một số vấn đề cho vay hộ sản xuất ở hội sở ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn hà giang-thực trạng và giải pháp - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mục lục
lời nói đầu
Chơng I:
Hộ sản xuất trong nền kinh tế nớc ta và vai trò của tín
dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của hộ sản xuất
I. Vị trí, vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế nớc ta
1. Hộ sản xuất
2. Sự phát triển của kinh tế hộ và vai trò của hộ sản xuất
2.1. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất
2.2. Vai trò của hộ sản xuất đối với các ngành kinh tế nói chung và
ngành Ngân hàng nói riêng.
3. Đặc điểm của kinh tế hộ
II. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của kinh tế
hộ
1. Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển của kinh tế nông thôn
2. Tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất
3. Cơ chế tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp đối với hộ sản xuất
chơng ii:
tình hình và thực tiễn tại Hội sở Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Giang
I. Tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn có ảnh hởng đến hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng.
1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và môi trờng kinh doanh của Ngân
hàng
2. Đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sản
xuất trên địa bàn thị xã Hà Giang
II. Khái quát hoạt động của Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Hà Giang
1. Sơ lợc quá trình hình thành và phát triển của Hội sở
2. Công tác huy động vốn

con đờng đầu t tín dụng, đồng với mới phát huy đợc hiệu quả.
Các Ngân hàng thơng mại nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn nói riêng là một trong những ngành có vốn lớn nhất để giúp cho
nền kinh tế nói chung và cho nông nghiệp - nông thôn nói riêng phát triển, góp
phần quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi khu
vực nông thôn.
Hộ nông dân đợc coi là đơn vị kinh tế tự chủ, đời sống của nông dân
ngày càng đợc nâng lên, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới. Những kết quả
đó có sự đóng góp to lớn của Ngân hàng Nông nghiệp, với phơng châm đi vay
để cho vay, Ngân hàng Nông nghiệp đã huy động đợc một khối lợng vốn lớn
để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nhiều thành phần khu vực nông nghiệp
nông thôn.
Định hớng đầu t vốn của Ngân hàng Nông nghiệp là tiếp cận khách hàng,
đa vốn đến ngời sản xuất. Vị trí của bộ sản xuất trong việc phát triển kinh tế
hàng hoá trong nông nghiệp là vô cùng quan trọng, nó là nguồn lực dồi dào
cung cấp lơng thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đồng
1
thời nó cũng là thị trờng tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, tạo công văn
việc làm, tận dụng mọi nguồn lực lao động trong nông thôn, góp phần hạn chế
các tệ nạn xã hội nhất là trong khu vực nông thôn hiện nay.
Để mọi tầng lớp nhân dân đều có thể đợc vay vốn phát triển sản xuất kinh
doanh, ngày 30 tháng 3 năm 1999 Chính phủ đã ban hành Quyết định số
67/1999/QĐ-TTg về Một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ cho việc
phát triển nông nghiệp và nông thôn với quy định hộ gia đình vay đến 10 triệu
đồng không phải thế chấp tài sản. Và mới đây là Nghị quyết số 11/2000/NQ-CP
ngày 31 tháng 7 năm 2000 của Chính phủ về Một số giải pháp điều hành kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội 6 tháng cuối năm 2000, nâng mức vay vốn
không phải thế chấp lên 20 triệu đồng. Văn bản này đã đợc triển khai sâu rộng
tới tận thôn bản làm nức lòng nông dân, tạo động lực mới, thúc đẩy sản xuất
phát triển mạnh mẽ, củng cố thêm lòng tin yêu của dân với Đảng, với Chính

