TIỂU LUẬN: Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phục Hoà - Thực trạng và giải pháp - Pdf 11


TIỂU LUẬN:
Vấn đề cho vay kinh tế ngoài quốc
doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp
và phát triển nông thôn Phục Hoà
- Thực trạng và giải pháp
Lời nói đầu

Trong sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước chúng ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể, những năm qua nền kinh tế
đất nước ta ngày tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người dần dần được nâng cao,
đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, đạt được kết quả đó là sự phấn đấu của
tất cả các cấp các ngành trong đó có sự đóng góp không nhỏ của ngành Ngân hàng.

I. Kinh tế ngoài quốc doanh:
1. Khái niệm:
Kinh tế ngoài quốc doanh là một bộ phận cấu thành nền kinh tế quốc dân, kinh
tế ngoài quốc doanh do kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác hợp thành. Trong công cuộc
đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được khuyến khích phát triển, đây là
điều kiện thuận lợi cho kinh tế ngoài quốc doanh trỗi dậy. Các tổ chức kinh tế ngoài
quốc doanh đã nhanh chóng thích ứng với nền kinh tế thị trường, tiếp cận nhanh với sự
phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ, tham gia vào tất cả các lĩnh vực hoạt động
sản xuất kinh doanh. Kinh tế ngoài quốc doanh bao gồm:Hợp tác xã, Công ty, Doanh
nghiệp tư nhân, Hộ cá thể và Cá nhân kinh doanh.
1. 1. Hợp tác xã
Hợp tác xã là đơn vị kinh tế do nhiều lao động tự nguyện tham gia góp vốn để
tổ chực hoạt động sản xuất kinh doanh. HTX hoạt động theo nguyên tắc dân chủ, bình
đẳng đối với mọi xã viên nhằm kết hợp sức mạnh của tập thể xã viên, ban chủ nhiệm
hợp tác xã có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của hợp tác xã.
1. 2. Công ty
Công ty là loại hình doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, là đơn vị
kinh tế do các cá nhân tự bỏ vốn thành lập, trách nhiệm, quyền hạn và lợi nhuận được
phân chia theo tỷ lệ vốn góp, loại hình công ty được tổ chức gồm hội đồng quản trị,
ban giám đốc, ban kiểm soát và dưới đó là các bộ phận trực tiếp sản xuất kinh doanh
Công ty có 2 loại đó là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên chỉ chịu trách nhiệm
trong phạm vi vốn góp của mình trong công ty
- Công ty cổ phần gồm ít nhất là ba thành viên, thành lập do sự góp vốn của các
cổ đông mỗi cổ đông chỉ chịu trách nhiệm theo phần vốn góp của mình trong công ty.
1. 3. Doanh nghiệp tư nhân:

- Trong nền kinh tế nước ta các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh có số lượng
tương đối lớn, mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận. Với tính
năng động, sáng tạo của mình, các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh tham gia vào hầu
hết mọi lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoại trừ một số ngành nghề do Nhà
nước độc quyền quản lý hoạt động. Do các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, lời ăn, lỗ chịu nên họ
thấy lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh nào có hiệu quả, thu lợi nhuận cao thì họ
sẽ đầu tư vào lĩnh vực đó và rồi khi gặp khó khăn họ lại chuyển sang hoạt động kinh
doanh ở lĩnh vực khác nếu thấy hoạt động kinh doanh ở đó thuận lợi hơn.
Hai là : Kinh tế ngoài quốc doanh có trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh chưa
cao.
ở các nước trên thế giới có những Công ty hoạt động rộng trên nhiều quốc gia,
có tiềm lực kinh tế rất lớn, trình độ tổ chức hoạt động kinh doanh rất cao. Nhưng ở
nước ta hiện nay các doanh nghiệp nói chung và đối với kinh tế ngoài quốc doanh nói
riêng mới tiếp cận với nền kinh tế thị trường, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, năng lực
sản xuất chưa cao, chưa có điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh
doanh. Việc tiến hành tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào những
kinh nghiệm lâu đời, lực lượng lao động rất đông nhưng số lượng lao động được đào
tạo và có tay nghề cao còn ít, đặc biệt là đối với đội ngũ làm công tác quản lý điều
hành. Cho nên, ngoại trừ một số ít các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đứng vững
trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì nhiều
doanh nghiệp ngoài quốc doanh phải rất khó khăn mới duy trì được hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình trong sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường.
3. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh:
3.1. Kinh tế ngoài quốc doanh thu hút lao động trong xã hội, góp phần làm
giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Từ khi thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,

