CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT - Pdf 75

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠCH TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHÂN TÍCH TÌNH
HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT
I. Một số vấn đề chung về nguyên vật liệu.
1.Khái niệm, đặc điểm nguyên vật liệu.
- Một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành sản xuất là đối tượng lao động.
NVL là những đối tượng lao động đã được thể hiện dưới dạng vật hoá, là tài sản lưu động
dự trữ cho quá trình sản xuất kinh doanh, là cơ sở vật chất cấu thành nên thực thể sản
phẩm.
- Đặc điểm chủ yếu của NVL:
+ NVL có hình thái biểu hiện ở dạng vật chất như sắt thép trong doanh nghiệp cơ
khí chế tạo, sợi doanh nghiệp dệt, da trong doanh nghiệp đóng giày, vải trong doang nghiệp
may mặc.
+ Khác với tư liệu lao động, NVL chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định
và khi tham gia vào quá trình sản xuất, dưới tác động của lao động, chúng bị tiêu hao toàn
bộ hoặc hình thái vật chất ban đầu để tạo ra hình thái vật chất của sản phẩm.
+ Chi phí về NVL thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm.
Những đặc điểm trên đã tạo ra những đặc trưng riêng trong công tác hạch toán NVL
trong các doanh nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường công tác quản lý, sử dụng
NVL để đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Do vậy, các
doanh nghiệp cần đặt ra yêu cầu cụ thể trong công tác quản lý NVL.
2.Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
Một trong những yếu tố góp phần thực hiện mục tiêu hạ giá thành sản phẩm là việc
quản lý tốt vật liệu. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải tiến hành quản lý NVL toàn
diện ở tất cả các khâu từ thu mua, bảo quản, dự trữ đến sử dụng.
Ở khâu thu mua: NVL thường đa dạng về chủng loại, mỗi loại vật liệu có tính chất
hoá lý khác nhau, công dụng, mức độ và tỷ lệ tiêu hao khác nhau nên quá trình thu mua
phải đáp ứng đủ số lượng, đúng chủng loại, phẩm chất tốt, giá cả hợp lý, giảm thiểu hao
hụt. Đồng thời, phải quan tâm đến chi phí thu mua nhằm hạ thấp chi phí vật liệu một cách
tối đa.

phí, hạ giá thành sản phẩm.
3. Nhiệm vụ hạch toán
Giá trị NVL thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất- kinh doanh
của một doanh nghiệp, vì vậy, quản lý tốt khâu thu mua, dự trữ và sử dụng vật liệu là điều
kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí, giảm giá thành, tăng lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Để cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác thông tin cho công tác
quản lý NVL trong các doanh nghiệp, kế toán NVL phải thực hiện được các nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Tổ chức ghi chép, phản ánh chính xác, kịp thời tình hình biến động của NVL(tình
hình thu mua, vận chuyển, bảo quản, tình hình nhập xuất tồn kho NVL). Tính giá vật liệu
nhập kho và xuất dùng.
áp dụng đúng đắn và nhất quán các phương pháp hạch toán chi tiết, tổng hợp vật
liệu để phản ánh tình hình biến động từng loại NVL. Kế toán NVL cần hướng dẫn, kiểm
tra các đơn vị trong doanh nghiệp thực hiện đầy đủ các chế độ hạch toán ban đầu về vật
liệu: lập chứng từ, luân chuyển chứng từ, mở sổ thẻ chi tiết. Thường xuyên đối chiếu số
liệu trên sổ kế toán với thẻ kho và số tồn thực tế.
- Thường xuyên kiểm tra việc chấp hành chế độ bảo quản, dự trữ và sử dụng vật
liệu vật liệu thừa, thiếu hoặc ứ đọng nhằm hạn chế tối đa mọi thiệt hại có thể xẩy ra.
- Xác định chính xác sổ lượng và giá thực tế NVL sử dụng, tiêu hao trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Phân bổ giá trị vật liệu sử dụng cho từng đối tượng tính giá thành
phải chính xác, phù hợp.
- Định kỳ kế toán tham gia hướng dẫn các đơn vị kiểm kê, đánh giá lại vật liệu theo
chế độ Nhà nước quy định. Lập báo cáo về vật liệu phục vụ công tác lãnh đạo và quản lý
vật liệu nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sủ dụng vốn.
- Phân tích tình hình cung cấp, bảo quản, dự trữ và sử dụng vật liệu trong doanh
nghiệp nhằm phát huy nhứng mặt làm được và khắc phục những mặt còn tồn tại góp phần
nâng cao hiệu quả quản lý.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ hạch toán nói trên, một trong những công việc không
thể thiếu là việc phân loại và tính giá NVL, qua đó góp phần cung cấp đầy đủ, kịp thời,
chính xác thông tin cho công tác quản lý NVL nói chung.