triển nông thôn.
3
Chơng I
hộ sản xuất trong nền kinh tế nớc ta
và vai trò của tín dụng Ngân hàng nông nghiệp
đối với sự phát triển của hộ sản xuất
I. Vị trí, vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế n-
ớc ta.
1. Hộ sản xuất
Nớc ta là một nớc nông nghiệp thuần tuý với trên 80% dân số sống ở khu
vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chiếm giữ vai trò hết
sức quan trọng trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trờng và phát
triển kinh tế của đất nớc. Chỉ khi nào nông thôn đợc công nghiệp hoá - hiện
đại hoá, khi học vấn, kiến thức và công nghệ tiên tiến nằm trong tay nông dân,
đợc bà con sử dụng thành thạo và vững chắc thay cho con trâu đi trớc, cái cày
theo sau, khi xởng máy mọc lên ở các làng mạc, thị trấn, ngành nghề phát triển
rộng khắp, một bộ phận đáng kể nông dân trở thành công nhân công nghiệp,
hình thành cục diện mới ở các vùng nông thôn thì lúc đó mới có thể nói công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đợc hoàn thành cơ bản trên phạm vi cả nuớc
(1)
. Chính
vì lẽ đó kinh tế nông nghiệp nông thôn mà chủ nhân là hộ sản xuất có vị trí vô
cùng quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nớc.
Hộ sản xuất ra đời là một yêu cầu bức xúc của ngành kinh tế, thể hiện
chủ trơng, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nớc ta. Từ khi Chỉ thị 100
khoán 10 ra đời, kinh tế hộ sản xuất đã hình thành và phát triển đa dạng. Thực
chất hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản
xuất cũng nh tiêu thụ sản phẩm mà mình làm ra. Nói cách khác hộ sản xuất là
chủ thể trong mọi mối quan hệ sản xuất kinh doanh.
2. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất và vai trò của hộ sản xuất.

Chính vì vậy, trên cục diện nền kinh tế đã hình thành đa dạng các ngành
nghề ở mọi nơi, mọi lúc, ngời lao động cũng tận tâm, tận lực mở rộng sản xuất
trên các lĩnh vực. Ngời lao động gần nh hầu hết đã có công ăn việc làm, thời
gian lao động đợc sử dụng tối đa, kinh nghiệm sản xuất cùng với áp dụng tiến
5
bộ khoa học kỹ thuật đã góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của toàn bộ nền
kinh tế. Tiềm năng đất nớc và năng lực sản xuất của toàn bộ xã hội đã đợc khai
thác triệt để, có hiệu quả.
Việc mở mang ngành nghề đặc biệt là ngành nghề truyền thống, đã tạo ra
cơ cấu sản phẩm đa dạng phong phú, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của ngời
dân và góp phần xuất khẩu, tạo nên nền sản xuất hàng hoá khá phát triển.
Khi hộ sản xuất đã biết tự chủ về hoạt động của sản xuất kinh doanh và
đã thu đợc hiệu quả kinh tế thì đời sống của họ đợc nâng lên, tiện nghi sinh hoạt
và t liệu sản xuất cũng trở nên hiện đại hơn, góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh
tế nông thôn với hệ thống cơ sở hạ tầng khang trang đẹp đẽ, an ninh trật tự xã
hội đợc giữ vững. Thật đúng là hộ sản xuất là những ngời dân giàu làm nên n-
ớc mạnh, xã hội văn minh.
b. Vai trò của hộ sản xuất đối với nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Trớc đây kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển một cách ỳ ạch, hiệu
quả thấp, vì vậy việc bố trí lao động cha hợp lý, cách tổ chức sản xuất và phân
phối sản phẩm cha khích lệ đợc ngời lao động. Nhng từ khi hộ sản xuất ra đời,
kinh tế hộ sản xuất phát triển rộng rãi thì việc tận dụng lao động về mặt số lợng,
cờng độ đã đợc sử dụng hợp lý.
Chính vì vậy, hộ sản xuất đã tự chủ trong tất cả các khâu công việc: Từ
việc mua sắm vật t thiết bị sản xuất đến việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi
cho phù hợp với đặc điểm của từng vùng đất, từng địa phơng, từng thời kỳ nhằm
thu đợc hiệu quả cao và tăng cờng đợc khối lợng hàng hoá cho xuất khẩu. Có
thể nói Việt Nam từ một nớc nghèo, đói ăn đã trở thành nớc thứ 2 trên thế giới
về xuất khẩu gạo. Đó là sự đóng góp to lớn của kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp
nông thôn.

