VIỆN XÃ HỘI HỌC
BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI
Ở CÁC VÙNG NÔNG THÔN NƯỚC TA - THỰC TRẠNG
VÀ GIẢI PHÁP CNĐT : NGUYỄN CHÍ DŨNG 8177
HÀ NỘI – 2010
thụn nc ta hin nay. .Tr. 54
2. Thc hin chng trỡnh dõn s phỏt trin, nõng cao cht lng dõn s,
gii quyt vic lm cỏc vựng nụng thụn nc ta hin nay. Tr.79
3. iu chnh phõn tng xó hi, phõn húa giu nghốo vn quan
trng ca qun lý phỏt tri
n xó hi nụng thụn hin nay .Tr.110
4. m bo an sinh xó hi yu t quan trng PTXH bn vng cỏc
vựng nụng thụn hin nay Tr.126
3
5. Giảm thiểu ô nhiễm môi trường tự nhiên, quản lý tốt môi trường
xã hội – xây dựng cộng đồng văn hoá an toàn ………………………Tr.150
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN
XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG Ở CÁC VÙNG
NÔNG THÔN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẾN NĂM 2020. ……………………………………Tr.183
1. CNH - HĐH và những tác động của nó với phát triển xã h
ội và quản
lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam. ……………………Tr.183
2. Một số quan điểm cần quán triệt trong phát triển xã hội và quản lý
phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam. Tr.188
3. Một số giải pháp nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội
bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam. Tr.191
4. Một số khuyến nghị nhằm phát triển xã hội và quản lý phát triển xã
hội bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam
đến năm 2020. Tr.206
Tài liệu tham khảo. ………………………………………………Tr.215
Hồ Chí Minh
- HTX: Hợp tác xã
- KHHGĐ: Kế hoạch hóa gia đình
- KT-XH: Kinh tế – xã hội
- P/c TNXH: Phòng chống tệ nạn xã hội
- PTTH: Phổ thông trung học
- PTXH: Phát triển xã hội
- QLPTXH: Quản lý phát triển xã hội
- SKSS: Sức khỏe sinh sản
- TNMD: Tệ nạn mại dâm
- TNMT: Tệ nạn ma túy
- UBND: Ủy ban nhân dân
-
XHCN: Xã hội chủ nghĩa 5
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀTÀI:
“PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở
CÁC VÙNG NÔNG THÔN NƯỚC TA HIỆN NAY –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP”
tiêu cực trong phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội đang đặt ra. Giải
quyết những vấn đề này không dễ dàng. Do vậy, nghiên cứu, tìm hiểu để góp
phần định hướng giải quyết những vấn đề xã hội phát sinh trong quá trình phát
6
triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn và nông dân đang là vấn đề xã hội cấp
thiết.
Đáp ứng yêu cầu này, đề tài nghiên cứu cấp nhà nước: “phát triển xã hội
và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn nước ta hiện nay - thực trạng
và giải pháp” đã được triển khai thực hiện.
Mục tiêu của đề tài là:
1. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển xã hội và quản lý phát
triển xã hội ở các vùng nông thôn Vi
ệt Nam hiện nay.
2. Đánh giá chính xác thực trạng, xu hướng phát triển xã hội và quản lý
phát triển xã hội ở nông thôn Việt Nam dưới tác động của kinh tế thị trường,
công nhiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá.
3. Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm phát triển xã hội và quản lý
phát triển xã hội ở nông thôn Việt Nam trong thập kỷ tới.
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài hướng đến vi
ệc làm rõ những nội
dung, nghiên cứu sau đây:
Thứ nhất: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu về phát triển xã
hội và quản lý phát triển xã hội ở các vùng nông thôn Việt Nam.
Thứ hai: Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ xã
hội, đảm bảo phát triển xã hội bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam.
Thứ ba: Điều ch
ỉnh phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, thực hiện
công bằng xã hội.