Hạch toán NVL theo cách phân loại nói trên đáp ứng yêu cầu phản ánh tổng quát về
mặt giá trị đối với loại NVL. Để đảm bảo thuận tiện, tránh nhầm lẫn cho công tác quản lý
và hạch toán về số lượng và giá trị từng thứ NVL, trên cơ sở phân loại theo vai trò và công
dụng của NVL, các doanh nghiệp phải hình thành sổ danh điểm vật liệu. Sổ này xác định
thống nhất tên gọi, ký mã hiệu, quy cách, số hiệu, đơn vị tính, giá hạch toán của từng danh
điểm NVL. Sổ danh điểm có tác dụng trong công tác quản lý và hạch toán đặc biệt là trong
điều kiện cơ giới hoá công tác hạch toán doanh nghiệp.
Ngoài cách phân loại trên, NVL còn được phân loại theo cách sau:
Phân loại theo nguồn sỡ hữu: theo cách phân loại này, NVL bao gồm:
Nguyên vật liệu tự có: Những NVL do doanh nghiệp mua săm, do nhận cấp phát,
tặng thưởng, nhận góp vốn liên doanh
Nguyên vật liệu giữ hộ hay nhận gia công: Những nguyên vật liệu do doanh nghiệp
nhận giữ hộ, nhận gia công cho bên ngoài.
Cách phân loại này tạo tiền đề cho việc quản lý và sử dụng riêng cho các loại vật
liệu từ từng nguồn nhập khác nhau. Trên cơ sở đó đánh giá được hiệu quả sử dụng vật liệu
cho sản xuất kinh doanh.
Phân loại theo nguồn hình thành: theo cách phân loại này, NVL bao gồmL
- Nguyên vật liệu mua ngoài: Những NVL do doanh nghiệp mua ngoài bằng tiền
mặt, tiền vay, tiền gửi ngân hàng, mua chịu…
Nguyên vật liệu tự sản xuất: Những sản phẩm của sản xuất chính, sản xuất phụ do
doanh nghiệp sản xuất dùng làm nguyên vật liệu.
- Nguyên vật liệu nhận cấp phát, nhận vốn góp: Những nguyên vật liệu do được
cấp phát, nhận vốn góp.
- Nguyên vật liệu hình thành từ các nguồn khác: Những nguyên vật liệu thu hồi từ
phế liệu, từ thanh lý tài sản cố định, nhận tặng thưởng, viện trợ của các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước.
Phân loại theo chức năng nguyên vật liệu đối với quá trình sản xuất: theo cách phân
loại này, NVL bao gồm:
- Nguyên vật liệu sử dụng cho sản xuất: là các loại NVL tiêu hao trong quá trình sản
xuất tạo ra sản phẩm