Tín dụng Ngân hàng đáp ứng yêu cầu về vốn cho các doanh nghiệp, t
nhân, các thành phần kinh tế... nhằm duy trì quá trình tái sản xuất đợc liên tục.
Từ đó thúc đẩy quá trình tập trung, tái tạo vốn để tập trung phát triển sản xuất.
Ngoài ra tín dụng Ngân hàng còn là công cụ để tài trợ cho các ngành kinh tế
theo mục tiêu của Chính phủ.
7
1. Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế nông thôn.
Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, kinh tế nông nghiệp,
nông thôn đã đợc xác định đúng vị trí và vai trò của mình trong chiến lợc phát
triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nớc.
Mục tiêu của sự phát triển đó là: Tạo ra một nền sản xuất hàng hoá đa
dạng ở nông thôn, cải thiện đời sống nhân dân, tăng trởng cho nền kinh tế và
tạo ra bộ mặt xã hội nông thôn Việt Nam hiện đại mà lành mạnh, phát triển và
trong sạch.
Vì thế tín dụng Ngân hàng trở lên vô cùng cần thiết đối với sự phát triển
kinh tế nông thôn, có tín dụng Ngân hàng thì việc tập trung các nguồn vốn ổn
định đầu t tái sản xuất cho sản xuất nông nghiệp. Bởi một lẽ dân ta còn rất thiếu
vốn để sản xuất, trong khi đó thế mạnh và khả năng tiềm tàng của đất nớc lại rất
dồi dào. Nếu có vốn, mọi ngành nghề sẽ đợc mở mang và phát triển, tạo ra một
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế quan trọng: Cơ cấu sản phẩm sẽ thay đổi phù hợp
với nhu cầu của thị trờng trong nớc, tiến tới đáp ứng nhu cầu của thị trờng thế
giới. Mặt khác nếu có vốn tín dụng thì ngời sản xuất có thêm vốn giúp họ mạnh
dạn đầu t, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thu đợc hiệu quả kinh tế cao
hơn.
Nh vậy, rõ ràng tín dụng Ngân hàng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát
triển kinh tế nông nghiệp và chỉ có vốn tín dụng là nguồn vốn gần nhất, tiện lợi
nhất giúp các nhà sản xuất có đủ vốn để sản xuất kinh doanh, có cơ sở để hạch
toán lãi, lỗ và giúp ngăn chặn tệ nạn xã hội cho vay nặng lãi ở nông thôn.
2. Tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ.
Trớc đây hộ sản xuất do tâm lý ngại vay vốn Ngân hàng và do nhiều lý

thiện đời sống nhân dân. Ngày 28 tháng 6 năm 1991 Chủ tịch Hội đồng Bộ tr-
ởng (nay là Thủ tớng Chính phủ) ra Chỉ thị 202/CT về việc cho vay vốn sản xuất
nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp đến hộ sản xuất. Để thực hiện chỉ thị trên,
ngày 21 tháng 7 năm 1991 Tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Việt Nam ký văn bản số 499 quy định về cho vay hộ sản xuất
kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp, diêm nghiệp. Sau một năm
thực hiện chỉ thị trên đã tổng kết những kết quả đạt đợc cũng nh những tồn tại
9
trong cho vay hộ sản xuất. Chính phủ đã ra Nghị định số 14/CP ngày 2 tháng 3
năm 1993 ban hành chính sách cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông -
lâm - ng - diêm nghiệp và kinh tế nông thôn.
Thông t số 01/TTNH ngày 26 tháng 3 năm 1993 hớng dẫn thực hiện
Nghị định của Chính phủ về chính sách sản xuất vay vốn để phát triển nông -
lâm - ng - diêm nghiệp về kinh tế nông thôn. Ngay sau đó quy định 499/TDNT
ban hành ngày 2 tháng 9 năm 1993 của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam Về
biện pháp nghiệp vụ cho hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông - lâm - ng -
diêm nghiệp và kinh tế nông thôn đã thực sự trở thành cẩm nang tín dụng của
ngành và của mỗi cán bộ Ngân hàng.
Song để ngày một hoàn thiện hơn về quy chế cho vay tới khách hàng
cũng nh khuyến khích sự phát triển ngày càng lớn mạnh của hộ kinh tế.
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã căn cứ vào quyết định số
324/1998/QĐ-NHNN1 ngày 30 tháng 9 năm 1998 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nớc Việt Nam về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối
với khách hàng.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã ban hành
quyết định số 180/QĐ-HĐQT: Quy định cho vay đối với khách hàng ngày 15
tháng 12 năm 1998.
Đây là văn bản đầu tiên cụ thể hoá các quy định của hoạt động các tổ
chức tín dụng về hoạt động tín dụng.
Để bổ sung và hoàn thiện hơn các quy định về hoạt động tín dụng cho

