NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT HIỆN NAY - Pdf 64

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN
XUẤT HIỆN NAY
I. Đặc điểm, yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán nguyên vật
liệu (NVL) trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
1. Đặc điểm và vai trò của NVL trong các doanh nghiệp sản xuất
Trong xã hội loài người, sản xuất luôn là cơ sở để tồn tại và phát triển.
Mác đã nói “ Nếu sản xuất chỉ ngừng một ngày thôi chứ không nói đến ngừng
vài tuần, một năm thì xã hội sẽ bị tiêu vong “. Để tiến hành quá trình sản xuất
thì không thể thiếu được một trong ba yếu tố cơ bản là : tư liệu lao động, sức
lao động và đối tượng lao động.
NVL là một loại đối tượng lao động được thể hiện dưới dạng vật hoá
như cát, sỏi trong doanh nghiệp xây lắp; vải trong doanh nghiệp may mặc, rau
quả trong các doanh nghiệp chế biến thực phẩm..., là tài sản dự trữ của doanh
nghiệp nhằm phục vụ sản xuất liên tục.
Khi nói rằng NVL là một loại đối tượng lao động điều này cũng có nghĩa
là không phải mọi đối tượng lao động đều là NVL. Chỉ trong điều kiện đối
tượng lao động có thể phục vụ cho quá trình sản xuất hay tạo ra sản phẩm và
đối tượng lao động đó do lao động có ích của con người tạo ra mới trở thành
NVL. Ví như than, dầu khi còn nằm trong lòng đất, nó được coi là tài nguyên,
nhưng khi con người khai thác để sử dụng, chúng trở thành các NVL. Trong
quá trình sản xuất, NVL được bao gồm các yếu tố được đưa vào phục vụ quá
trình vận hành chung, chịu sự tác động gián tiếp của con người thông qua tư
liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm đầu ra. NVL có thể trực tiếp tạo ra sản phẩm
như bột mì, trứng, sữa... để sản xuất ra bánh các loại hoặc có thể tham gia gián
tiếp như các loại dầu, mỡ bôi trơn, phụ tùng thay thế...phục vụ cho sự hoạt
động liên tục và bình thường của máy móc, thiết bị, giảm thiệt hại do ngừng
sản xuất gây ra. Trong quá trình tác động của lao động về mặt hiện vật, NVL
hoặc bị hao mòn toàn bộ như nhiên liệu, chất đốt..., hoặc chỉ thay đổi hình thái
vật chất ban đầu như mía để sản xuất đường..., hoặc vẫn giữ nguyên trạng thái
vật chất ban đầu như vải để sản xuất quần, áo...
Như vậy, NVL luôn được thể hiện dưới hình thái vật hoá có nghĩa là nó

kì kinh doanh khi tạo ra doanh thu là có thể thu hồi được, nên nó có ý nghĩa
quan trọng trong việc mang lại lợi nhuận và tạo ra hiệu quả sản xuất kinh
doanh cho DN. Khi lượng vốn này được quản lý và sử dụng đúng mục đích,
đúng liều lượng nó sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất tạo ra những sản phẩm chất
lượng ngày càng cao trong khi gía thành lại giảm, điều này sẽ nâng tính cạnh
tranh cho sản phẩm, qua đó tăng doanh thu cũng như lợi nhuận cho DN.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của NVL ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất cũng như hiệu quả kinh tế của DN, đòi hỏi DN cần phải quản lý chặt chẽ
NVL.
2. Yêu cầu quản lý nguyên vật liệu
Bắt nhịp cùng với xu thế chung của đất nước bước sang nền kinh tế thị
trường, các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nói riêng chịu
tác động của nhiều quy luật kinh tế, trong đó cạnh tranh là yếu tố khách quan,
nó gây ra cho doanh nghiệp không ít những khó khăn, nhưng cũng là động lực
để các doanh nghiệp sản xuất tồn tại và phát triển. Để có thể vươn lên khẳng
định vị trí của mình trong điều kiện nền kinh tế thị trường đòi hỏi doanh
nghiệp sản xuất phải làm ăn có hiệu quả. Một trong những giải pháp cho vấn
đề này là doanh nghiệp phải quản lý thật tốt các yếu tố đầu vào mà cụ thể là
yếu tố nguyên vật liệu.
Để công tác quản lý này đạt hiệu quả cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải có đầy đủ thông tin tổng hợp vật liệu cả về hiện vật và giá trị, về
tình hình nhập , xuất, tôn kho.Tuỳ theo điêu kiện và yêu cầu quản lý của từng
doanh nghiệp mà có thể cần những thông tin chi tiết hơn.
- Phải tổ chức hệ thống kho tàng đảm bảo an toàn cho vật liệu cả về số
lượng và chất lượng. Phát hiện và ngăn ngừa những biểu hiện vi phạm làm
thất thoát vật liệu.
- Quản lý định mức dự trữ vật liệu, tránh tình trạng ứ đọng hoặc khan
hiếm vật liệu, ảnh hưởng đến tình hình tài chính và tiến độ sản xuất của doanh
nghiệp.
Trên cơ sở các yêu cầu quản lý đó, nội dung công tác quản lý nguyên vật