chất lượng sản phẩm.
3.4. Kinh tế ngoài quốc doanh là thị trường rộng lớn để NHTM huy động
vốn và đầu tư tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng phát triển về
số lượng cũng như quy mô hoạt động do đó nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất
kinh doanh của khu vực kinh tế này ngày càng lớn, cho nên để hoạt động kinh doanh
ngày càng phát triển, đáp ứng được khối lượng lưu thông hàng hoá ngày càng tăng thì
hầu hết các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh đều mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại
các NHTM, qua đó các NHTM huy động được một khối lượng tiền nhàn rỗi, tạm thời
nhàn rỗi của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, mặt khác do đòi hỏi của hoạt
động sản xuất kinh doanh nhiều khi nhu cầu về vốn cho hoạt động là rất lớn, vượt quá
khả năng nguồn vốn tự có thì lúc này các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh lại tìm đến
các NHTM để vay vốn, qua đó các NHTM có thể mở rộng đầu tư tín dụng vào khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh.
II. Ngân hàng thương mại và vai trò của NHTM đối với kinh tế ngoài quốc
doanh:
Trong nền kinh tế thị trường cùng với sự đổi mới của các ngành, ngành Ngân
hàng Việt nam đã có nhiều đổi mới phù hợp với xu thế phát triển chung của toàn xã
hội. Vào năm 1990 pháp lệnh Ngân hàng ra đời hệ thống Ngân hàng được tách ra
thành Ngân hàng TW (NH Nhà nước) và hệ thống Ngân hàng thương mại, khi đó ở
nước ta hệ thống NHTM ra đời.
NHTM được khái niệm như sau :
“Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ
yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử
dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh
toán”.
1. Hoạt động kinh doanh của các NHTM

do vậy muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân, giảm nhịp độ tiêu dùng. Để
tăng thu nhập quốc dân tức là để mở rộng quy mô sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy
mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế thì cần thiết phải có một khối lượng
vốn lớn, ngược lại nền kinh tế càng phát triển thì lại càng tạo ra nhiều vốn. NHTM là
chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD. NHTM tổ chức huy động
các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, bằng nguồn vốn huy
động được trong xã hội các NHTM đã đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho
các tổ chức kinh tế thông qua nghiệp vụ tín dụng của mình, qua đó các doanh nghiệp,
tổ chức kinh tế có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới công
nghệ, tăng năng xuất lao động nâng cao hiệu quả kinh tế
2.2. NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế
chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy
luật cung cầu, quy luật cạnh tranh sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của thị
trường, thoả mãn mọi nhu cầu của thị trường về số lượng, chất lượng, chủng loại thì
hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mới đạt hiệu quả cao và đứng vững trong
cạnh tranh, để đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu của thị trường thì các tổ chức kinh tế
không những cần phải hoàn thiện cơ chế quản lý, chế độ hạch toán kinh tế. v.v mà
còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, đổi mới dây chuyền công nghệ, mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh một cách thích hợp. Những hoạt động này đòi hỏi
phải có một khối lượng vốn đầu tư nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh
nghiệp, để giải quyết khó khăn về vốn thì các doanh nghiệp có thể vay vốn bổ sung từ
các Ngân hàng thương mại, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM là chiếc cầu nối giữa
các doanh nghiệp với thị trường.
2.3. NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, các NHTM hoạt động một cách
có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ của mình sẽ thực sự là một công cụ để Nhà nước

Sản phẩm sản xuất ra là những hàng hoá để sử dụng cho sản xuất hoặc phục vụ
cho tiêu dùng khi nó được đem ra thị trường tiêu thụ, để việc tiêu thụ được thực hiện
nhanh chóng đòi hỏi người mua tại thời điểm cần thiết phải có đủ tiền để thanh toán,
tuy nhiên có những lúc người mua không có khả năng thanh toán, lúc này NHTM có
thể đáp ứng vốn cho người mua. Qua đó NHTM tạo ra khả năng đảm bảo tính liên tục
của tiêu thụ sản phẩm một yếu tố của quá trình tái sản xuất, điều đó nói lên vai trò
quan trọng của NHTM đối với việc duy trì nhịp độ liên tục của quá trình tái sản xuất.
Để đảm bảo tính liên tục của quá trình tái sản xuất cũng như mở rộng sản xuất
trong những thời kỳ nhất định các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh cần bổ sung thêm
vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, NHTM góp phần thoả mãn nhu cầu vốn tiền tệ
tạm thời thiếu hụt cho các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh để thực hiện thanh toán
khi có sự chênh lệch về mức vốn tiền tệ hiện có so với nhu cầu chi trả và khi khối
lượng sản xuất tăng lên thì nhu cầu vốn bổ sung cũng được thoả mãn thông qua tín
dụng NHTM.
Trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, vai trò của NHTM
ngày càng tăng lên trong việc giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, điều đó được
thể hiện ở việc mở rộng phạm vi tín dụng đối với tất cả các tổ chức kinh tế, đặc biệt là
kinh tế ngoài quốc doanh, tăng các khoản cho vay đầu tư xây dựng cơ bản để mở rộng
và hiện đại hoá tài sản cố định, tăng năng lực sản xuất kinh doanh.
- NHTM với việc nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp ngoài quốc
doanh:
Hoạt động của các tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh theo nguyên tắc hạch toán
kinh tế đòi hỏi phải chấp hành nguyên tắc tự bù đắp, doanh nghiệp phải bảo đảm trang
trải các khoản chi phí bằng thu nhập của mình và có lãi. Việc sử dụng tín dụng NHTM
như là một nguồn hình thành vốn của các doanh nghiệp đòi hỏi phải tăng cường tiết
kiệm.
Trong hoạt động SXKD không có sự trùng khớp về mặt thời gian giữa số tiền