vụ, đời sống.
Kinh doanh có hiệu quả.
Không có nợ quá hạn khó đòi hoặc nợ quá hạn trên 6 tháng tại Ngân
hàng Nông nghiệp.
3.2.3. Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp:
11
3.2.4. Có dự án đầu t, phơng án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có
hiệu quả hoặc có dự án đầu t, phơng án phục vụ đời sống khả thi kèm theo ph-
ơng án trả nợ khả thi.
3.2.5. Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của
Chính phủ, của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc và hớng dẫn của Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam.
3.3. Loại cho vay.
3.3.1. Cho vay ngắn hạn.
3.3.2. Cho vay trung, dài hạn:
3.4. Đối tợng cho vay:
3.4.1. Giá trị vật t, hàng hoá, máy móc, thiết bị bao gồm cả thuế giá trị
gia tăng nằm trong tổng giá trị lô hàng và các khoản chi phí để khách hàng thực
hiện các dự án đầu t, phơng án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu t,
phơng án phục vụ đời sống.
3.4.2. Các nhu cầu tài chính của khách hàng sau đây:
Số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục
xuất khẩu, nhập khẩu mà giá trị lô hàng đó Ngân hàng Nông nghiệp cho vay.
Số lãi tiền vay trả cho Ngân hàng Nông nghiệp trong thời hạn thi
công, cha nghiệm thu bàn giao và đa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho
vay trung, dài hạn để đầu t tài sản cố định mà khoản trả lãi đợc tính trong giá trị
tài sản cố định đó.
Số tiền khách hàng vay để trả cho khoản vay tài chính (bằng tiền) cho
nớc ngoài mà các khoản vay đó đã đợc Ngân hàng Nông nghiệp bảo lãnh, nếu
có đủ các điều kiện sau: dự án đầu t, phơng án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ

thiết, khi khách hàng và Ngân hàng Nông nghiệp có nhu cầu, Ngân hàng Nông
nghiệp nơi cho vay cùng khách hàng thoả thuận mức lãi suất cho vay phù hợp
và phải ghi bổ sung vào hợp đồng tín dụng.
3.7. Mức cho vay:
13
Ngân hàng Nông nghiệp căn cứ vào nhu cầu vay vốn của khách hàng,
mức cho vay so với giá trị tài sản làm đảm bảo tiền vay theo quy định về đảm
bảo tiền vay của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam; khả năng trả nợ của khách
hàng và khả năng nguồn vốn, mức phán quyết của Ngân hàng Nông nghiệp để
quyết định mức cho vay, nhng không vợt quá 15% vốn tự có của Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, trừ trờng hợp đối với khoản vay
từ các nguồn uỷ thác hoặc khách hàng vay là tổ chức tín dụng.
Vốn tự có đợc tính cho tổng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh trong
kỳ hoặc cho từng dự án, phơng án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
+ Đối với cho vay ngắn hạn, khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu 20%
trong tổng nhu cầu vốn.
+ Đối với cho vay trung, dài hạn, khách hàng phải có vốn tự có tối thiểu
30% trong tổng nhu cầu vốn.
+ Khách hàng có tín nhiệm với Ngân hàng Nông nghiệp (xếp loại A),
nếu vốn tự có thấp hơn quy định trên thì Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp nơi
cho vay quyết định mức vốn tự có tham gia và xác định mức cho vay phù hợp
với khả năng trả nợ.
+ Đối với khách hàng đợc Ngân hàng Nông nghiệp nơi cho vay lựa
chọn, áp dụng cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Việc xác
định vốn tự có tham gia, mức cho vay theo điều 17 quy định việc thực hiện các
biện pháp đảm bảo tiền vay trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam
ban hành kèm theo quyết định 167/HĐQT-03.
3.8. Trả nợ gốc và lãi:
3.8.1. Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khả năng tài
chính, thu nhập và nguồn trả nợ của khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp nơi