Thứ tư: Thực hiện chương trình dân số phát triển (DS-PT) giải quyết việc
đảm bảo phát triển xã hội bền vững ở các vùng nông thôn Việt Nam; điều chỉnh
phân tầng xã hội, phân hoá giàu nghèo, thực hiện công bằng xã hội; thực hiện
chương trình dân số phát triển (DS-PT) giải quy
ết việc làm, nâng cao chất
lượng dân số; điều chỉnh mâu thuẫn, xung đột xã hội, phòng chống các tệ nạn
xã hội (TNXH), xây dựng cộng đồng văn hoá an toàn; đảm bảo an sinh xã hội
(ASXH), thực hiện các chính sách xã hội (CSXH), giảm thiểu ô nhiễm môi
trường tự nhiên, quản lý tốt môi trường xã hội, phát triển xã hội bền vững
(PTXHBV).
Bốn là, điều tra xã hội học về PTXH & QLPTXH ở 8 tỉnh đại di
ện cho 8
vùng sinh thái của Việt Nam. Cụ thể đã điều tra ở:
- Tỉnh Sơn La - đại diện cho khu vực Tây Bắc.
- Tỉnh Thái Nguyên - đại diện cho khu vực Đông Bắc.
- Tỉnh Hưng Yên - đại diện cho khu vực Đồng bằng Bắc Bộ.
- Tỉnh Hà Tĩnh - đại diện cho khu vực Bắc miền Trung.
- Tỉnh Bình Định - đại diện cho khu vực Ven biể
n miền Trung.
- Tỉnh Kon Tum - đại diện cho khu vực Tây Nguyên.
- Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - đại diện cho khu vực Đông Nam Bộ.
- Tỉnh An Giang - đại diện cho khu vực Tay Nam Bộ.
8
Ở 8 tỉnh này, nhóm nghiên cứu đã phát và thu về : 694 phiếu dành cho
cán bộ lãnh đạo, quản lý và 798 phiếu dành cho cộng đồng. Phiếu được phát
theo cách lấy mẫu hệ thống, khởi đầu ngẫu nhiên có tính tới đặc trưng sinh thái
vùng.
Ngoài ra, cuộc điều tra còn được tiến hành với 80 Phỏng vấn sâu ( PVS)
và 56 thảo luận nhóm tập trung để làm rõ những lĩnh vực phát triển xã hội và
quản lý PTXH mà Việt Nam đang quan tâm giải quyết. Bên cạnh đ
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA SỰ PHÁT
TRIỂN XÃ HỘI VÀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI Ở CÁC VÙNG
NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY.
1.Cơ sở lý luận của Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở
các vùng nông thôn Việt Nam
1.1. Khái niệm về Phát triển và phát triển xã hội
1.1.1.Khái niệm về Phát triển
“Phát triển” là phạm trù được không ít khoa học nghiên cứu. Dướ
i góc độ
triết học, “Phát triển” là kết quả tất yếu của quá trình vận động, biến đổi không
ngừng của các sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan. “Phát triển” xuất
hiện khi sự vật và hiện tượng vận động, tương tác với nhau làm nảy sinh những
sự vật và hiện tượng mới, đặc biệt khi mà trạng thái cân bằng động giữa các
mặt đối l
ập mất đi, mâu thuẫn được giải quyết. Sự tăng lên về lượng đạt đến độ
giới hạn của nó, sự vật, hiện tượng mới xuất hiện với chất cao hơn. Đây chính
là quá trình phát triển. Như vậy, “phát triển” là một thuộc tính của vật chất, là
kết quả của quá trình vận động, biến đổi không ngừng của sự vật, hiện t
ượng
trong thế giới khách quan.