này tích tụ, tập trung vốn mua sắm máy móc thiết bị công nghệ hiện đại, mở rộng quy
mô sản xuất, giảm được tình trạng sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, làm ăn kém hiệu quả,
tạo ra thế cạnh tranh lành mạnh với kinh tế Nhà nước.
Mặc dù trong những năm gần đây được Đảng và Nhà nước quan tâm, Ngân
hàng đã có nhiều chính sách đổi mới, có những đầu tư đáng kể vào khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh nhưng hiện nay thực tế kết quả đầu tư tín dụng vào khu vực kinh tế
này còn rất khiêm tốn so với nhu cầu vốn của các tổ chức kinh tế này và khả năng cung
cấp vốn to lớn của các Ngân hàng thương mại. Chương II
Thực trạng về cho vay kinh tế ngoài quốc doanh
tại NHN0 & PTNT phục hoà, huyện Quảng hoà, Tỉnh Cao Bằng

I. Khái quát về tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Phục hòa.
1. Khái quát về NHNo & PTNT Phục Hoà.
1.1. Sự hình thành và phát triển
Cùng Với sự ra đời và phát triển của hệ thống NHNo&PTNT Việt nam, đến
năm 1990 NHNo Phục Hoà được hình thành, khi mới thành lập NHNo Phục Hoà có
tên gọi là phòng giao dịch NH Phục Hoà trực thuộc NHNo Huyện Quảng hòa và có trụ
sở tại Xã Hoà thuận, Huyện Quảng hoà, Tỉnh Cao bằng.

Khu vực Phục hòa là vùng kinh tế mới của tỉnh do vậy được tỉnh tập chung
nhiều nguồn lực hỗ trợ phát triển vùng công nghiệp mía đường, hơn nữa tại đây có cửa
khẩu quốc gia rất thuận lợi cho việc mở rộng thông thương giao lưu hàng hoá giữa
Việt Nam và Trung Quốc.
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT Phục Hoà.
NHNo & PTNT Phục Hoà là một Ngân hàng cấp III, địa bàn hoạt động hẹp,
hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn nhưng NHNo & PTNT Phục Hoà đã có
nhiều biện pháp tích cực như kiện toàn tổ chức bộ máy hoạt động, thực hiện tốt chiến
lược khách hàng, sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất. v.v nên đã đạt được một số kết
quả nhất định trong hoạt động kinh doanh.
Biểu 1 :
Tình hình hoạt động kinh doanh của NHNo & PTNT
Phục Hoà trong một số năm gần đây :
ĐV: Triệu VND
Chỉ tiêu Năm 1998 Năm 1999 30/9/2000
1. Ngu
ồn vốn huy
đ
ộng