của pháp luật.
3.11.2. Khách hàng có nghĩa vụ:
15
Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc
vay vốn và chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin, tài liệu đã
cung cấp.
Sử dụng tiền vay đúng mục đích và thực hiện đúng các nội dung khác
đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Trả nợ gốc và lãi tiền vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
Chịu trách nhiệm trớc pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả
thuận về việc trả nợ vay và thực hiện các nghĩa vụ đảm bảo nợ vay đã cam kết
trong hợp đồng tín dụng.
3.11. Quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng Nông nghiệp:
3.11.1. Ngân hàng Nông nghiệp có quyền:
Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án đầu t, phơng
án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu t, phơng án phục vụ đời sống
khả thi, khả năng tài chính của mình và của ngời bảo lãnh trớc khi quyết định
cho vay;
Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện
vay vốn, dự án hoặc phơng án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với
quy định của pháp luật hoặc Ngân hàng Nông nghiệp không đủ nguồn vốn để
cho vay.
Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của
khách hàng;
Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trớc hạn khi phát hiện khách hàng
cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng;
Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không
có thoả thuận khác, thì Ngân hàng Nông nghiệp có quyền bán tài sản làm đảm
bảo tiền vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của
pháp luật hoặc yêu cầu của ngời bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với tr-

phải có thêm hợp đồng làm dịch vụ.
Doanh nghiệp vay chuyển tải vốn cho họ gia đình, cá nhân, ngoài hồ
sơ đã quy định đối với doanh nghiệp phải có thêm:
+ Hợp đồng cung ứng vật t, tiền vốn cho hộ gia đình, cá nhân nhận
khoán.
+ Danh sách hộ gia đình, cá nhân đề nghị Ngân hàng cho vay.
Nh vậy: Qua khái quát quy định cho vay theo quyết định 06/QĐ-HĐQT cho
thấy, các quy định rất cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế của các hộ mà vẫn
đảm bảo tính pháp lý và khả năng bảo toàn của Ngân hàng.
18
Chơng II
tình hình thực tiễn tại hội sở Ngân hàng
Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Giang
i. tình hình kinh tế - x hội trên địa bàn có ảnh hã ởng
đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và môi trờng kinh doanh của Ngân
hàng:
Thị xã Hà Giang là trung tâm hành chính, trung tâm kinh tế, văn hoá của
tỉnh. Là thị xã của tỉnh miền núi nên địa hình, địa lý tự nhiên rất khó khăn, hiểm
trở, có tới 75% diện tích là đồi núi cao, sông, suối sâu, giao thông khó khăn, lâm
thổ sản bị khai phá bừa bãi, lại bị chiến tranh biên giới (1979-1986) tàn phá cha
khôi phục đợc.
Thị xã Hà Giang có diện tích tự nhiên 97km
2
với 5 xã thuần nông và 4
phờng bán nông nghiệp, diện tích canh tác đất nông nghiệp là 1.200ha.
Dân số của thị xã có gần 30 vạn ngời, hơn 10 dân tộc cùng chung sống.
Tổng số hộ sản xuất 4.100 hộ với 13.900 khẩu, trong đó có 3.500 lao động.
Kinh tế nông nghiệp đã chuyển dần từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản
xuất chuyên canh và giao lu hàng hoá đã phát triển. Trình độ dân trí dần đợc

