: GS.TS, Phạm Xuân Nam (Chủ biên) – Triết lý phát triển ở Việt Nam – Mấy vấn đề
cốt yếu. In lần thứ ba, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.


Trần Anh Tông phải “khoan thư sức dân” trong thời bình để khi đất nước hữu sự thì
“vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà chung sức”… Còn Nguyễn Trãi thì
nói với Lê Lợi: "Kính mong bệ hạ chăm lo muôn dân để cho trong mọi thôn cùng
xóm vắng không còn tiếng hờn giận oán sầu". Là nhà chỉ huy quân sự bách chiến
bách thắng, nhưng khi đã trở thành người lãnh đạo quốc gia, Quang Trung cũng nêu
lên một tư tưởng cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển xã hội và quản lý phát triển
xã hội: "Xây dựng đất nước phải lấy việc dạy học làm đầu; tìm lẽ trị bình phải lấy
việc tuyển nhân tài làm gốc".
Đến khi Việt Nam bị chủ nghĩa tư bản thực dân phương Tây xâm lược và
thống trị, thì cùng với sự biến đổi trong cơ c
ấu xã hội truyền thống, các thiết chế xã
hội ở nước ta, nhất là ở các đô thị, cũng có phần chuyển biến theo.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status