Dưới góc độ các khoa học kinh tế , “phát triển” được xem xét dưới nhiều
cấp độ khác nhau. Dưới cấp độ sơ đẳng nhất, “phát triển” được hiểu như sự
tăng trưởng đơn thuần về lượng. Ở đây, sự mở rộng của các ngành, các lĩnh vực
kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ…được coi như s
ự
phát triển. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là sự phát triển về lượng. Trong kinh tế, phát
triển còn được xem xét dưới góc độ chất. Trong đó, không chỉ có sự tăng
trưởng, mở rộng của các ngành mà còn là sự tăng lên về chất của các ngành,
các lĩnh vực kinh tế. Ở đây, sự thay đổi về kỹ thuật sản xuất từ lạc hậu lên tiên
tiến, sự nâng cao về năng suất, ch
ước thường được gọi là sự tiến hoá. Còn phát
triển như một sự đột biến, nhảy vọt, chuyển đổi hẳn về chất là “cách mạng”.
1.1.2. Quan niệm về “xã hội”
“Xã hội” là khái niệm chỉ một thực tại khách quan liên quan đến con
người và mối quan hệ giữa con người với con người. Hiện tại “xã hội” đang
được hiểu theo hai nghĩa “rộng”, “hẹp” khác nhau. Theo nghĩa rộng,
“xã hội”
là tất cả những gì thuộc con người và mối quan hệ của con người nhằm phân
biệt nó với cái “tự nhiên”, “xã hội” theo nghĩa này bao gồm toàn bộ những cá
nhân con người liên kết nhau thành một hệ thống xác định. Trong đó, con
người liên hệ nhau thông qua cả mạng lưới các quan hệ kinh tế (quan hệ trong
sản xuất), quan hệ chính trị (quan hệ quyền lực); quan hệ văn hoá (quan hệ dựa
trên nề
n tảng hệ giá trị và chuẩn mực của một nền văn hoá được định hình
trong lịch sử) và quan hệ tư tưởng, tinh thần (tư tưởng giai cấp, tư tưởng dân
tộc và tư tưởng tôn giáo). “Xã hội” theo nghĩa rông này là tổng thể những
người, những nhóm người, những tầng lớp người và những cộng đồng người
gắn bó nhau cả về kinh tế, chính trị, văn hoá và t
ư tưởng. “Xã hội” theo nghĩa
11
rộng không được dùng trong các khái niệm như: Chính sách xã hội, đạo đức xã
hội, phát triển xã hội …
“Xã hội” dùng trong các khái niệm trên là “cái” “Xã hội” theo nghĩa hẹp.
Ở đây, “xã hội” được hiểu như con người cụ thể với những mối quan hệ của họ
tồn tại như mục đích, mục tiêu, cái cần phải đạt tới của các hoạt động kinh tế,
chính trị, văn hoá, tư
tưởng. Ở một góc độ nào đó, “xã hội” theo nghĩa hẹp
chính là con người với tất cả ý nghĩa nhân văn, nhân đạo của nó. Nghĩa là, con
người tồn tại như tâm điểm, như mục đích tối cao của tất cả các hoạt động kinh
12
theo đúng những quy luật vốn có của nó. Trong đó, hệ thống luật pháp được
hoàn thiện; hệ thống quyền lực xã hội được tổ chức và vận hành đúng theo
những chuẩn mực mà luật pháp quy định. Vì thế, vai trò của các nhóm, các
tầng lớp xã hội được xác lập theo đúng thực lực mà chúng hiện có và theo đúng
sự chi phối của những quy luật khách quan mà xã hội đang vận động, biến
đổi,
tuân theo.