2.097

2.226

3.397

- Tiền gửi TCTD 205

21.893

16.751

T. đó : - DN nhà nước 5.760

19.095

15.899

- KT ngoài QD 1.610

2.798

852

-

Doan
h s
ố thu nợ

3.526

16.916

20.489

T. đó : - DN nhà nước 1.569



1.474

3. Cho vay h
ộ nghè
o

- Doanh số cho vay 806

1.740

453

- Doanh số thu nợ 108

348

597

- Dư nợ 1.418

2.788

2.647

4. Kết quả kinh doanh


2.2.2. Công tác sử dụng vốn.
Cùng với việc đẩy mạnh công tác huy động vốn thì việc sử dụng vốn đầu tư tín
dụng cũng được đặc biệt quan tâm, nó là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt động kinh doanh
bởi các khoản thu lãi cho vay ở đây chiếm gần 100% tổng thu, cho nên nếu không coi
trọng công tác này sẽ ảnh hưởng lớn tới kết quả kinh doanh của đơn vị. Vì vậy NHNo
Phục Hoà đã và đang thực hiện việc đẩy mạnh cho vay, quản lý tốt dư nợ, làm tốt công
tác tín dụng.
- Doanh số cho vay năm 1999 tăng 14.253 triệu đồng, doanh số cho vay tăng
chủ yếu ở doanh nghiệp Nhà nước (tăng 13.335 triệu đồng), còn kinh tế ngoài quốc
doanh tăng không đáng kể chỉ tăng 939 triệu đồng, đến 30/9/2000 doanh số cho vay
đạt 16.751 triệu đồng, đạt 76,5% so với doanh số cho vay năm 1999.
- Doanh số thu nợ: thu nợ năm 1999 tăng 13.390 triệu đồng, đặc biệt đến
30/9/2000 doanh số thu nợ đạt 20.489 triệu đồng tăng so với năm trước 3.573 triệu
đồng với tỷ lệ tăng là 21%.
- Dư nợ năm 1999 tăng hơn so với năm trước nhưng đến 30/9/2000 chỉ đạt
10.558 triệu đồng, giảm so với năm 1999 là 3.738 triệu đồng, dư nợ giảm là do các
nguyên nhân sau: đối với doanh nghiệp nhà nước dư nợ giảm là do hoạt động kinh
doanh theo thời vụ, nhu cầu vay vốn chỉ tăng vào những tháng cuối năm và đầu năm.
Còn đối với kinh tế ngoài quốc doanh thì 100% vay vốn là các hộ SXKD nhỏ mà hiện
nay Ngân hàng phục vụ Người nghèo đang đẩy mạnh cho vay nên một bộ phận không
nhỏ khách hàng là các hộ nghèo trước đây vay vốn NHNo đã trả nợ và chuyển sang
vay vốn từ Ngân hàng phục vụ người nghèo, làm cho doanh số cho vay và dư nợ của
kinh tế ngoài quốc doanh giảm đáng kể so với những năm trước.
Ngoài nhiệm vụ cho vay thu nợ của mình NHNo Phục Hoà còn nhận làm dịch
vụ tổ chức cho vay hộ nghèo cho NH phục vụ người nghèo. Công tác này được thực
hiện từ khâu thành lập các tổ vay vốn hộ nghèo cho đến việc thẩm định trước khi cho
vay, giải ngân đến tận tay các hộ nghèo thiếu vốn sản xuất, kiểm tra việc sử dụng vốn

của Ngân hàng Nhà nước và NHNo, công tác thu chi tiền mặt đáp ứng được nhu cầu
giao dịch của khách hàng, trong quá trình thu, chi tiền cho khách hàng đã tạo được uy
tín đối với khách hàng do đó đã góp phần khơi tăng thêm nguồn vốn huy động từ tiền
gửi tiết kiệm.
2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh
Qua số liệu biểu 1 cho thấy kết quả kinh doanh năm 1999 tăng hơn năm trước là
1.285 triệu đồng, 9 tháng đầu năm 2000 thực hiện được 1.137 triệu đồng, đạt 69% so
với năm 1999. điều đó cho thấy đơn vị đã có nhiều cố gắng thực hiện nhiệm vụ kinh
doanh của mình, cho nên năm 1999 và 9 tháng đầu năm 2000 không những tổng thu đủ
bù đắp chi phí mà còn đảm bảo quỹ lương cho đơn vị, giúp cho CBCNV làm việc tự
tin hơn, tăng được uy tín của đơn vị đối với khách hàng và Ngân hàng cấp trên, tạo đà
cho việc hoàn thành nhiệm vụ năm 2000.
II. Thực trạng về cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo & PTNT
Phục Hoà.
1. Cơ chế tín dụng
Việc cho vay đối với tất cả các tổ chức kinh tế nói chung và kinh tế ngoài quốc
doanh nói riêng đều phải được thực hiện theo những nguyên tắc và điều kiện cho vay
nhất định:
1.1. Nguyên tắc cho vay:
Nguyên tắc 1 : Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả kinh
tế:nguyên tắc này đặt ra nhằm đảm bảo cho việc thực hiện sử dụng tiền vay đúng mục
đích đã đề ra ,khoản tiền mà NH cho vay ra phải có mục đích cụ thể gắn liền với
phương án,dự án sản xuất kinh doanh đã đề ra, người vay không được sử dụng vốn vay
cho những mục đích khác.
Nguyên tắc 2 : tiền vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn. Nguyên
tắc này bắt nguồn từ bản chất của tín dụng. Tín dụng chỉ giao quyền sử dụng vốn trong
một thời gian nhất định. Nguồn vốn Ngân hàng để cho vay chính là nguồn vốn tạm