Với hơn 2.100 hộ sản xuất trên địa bàn thị xã rộng 97km
2
, gồm 5 xã, 4
phờng, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí cha cao, việc cho vay
hộ sản xuất tại địa bàn thị xã Hà Giang không chỉ đơn thuần là vốn kinh doanh
mà còn phục vụ chính sách chiến lợc của Đảng, coi nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, nông thôn, nông dân là bớc đi lên công nghiệp hoá.
Để cho vay đợc tới hộ sản xuất ở thị xã Hà Giang, thực chất là phải giải
quyết đợc các vấn đề sau:
20
Một là về cán bộ tín dụng: Yêu cầu về cán bộ tín dụng phải thực sự toàn
diện trên mọi mặt, phải có trình độ, có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp, có sức
khoẻ, có quan điểm phục vụ nhân dân hết mình.
Khi xuống cơ sở làm việc, cán bộ tín dụng phải độc lập xử lý các tình
huống nghiệp vụ. Vì vậy không có đủ năng lực, không có đạo đức nghề nghiệp
thì sẽ không giải quyết đợc công việc, dễ phát sinh tiêu cực. Mặt khác, muốn là
bạn với nhà nông cũng đòi hỏi cán bộ tín dụng phải am hiểu kỹ thuật về cây
trồng, vật nuôi để cùng tham gia với hộ nông dân, lựa chọn phơng án tốt để đầu
t phát triển kinh tế.
Với địa hình, địa lý tự nhiên của địa bàn phải trèo đèo, lội suối... nếu ng-
ời cán bộ tín dụng không có sức khoẻ thì không thể tới các thôn bản, tới hộ sản
xuất, không thể bám trụ để hoàn thành nhiệm vụ của mình.
Nếu không có quan điểm vững vàng sẽ không thấy hết vai trò, trách
nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp - nông thôn của Đảng
và Nhà nớc, sẽ bị co lại trớc khó khăn và nảy sinh tiêu cực, gây thiệt hại đến sức
lao động, tiền bạc, thời gian của ngời dân, thay vì làm lợi cho họ.
Hai là vấn đề màng lới và hình thức đầu t: Nếu để riêng cho cán bộ tín
dụng trực tiếp nắm bắt nhu cầu của từng hộ, thẩm định từng món vay ở thôn bản
thì không thể đáp ứng đợc nhu cầu đông đảo của hộ sản xuất mang tính thời vụ
đợc. Thời vụ là cùng lúc có phân bón, cây giống làm sao hộ sản xuất thiếu vốn

1. Sơ lợc quá trình hình thành và phát triển của Hội sở:
Hà Giang là tỉnh mới đợc chia tách ra từ tỉnh Hà Tuyên cũ vào tháng
10/1991. Cùng đó, hệ thống Ngân hàng Hà Giang đã đợc chia tách và hình
thành, trong đó có Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh Hà Giang. Cơ cấu tổ chức bộ
máy hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh lúc đó chủ yếu là tiếp quản và
kiện toàn lại bộ máy hoạt động sẵn có của Ngân hàng thị xã Hà Giang và các
Ngân hàng huyện.
Đầu năm 1992, Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp Hà Giang đợc thành lập
trên cơ sở tiếp quản mọi hoạt động của Ngân hàng thị xã Hà Giang trớc đây.
Mô hình tổ chức của Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp Hà Giang thực chất là
thực hiện mô hình kéo dài từ Văn phòng Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh, trực tiếp
22
tổ chức hoạt động kinh doanh theo quy chế tổ chức hoạt động của Ngân hàng
Nông nghiệp Việt Nam trên địa bàn thị xã Hà Giang.
Cơ cấu tổ chức và biên chế của Hội sở nh sau:
Phó giám đốc trực tiếp phụ trách: 01 ngời
Phòng kế toán giao dịch: 07 ngời
Phòng ngân quỹ: 04 ngời
Phòng kinh doanh: 09 ngời
Cộng: 21 ngời
sơ đồ mô hình tổ chức của hội sở
(Bộ máy của Hội sở gồm ---)
23
Ngân hàng Nông nghiệp tỉnh
Phòng
Kế
hoạch
nghiệp
vụ
Phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status