Về mặt xã hội, nhân tố con người được phát huy. Những giá trị nhân đạo,
nhân văn được bảo vệ. Nhiều vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển
kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phân tích và giải quyết. Phát triển xã
hội là làm cho xã hội vừa mở rộng về quy mô, vừa tăng cường chất lượng của
toàn hệ thống, của cộng đồng,
Theo nghĩ
a hẹp, phát triển xã hội là phát triển con người, là nâng cao chất
lượng sống của mỗi người và của từng nhóm xã hội. Như vậy, muốn phát triển
xã hội phải đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề con người, những vấn đề nảy
sinh trong quá trình phát triển kinh, trong giải quyết các vấn đề chính trị, văn
hoá, tư tưởng. Nghĩa là giải quyết vấn đề con người, vấn đề
nhân văn, nhân đạo
trong quá trình phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, sắp xếp hệ thống quyền
lực xã hội, thực hiện các hoạt động nhằm xây dựng và phát triển về văn hoá, ổn
định về tư tưởng, định hướng tiến bộ, văn minh cho mỗi con người và cho cả
xã hội. Phát triển xã hội, theo nghĩa này là phát triển toàn diện con người, tạo
môi trường thuận lợi cho m
ối quan hệ của con người với con người được công
bằng, bình đẳng… phát triển xã hội thường được đo bằng những chỉ báo trên
những lĩnh vực sau đây:
Thứ nhất: Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội nhằm đảm bảo điều kiện
t, nghèo đói, dịch bệnh, mồ côi… là hết sức cần thiết. Ngoài ra
phải hết sức chú ý quan điểm về giới, thực hiện bình đẳng giới, tạo điều kiện để
xã hội phát triển ổn định, bền vững với tất cả tính nhân đạo, nhân văn của nó.
Thứ năm: Con người sống ngoài yếu tố cá nhân còn phải liên kết cộng
đồng. Phát triển xã hộ
i là làm cho cộng đồng giảm mâu thuẫn, xung đột. Những
yếu tố làm bất ổn định trong cộng đồng như sự khác biệt về tôn giáo, tín
ngưỡng, sắc tộc, văn hoá vùng…cần được quan tâm giải quyết. Phát triển xã
hội là làm cho cộng đồng sống có văn hoá và an toàn. Trong đó sự đa dạng về
văn hoá cần được tôn trọng. Những yếu tố tiến bộ, đặc sắc về v
ăn hoá cần được
giữ gìn và phát huy. Những tệ nạn xã hội được đẩy lùi. Tai nạn, thương tích
phải được giảm bớt.
Thứ sáu: phát triển xã hội, nhất là phát triển bền vững cần quan tâm giải
quyết vấn đề môi trường. Phát triển hiện nay cần đảm bảo tương lai cho con
cháu ngày mai. Ở đây phải làm sao phát triển không làm mất cân bằng hệ sinh
thái, phải chống ô nhiễm môi trường nước, môi tr
ường đất và môi trường
không khí; phải làm sao thảm thực vật và các loài động vật được bảo tồn. Biến
đổi khí hậu do hoạt động của con người cần được ngăn chặn và giảm thiểu tác
động.
14
Đây là sáu nội dung quan trọng mà phát triển xã hội, nhất là phát triển bền
vững phải quan tâm giải quyết.
1.2.Quản lý và quản lý phát triển xã hội:
1.2.1.Khái niệm quản lý:
Như mọi người đều biết “Quản lý” là sự tác động liên tục, có tổ chức, có
hướng đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý nhằm đạt được những
mục tiêu đẫ được xác định trước. Như
lý - một người, một nhóm người, một tầng lớp xã hội thông qua những
15
phương thức hoạt động khác nhau mà tác động vào quan hệ kinh tế, quan hệ
chính trị, quan hệ văn hoá, tư tưởng, tinh thần, tình cảm của những người khác,
những chủ thể khác nhằm hướng hoạt động của họ đến những mục tiêu đã được
xác định trước.Để làm được điều này, cần phải làm rõ từng thành tố của quá
trình quản lý. Những thành tố này bao gồm:
- Các chủ
thể quản lý, khách thể quản lý, trong đó phải đặc biệt chú ý tới
mô hình tổ chức và đặc điểm các mối quan hệ của các chủ thể và khách thể
quản lý.
- Các vai trò và kỹ năng quản lý.
- Các mắt khâu của quá trình quản lý, trong đó đặc biệt là thông tin và
cách thức truyền thông trong hệ thống quản lý.
- Hệ thống điều hành, kiểm tra, giám sát với tất cả những đặc trưng của
hệ thống này.