1.3.1. Hồ sơ xin vay đối với hộ cá thể kinh doanh.
- Giấy đề nghị vay vốn
- Phương án, dự án sản xuất kinh doanh.
- Giấy phép đăng ký kinh doanh (nếu là hộ kinh doanh).
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu là hộ sản xuất).
- Các giấy tờ khác liên quan đến đảm bảo tiền vay.
1.3.2. Hồ sơ vay vốn đối với Công ty, doanh nghiệp, Hợp tác xã v.v ngoài
quốc doanh:
Khi có nhu cầu vay vốn Ngân hàng, khách hàng phải gửi tới Ngân hàng hồ sơ
xin vay vốn, bao gồm :
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Các tài liệu thuyết minh cho việc vay vốn.
+ Kế hoạch sản xuất kinh doanh, hợp đồng mua bán vật tư hàng hoá.
+ Bảng tính toán hiệu quả kinh tế dự án sản xuất kinh doanh.
- Các tài liệu liên quan đến thuyết minh tình hình tài chính.
+ Bảng tổng kết tài sản năm trước, quý trước.
+ Báo cáo tình hình tài chính đến ngày gần nhất.
- Các tài liệu liên quan đến đảm bảo tín dụng.
+ Bảng kê những tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh.
+ Những giấy tờ xác nhận về quyền sở hữu tài sản thế chấp cầm cố, bảo
lãnh.
- Các tài liệu văn bản pháp lý:
+ Quyết định thành lập doanh nghiệp, Công ty do cơ quan có thẩm quyền
cấp.
+ Giấy chứng minh quyền điều hành hợp pháp doanh nghiệp, công ty.v.v
2. Thực trạng công tác cho vay đối với kinh tế ngoài quốc doanh tại NHNo & PTNT
Phục Hoà.

0

3 Dư nợ hộ SXKD 2. 023

1. 627

1. 474

T. đó : Nợ quá hạn 467

96

112

(Theo báo cáo tín dụng năm 1998-1999-9/2000)
Qua số liệu biểu 2 cho thấy: Dư nợ cho vay kinh tế ngoài quốc doanh rất thấp,
dư nợ năm sau lại giảm hơn năm trước, năm 1999 giảm so với năm 1998 là 396 triệu
đồng, đến cuối quý III/2000 dư nợ chỉ đạt 90% so với năm 1999, nợ quá hạn đến
30/9/2000 chiếm tới 8%. từ những kết quả trên cho thấy đầu tư vào khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh ở các tỉnh miền núi còn gặp rất nhiều khó khăn, và qua bảng số liệu
trên thì dư nợ kinh tế ngoài quốc doanh ở đây 100% là dư nợ của cá nhân, hộ sản xuất
kinh doanh. còn về quan hệ tín dụng với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, công ty, hợp
tác xã đối với NHNo Phục Hoà không có món vay nào bởi các tổ chức kinh tế này
không có trên địa bàn.
Biểu 3 :
Dư nợ kinh tế ngoài quốc doanh phân theo thời hạn cho vay:
Đơn vị : Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm 1998 Năm1999 9/2000
Số


40

2/DN trung hạn 576

28

703

43

930

60

(Theo báo cáo tín dụng năm 1998 - 1999 - 9/2000)
Qua số liệu biểu 3 cho thấy: Tỷ trọng dư nợ trung dài hạn của khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh qua các thời kỳ đều có sự tăng trưởng, năm 1998 dư nợ là 576 triệu
đồng, năm 1999 là 703 triệu đồng, đến 30/9/2000 là 930 triệu đồng chiếm tới 60%
trong tổng dư nợ, dư nợ ngắn hạn năm 1999 so với năm trước giảm 523 triệu đồng, đến
9/2000 dư nợ ngắn hạn là 544 triệu đồng so với năm 1999 giảm 380 triệu đồng và
chiếm 40 % trong tổng dư nợ, dư nợ ngắn hạn giảm là do một số khách hàng trước đây
vay NHNo là những hộ nghèo nên khi Ngân hàng phục vụ người nghèo đẩy mạnh cho
vay thì họ đã chuyển sang vay tại Ngân hàng phục vụ người nghèo làm cho dư nợ
Ngân hàng nông nghiệp giảm đáng kể, chỉ đạt 91% so với dư nợ năm 1999.
Biểu 4 :
Tình hình nợ quá hạn của kinh tế ngoài quốc doanh:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status