+ Chi phí thu mua:chi phí thực rế phát sinh như chi phí vận chuyển, bỗc dỡ, chi phí
nhân viên thu mua, chi phí của bộ phận thu mua độc lập, chi phí thuê kho bãi, tiền phạt lưu
kho, lưu hàng…( chi phí này cũng được xác định trên cơ sở phương pháp tính thuế GTGT
mà doanh nghiệp lựa chọn).
Đối với nguyên vật liệu gia công xong nhập kho: Giá thực tế bao gồm giá xuất và
chi phí gia công chế biến, chi phí vận chuyển, bốc dỡ…
Đối với nguyên vật liệu nhận vốn góp liên doanh hoặc cổ phần: giá thực tế của
NVL là giá trị NVL được các bên tham gia góp vốn thừa nhận.
Đối với nguyên vật liệu vay, mượn tạm thời của đơn vị khác: giá thực tế NVL nhập
kho được tính theo giá thị trường hiện tại của số NVL đó.
Đối với phế liệu thu hồi từ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: giá
thực tế được tính theo đánh giá hoặc giá bán trên thị trường.
b. Giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ:
Việc tính giá thực tế NVL xuất kho phụ thuộc và đặc điểm của từng doanh nghiệp
về số lượng, danh điểm, số lần nhập xuất NVL, trình độ nhân viên kế toán, điều kiện kho
tàng doanh nghiệp. Song nếu doanh nghiệp áp phương pháp tính gía nào thì phải theo
nguyên tắc thống nhất trong hạch toán( nếu có thay đổi phải có sự giải thích rõ ràng). Các
phương pháp tính giá NVL xuất kho thường dùng là:
Phương pháp giá thực tế đích danh(tính trực tiếp):
Theo phương pháp này vật liệu được xác định giá trị theo đơn chiếc hay từng lô
hay giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất dùng. Khi xuất vật liệu nào thì sẽ tính
theo giá thực tế vật liệu đó.
Ưu điểm:
- Công tác tính giá NVL được thực hiện kịp thời và thông qua việc tính NVL xuất
kho, kế toán có thể theo dõi được thời hạn bảo quản của từng lô vật liệu.
- Đây là phương pháp có thể coi là lý tưởng nhất, nó tuân thủ theo nguyên tắc phù
hợp của hạch toán kế toán: chi phí thực tế phù hợp với doanh thu thực tế. Giá trị của vật tư
xuất dùng cho sản xuất phù hợp với giá trị của thành phẩm mà nó tạo ra, và giá trị của
hàng xuất kho đem bán phù hợp với doanh thu mà nó tạo ra. Hơn nữa, giá trị hàng tồn kho
được phản ánh theo giá thực tế của nó.

Điều kiện vận dụng:
Phương pháp này thường được áp dụng ở những doanh nghiệp có ít danh điểm vật
liệu, số lần nhập kho của mỗi danh điểm không nhiều.
Phương pháp nhập sau - xuất trước( phương pháp LIFO).
Phương pháp này tính giá nguyên vật liệu xuất kho trên cơ sở giả định là NVL nào
nhập vào kho sau sẽ được xuất dùng trước. Vì vậy việc tính giá vật liệu xuất kho nhìn
chung ngược với phương pháp nhập trước ở trên.
Ưu điểm:
- Phương pháp này làm cho khoản doanh thu hiện tại được phù hợp với khoản chi
phí hiện tại, vì theo phương pháp này, doanh thu hiện tại được tạo ra giá trị bởi vật tư vừa
mới được mua vào ngay gần đó.
- Quan trọng hơn, trong khi giá cả có xu hướng tăng lên, phương pháp này sẽ giúp
cho đơn vị kinh doanh giảm được thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho Nhà nước. Bởi vì,
giá của vật tư mua vào sau cùng, thường cao hơn giá của vật tư được nhập trước tiên, sẽ
được tính vào giá vốn và do đó, giảm lợi nhuận dẫn tới số thuế lợi tức phải nộp hoặc số thu
nhập doanh nghiệp.
Nhược điểm:
- Phương pháp này bỏ qua việc nhập xuất vật tư trong thực tế. Vật tư, hàng hoá
thông thường được quản lý gần như theo kiểu nhập trước - xuất trước. Nhưng phương này
giả định vật tư được giả định theo kiểu nhập sau- xuất trước.
- Hơn nữa, với phương pháp này, chi phí quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp có
thể cao vì phải mua thêm vật tư nhằm tính vào giá vốn hàng bán nhưng với chi phí cao.
Điều này trái ngược với xu hướng quản lý hàng tồn kho một cách có hiệu quả, giảm tối
thiểu sô lượng hàng tồn kho nhằm cắt giảm chi phí quản lý hàng tồn kho.
- Mặt khác, giá trị hàng tồn kho được phản ánh thấp hơn so với giá thực tế của nó.
Bởi vì, theo phương pháp này, giá trị hàng tồn kho sẽ bao gôm giá trị của những vật liệu
được nhập vào đầu tiên với giá thấp hơn so với giá hiện thời. Do giá trị hàng tồn kho được
phản ánh thấp hơn so với giá thực tế. Điều này làm khả năng thanh toán của doanh nghiệp
bị nhìn nhận là kém hơn so với khả năng thực tế.
Phương pháp giá bình quân:

của mỗi loại không nhiều.
+ Phương pháp giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước.
Theo phương pháp này, kế toán xác định giá đơn vị bình quân dựa trên giá thực tế
và lượng NVL tồn kho cuối kỳ trước. Dựa vào giá đơn vị bình quân nói trên và lượng NVL
xuất kho trong kỳ để kế toán tính giá thực tế NVL xuất kho theo tưng doanh điểm.
Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước =
Giá thực tế NVL tồn kho đầu kỳ này
Số lượng NVL tồn kho đầu kỳ này
- Ưu điểm: Phương pháp cho phép giảm nhẹ khối lượng tính toán của kế toán.
- Nhược điểm: Độ chính xác của công việc tính giá phụ thuộc và tình hình biến
động giá cả NVL, trường hợp giá cả thị trường NVL có sự biến động lớn thì việc tính giá
NVL xuất kho theo phương pháp này trở nên thiếu chính xác và có trường hợp gây ra bất
hợp lý(tồn kho âm).
+ Phương pháp trị giá hàng tồn kho cuối kỳ:
Với phương pháp trên, để tính được giá NVL đòi hỏi kế toán phải xác định lượng NVL
xuất kho căn cứ vào chứng từ xuất. Tuy nhiên trong thực tế có những doanh nghiệp có
nhiều chủng loại NVL với mẫu mã khác nhau, giá trị thấp, lại được xuất dùng thường
xuyên thì sẽ không có điều kiện để kiểm kê từng nghiệp vụ xuất kho. Trong điều kiện đó,
doanh nghiệp phải tính giá cho số lượng NVL tồn kho cuối kỳ, sau đó mới xác định được
giá thực tế của NVL xuất kho trong kỳ.
Giá thực tế của NVL tồn
kho cuối kỳ
=
Số lượng NVL tồn
kho cuối kỳ
*
Đơn giá NVL nhập
kho lần cuối
2.2 Tính giá NVL theo giá hạch toán
Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại vật liệu, giá cả thường xuyên biến động,

loại NVL ( nhiều danh điểm vật tư) và đòi hỏi đội ngũ kế toán phải có trình độ chuyên môn
cao.
Những doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính giá hạch toán sử dụng bảng kế số 3
- Bảng kê tính giá thành thực tế nguyên vật liệu. Mẫu bảng kế số 3 được lập như sau:
Biểu 1:
BẢNG KÊ SỐ 3
Tính giá thành thực tế vật liệu(TK 152)
Tháng … năm…
Chỉ tiêu TK 152- Nguyên vật liệu
HT TT
1 2 3 4
1 I. Xuất dùng trong tháng
2 II. Số phát sinh trong tháng
3 Từ NKCT số 1( ghi có TK 111)
4 Từ NKCT số2 (ghi có TK 112)
5 Từ NKCT số 5(ghi có TK 331)
6 Từ NKCT số 6(ghi có TK 151)
7 Từ NKCT số 7 (ghi có TK 152)
8 Từ NKCT khác
9 ….
10 III. Cộng số dư đầu tháng và
phát sinh trong tháng
11 IV. Hệ số chênh lệch
12 V. Xuất dùng trong tháng
13 VI. Tồn kho cuối tháng
Ngày… tháng…năm…
Kế toán ghi sổ Kế toán trưởng
(Ký, họ tên) (Ký, họ tên)
Bảng kê số 3 gồm phần tổng hợp giá trị NVL nhập kho và phần chênh lệch giữa giá
thực tế và giá hạch toán. Hệ số chêch lệch trong bảng là hệ số giá NVL đã nêu công thức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status