Xã hội con người lại vận động và biến hoá không ngừng. Do vậy, quản lý
xã hội là quá trình quản lý sự vận động và phát triển của xã hội. ở đây, để xã
hội vận động và phát triển theo đúng những quy luật và yêu cầu của nó, phải
chú ý tới những nhu cầu của mỗi chủ thể. Trong đó, chủ thể lớn là những
nhóm, những tập đoàn xã hộ
i, những cộng đồng xã hội( Nhóm thứ cấp) và cả
chủ thể nhỏ là mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi nhóm xã hội nhỏ (nhóm sơ
cấp). Quản lý sự phát triển của xã hội là quản lý những yếu tố, những mối liên
hệ, những điều kiện vật chất và tinh thần làm cho xã hội phát triển theo hướng
ngày càng ổn định, tiến bộ và văn minh hơn. Để làm
được điều này, kinh
nghiệm lịch sử cho thấy, cần phải tăng cường quản lý những lĩnh vực sau đây:
Thứ nhất: Quản lý việc xây dựng và phát triển trên cơ sơ hạ tầng kinh tế-
nông thôn khác thành thị ở những điểm sau:
Thứ nhất: Dân cư là nông dân với hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng
trọt, chăn nuôi) chiếm tỷ trọng lớ
n.
Thứ hai: Mật độ dân cư thấp, sống gắn bó chặt chẽ với môi trường tự
nhiên
Thứ ba: Tính cố kết cộng đồng cao. Ngoài sự gắn bó thông qua quan hệ
làng xã, cư dân nông thôn còn gắn bó nhau thông qua quan hệ thân tộc (dòng
họ).
Thứ tư: So với cộng đồng dân cư thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn
tiếp cận với thông tin ít hơn, chậm hơn; tiếp cận với các d
ịch vụ giáo dục, y tế,
vắn hoá, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí thấp hơn, phong tục tập quán lạc hâu hơn.
Thứ năm: Ở nông thôn, quan hệ ứng xử xã hội của các thành viên trong
cộng đồng nặng về tục lệ truyền thống hơn là pháp lý được quy định bởi nhà
nước (phép vua thua lệ làng).
Thứ sáu: So với thành thị, cộng đồng dân cư nông thôn thường mang
tính thuầ
n nhất hơn; hướng dịch chuyển xã hội cũng khác hơn. Những người có
học vấn cao, chuyên môn giỏi thường di động dọc và ra các thành phố. Số còn
lại di động ngang giữa các vùng và giữa các ngành, nghề.
17
Thứ bảy: về văn hoá, ở nông thôn văn hoá của cộng đồng dân cư mang
đậm nét dân gian. Đây là cái nôi nuôi dưỡng và lưu truyền những tập tục, tín
ngưỡng, văn hoá truyền thống.
Nông thôn Việt Nam, ngoài những đặc trưng trên còn những điều khác
biệt:
Một là, dân cư nông thôn Việt Nam chủ yếu là nông dân trồng lua nước.
Bình quân ruộng đất thấp. Sản xuất trong điều kiện thiên nhiên khắ
gian chưa nhiều, ảnh hưởng của những nhân tố mới chưa thể tạo ra nhi
ều thay
18
đổi có tính quyết định nên trình độ phát triển của xã hội nông thôn Việt Nam
chưa cao; mức sống của cộng đồng còn thấp; tàn dư những tập tục lạc hậu còn
nặng; tình trạng này cần đặc biệt chú ý ở những vùng cao, vùng sâu, vùng xa,
vùng khó khăn.
Năm là, xã hội nông thôn Việt Nam đang được phân chia thành những
khu vực có đặc điểm phát triển kinh tế xã hội khá khác nhau: (Bắc, Trung,
Nam; Miền núi, Trung du, đồng bằng, ven bi
ển; đồng bằng Bắc bộ, đồng bằng
Nam bộ…). Ở mỗi vùng này, trình độ phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội
đang khá khác nhau, do vậy, quản lý sự phát triển xã hội phải chú ý những đặc
điểm này.
Như vậy là, cũng như nông thôn của nhiều nước khác, nông thôn Việt
Nam có những đặc trưng chung về phát triển. Trong đó, trình độ phát triển kinh
tế xã hội chưa cao, nghề nghiệp củ
a cư dân chủ yếu là trông trọt, chăn nuôi. Kỹ
thuật sản xuất còn lạc hậu, năng suất lao động thấp, lối sống người sản xuất nhỏ
còn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, ở nông thôn Việt Nam, tính cố kết cộng đồng
cao. Thiết chế làng xã tồn tại cùng thiết chế gia đình, dòng tộc tạo sự gắn kết
khá chặt chẽ giữa các thành viên của cộng đồng t
ạo nên sắc thái đặc thù của xã
hội nông thôn. Đây là điểm cần đặc biệt chú ý trong nghiên cứu về phát triển xã
hội và quản lý PTXH ở nông thôn Việt Nam.
1.3.2. Quản lý phát triển xã hội ở Nông thôn Việt Nam:
Đặc trưng của một loại hình quản lý nào đó, nhất là quản lý xã hội phụ
thuộc vào đặc điểm, hoàn cảnh, cách thức tư duy, quan điểm chính trị, hệ giá trị
chuẩn mự
những di chứng và ảnh hưởng của nó đang còn khá nặng nề trong cách nghĩ,
cách làm, cách tổ chức và chỉ
đạo của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Biểu hiện cụ thể là: Còn hiện tượng cửa quyền, quan liêu, sách nhiễu và đặc
biệt là tệ nạn tham nhũng đang còn rất trầm trọng trong nhiều mắt khâu của quá
trình quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Cơ chế quản lý cũ – hành chính, quan
liêu, bao cấp chưa mất hẳn. Cơ chế quản lý mới dựa trên những quy luật và
nguyên t
ắc của thị trường chưa được xác lập hoàn toàn. Một số khâu trong
quản lý nhà nước vẫn còn hiện tượng xin – cho. Cơ chế quản lý hành chính,
bao cấp chưa bị xoá bỏ triệt để, cơ chế quản lý mới, thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa chưa được xác lập đầy đủ . Đây là đặc điểm quan trọng chi
phối quá trình quản lý kinh tế và quản lý xã hộ
i ở Việt Nam hiện nay. Chính
điều này làm cho việc quản lý, nhất là quản lý xã hội ở các vùng nông thôn còn
một số mắt khâu thiếu cơ sở pháp lý, thiếu tính rõ ràng, minh bạch.
- Chủ trương kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ
trương đúng, phù hợp với tiến trình phát triển của xã hội Việt nam. Chủ trương
này giúp Việt nam vừa tận dụng được những
ưu thế của kinh tế thị trường trong
việc phát triển sản xuất, kích thích tính tích cực của người lao động, tăng năng
xuất lao động xã hội, vừa tìm kiếm những giải pháp thích hợp nhằm hạn chế
những ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế thị trường đến cộng đồng xã hội, đảm
bảo sự phát triển xã hội bền vững. Quản lý sự phát tri
ển của xã hội nông thôn
20
trong điều kiện đặc thù này, yêu cầu vừa phải tăng cường sự quản lý tập trung
của nhà nước song lại phải chú ý phát huy cao độ vai trò làm chủ của nông dân
và các tầng lớp dân cư nông thôn. Ở đây, sự kết hợp giữa những hình thức tổ
xã hội và tạo nên những đặc trưng cần chú ý trong quản lý các quá trình kinh
tế, xã hội và chính trị trong cả nước cũng nh
ư ở nông thôn trong giai đoạn hiện
nay.
- Việt Nam là một nước Phương Đông, dù cho đổi mới, mở cửa, hội nhập
có tạo ra nhiều thay đổi, song mô hình và phương thức quản lý vẫn mang đậm
21
dấu ấn của một xã hội Phương Đông. Trong đó tư duy vẫn mang nặng “yếu tố
duy tình”, “Yếu tố duy lý” đang trong quá trình phát triển. Còn quản lý vẫn
nặng về “Đức trị”. “Pháp trị” đang được tặng cường trong quá trình hội nhập.
Những yếu tố này đang chi phối và tạo nên sắc thái đặc thù của mẫu hình quản
lý PTXH ở các vùng nông thôn Việt Nam.
Ngoài ra, ở Việt nam, sự cố kế
t khá chặt chẽ của cộng đồng trong các
làng xã cùng sự tồn tại chế độ ruộng công làm cho tính tự quản cộng đồng được
duy trì và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Ngày
nay, dù kinh tế thị trường và toàn cầu hóa có làm thay đổi nhiều quan hệ kinh
tế xã hội của con người trong cộng đồng dân cư nông thôn Việt nam, thì tính cố
kết cộng đồng và tính tự quản vẫn là những yế
u tố đặc trưng chi phối hoạt động
quản lý và hành vi quản lý của con người Việt nam hiện nay. Ở một góc độ nào
đó, những yếu tố này cộng với tác phong của người sản xuất nhỏ còn chưa
được khắc phục triệt để trong mỗi con người làm cho ở đâu đó phép tắc của nhà
nước vẫn còn thua luật lệ ở các làng xã. Tính tự do thiếu kỷ luật còn nặng trong
một số bộ phận dân cư. Điều này còn ảnh hưởng không ít đến tính đặc thù
trong hành vi quản lý xã hội nhất là quản lý sự phát triển xã hội ở các vùng
nông thôn Việt nam hiện nay.
Như vậy là, ở Việt nam hiện tại, tuy quá trình đổi, mới mở cửa, hội nhập,
chuyển sang kinh tế thị trường đã tiến được một chặng đường dài, song sự thay
của những lực lượng xã hội có lợi ích chung, quan điểm chung, lập trường
chung đấu tranh với những lực lượng xã hội đối lập khác. Đây chính là nguồn
gốc, động lực của sự vận động và phát triển của xã hội trong suốt mấy ngàn
năm lịch sử vừa qua. Đây là yếu tố làm cho xã hội vận động qua năm hình thái
kinh tế xã hội.
Xã hội, từ chế độ công xã nguyên thủy đến chế độ xã hội xã hội chủ
nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà loài người đang định hướng đến. Mâu thuẫn
trong những xã hội có giai cấp đối kháng bao giờ cũng thể hiện thành đấu tranh
giai cấp mà cách mạng là cái nút cuối cùng quyết định thắng lợi của giai cấp
tiến bộ. Còn giai cấp tiến bộ nhờ đại diện cho l
ực lượng sản xuất tiên tiến cho
năng suất lao động cao hơn hẳn năng suất lao động của xã hội cũ, đồng thời, nó
cũng đưa ra được những cách thức tổ chức hệ thống chính trị và tổ chức xã hội
hợp lý nhất mà điều kiện lúc đó cho phép. Sự phát triển xã hội nhờ vậy mà
được khẳng định. Đây là tinh thần cơ bản nh
ất của lý luận Mác xít về mẫu
thuẫn, xung đột và phát triển xã hội.
Như vậy, quản lý sự phát triển xã hội theo quan điểm của các nhà lý luận
Mác xít chính là đề ra những biện pháp thích hợp nhằm tác động vào con
người, vào xã hội với tất cả những mối quan hệ, kinh tế, chính trị, văn hóa, tư
tưởng của nó để xã hội phát triển theo đúng những quy luật vốn có, hướng xã
hộ
i đến công bằng, bình đẳng trên tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con
người. Quản lý sự phát triển xã hội chính là quản lý con người và những mối
quan hệ của con người trong mỗi nhóm xã hội hay trong từng cộng đồng xã hội
hướng con người đến cái chân, cái thiện, cái mỹ; làm cho đời sống mỗi con
23
người và của cả cộng đồng xã hội được đảm bảo nhất. Quản lý phát triển xã hội
tuy là hoạt động chủ quan nhưng phải tuân theo những quy luật khách quan,
triển những ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng. Chủ nghĩa tư bản
phát triển đầu tiên ở Châu Âu, Châu Mỹ đã bắt đầu như vậy. Đấy chính là sự
phát triển tuần tự theo đúng quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trong bất
kỳ hình thái kinh tế, xã hội nào.
Ngày nay, mô hình phát triển tuần tự này đã có không ít nước phát triển
theo nó. Ở Châu Á, có thể kể tới quá trình phát triển của Thái Lan, Indonesia,
24
Malaixia, giai đoạn đầu của Hàn Quốc và Trung Quốc… Đầu tiên, để phát
triển, nếu không có nguồn vốn tích lũy (hỗ trợ) quyết định từ bên ngoài thì phải
bắt đầu từ nông nghiệp, nông thôn và nông dân và công nghiệp nhẹ. Sau đó
mới phát triển công nghiệp, kết hợp giữa công nghiệp và nông nghiệp để trở
thành một nước công nghiệp mới. Đây chính là quá trình phát triển tuần tự.
Quá trình này ngắn hay dài, phụ thuộc vào
điều kiện, hoàn cảnh và cách thực tổ
chức giải quyết của từng nước.
Ở Châu Phi, hiện nay, một số nước cũng đang phát triển theo cả hai mô
hình: tuần tự và nhảy vọt. Mô hình phát triển xã hội tuần tự đang diễn ra với
các nước Angola, Dambia Ở những nước này, các nhà lãnh đạo quản lý dựa
vào tiềm năng lao động và tiềm năng tài nguyên đất, nước, khí hậu và khoáng
sản…
để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và những ngành trong nước
có thế mạnh, lấy đó làm cơ sở để mở rộng sự phát triển sang các khu vực công
nghiệp, dịch vụ, thương mại. Từ đó, chuyển dần sang công nghiệp hóa và mở
rộng quan hệ quốc tế. Một số nước khác (như Ai Cập và Nam Phi) dựa vào tài
nguyên, dựa vào thế mạnh về sự phát triển sẵ
n có của mình để đầu tư phát triển
những ngành công nghiệp, dịch vụ mũi nhọn, đẩy nền kinh tế phát triển cao.
Trên cơ sở này mà trở lại đầu tư phát triển cho khu vực nông thôn và những
khu vực khác. Đây là mô hình phát triển không tuần tự - cực tăng trưởng.
Việt Nam là một nớc nông nghiệp, nông dân chiếm đại bộ phận trong
dân c. Nông dân Việt nam có truyền thống yêu nớc. Vì vậy, trong cách mạng
dân tộc dân chủ cũng nh trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng vai trò của nông dân, nông
nghiệp và nông thôn. Đây là ba yếu tố không thể tách rời trong quá trình cách
mạng. Trong đó, nông dân là chủ thể, là đồng minh chiến lợc của giai cấp
công nhân.
Trong báo cáo tại Hội nghị Trung ơng lần thứ 4 (khoá II) và trong Báo
cáo tại Quốc hội (khoá I) họp kỳ thứ 3 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: "Vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân vì nông dân là tối đại đa số
trong dân tộc. Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là nông dân, vì nông dân
là lực lợng đông đảo nhất chống đế quốc và phong kiến".
Mục tiêu của Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu trong quản lý
phát triển xã hội nông thôn là đa nông dân tiến lên CNXH, xây dựng nền nông
nghiệp hiện đại, nông thôn mới do nông dân làm chủ, xoá bỏ nghèo nàn, lạc
hậu,đảm bảo đời sống vật chất đầy đủ và đời sống tinh thần phong phú, giàu
bản sắc dân tộc.
Để đạt mục tiêu đó, trớc hết Đảng phải tổ chức lãnh đạo nông dân
cùng giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân tiến hành cách mạng dân tộc dân
chủ, thủ tiêu chế độ thực dân - phong kiến, giành độc lập dân tộc và đem ruộng
đất về cho nông dân.