vị
tính
Đơn giá
hạch
toán
1521-1
1521-2
1521-01-01
1521-01-02

1521-02-01
1521-02-02

Mỗi loại nguyên vật liệu sử dụng 1 hoặc một số trang trong sổ danh
điểm vật liệu để ghi đủ các nhóm, thứ của nguyên vật liệu đó. Sổ này được xây
dựng trên cơ sơ số liệu của loại, nhóm và đặc tính thứ vật liệu. Tuỳ theo số
lượng nhóm vật liệu mà xây dựng nhóm vật liệu gồm 1,2 hoặc3 chữ số( Nếu số
lượng dưới 10: sử dụng 1 chữ số, nếu dưới 100: sử dụng 2 chữ số…). Các
doanh nghiệp hoàn toàn có thể tự xây dựng cho mình cách đặt ký hiệu cho
từng danh điểm vật liệu của doanh nghiệp mình miễn sao thuận lợi và đơn
giản hơn cho công tác quản lý trên cơ sở sự kết hợp nghiên cứu giữa bộ phận
kỹ thuật, bộ phận cung ứng và phòng kế toán, đồng thời báo cáo cho các cơ
quan chủ quản.
3. Vai trò và nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
3.1. Vai trò của kế toán nguyên vật liệu
Hạch toán kế toán là môn khoa học thu thập, xử lý và cung cấp toàn bộ
thông tin của các hoạt động kinh tế nhằm đề ra các biện pháp kiểm tra, giám
sát toàn bộ hoạt động kinh tế của một đơn vị một cách đúng đắn.Kế toán
nguyên vật liệu cũng là sự ghi chép, phản ánh, tổng hợp số liệu về tình hình thu
mua, bảo quản, dự trữ, tình hình nhập, xuất, tồn kho nguyên vật liệu.

nghiệp trên thương trường.
3.2. Nhiệm vụ của kế toán nguyên vật liệu
Xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu quản lý nguyên vật liệu cũng như vai trò
của kế toán nguyên vật liệu trong hệ thống quản lý kinh tế, nhiệm vụ của kế
toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp được xác định như sau:
- Ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời số hiện có và tình hình luân chuyển
của nguyên vật liệu cả về giá trị và hiện vật. Tính toán đúng đắn trị giá của
nguyên vật liệu nhập kho, xuất kho nhằm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác
phục vụ cho yêu cầu quản lý.
- Kiểm tra tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về mua nguyên vật
liệu, kế hoạch sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất.
- Tổ chức kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho, cung
cấp thông tin phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và phân tích hoạt động
kinh doanh.
II. Phân loại và đánh giá nguyên vật liệu
1. Phân loại nguyên vật liệu
Vật liệu sử dụng trong các doanh nghiệp có nhiều loại, nhiều thứ, có vai
trò, công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh.Trong điều kiện
đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải phân loại vật liệu thì mới tổ chức tốt việc
quản lý và hạch toán vật liệu.
Trong thực tế quản lý và hạch toán nguyên vật liệu ở các doanh nghiệp,
đặc trưng thông dụng nhất để phân loại vật liệu là vai trò, tác dụng của
nguyên vật liệu trong sản xuất và yêu cầu quản lý. Theo đặc trưng này, vật liệu
được chia thành các loại sau:
- Nguyên vật liệu chính: là những nguyên vật liệu mà sau quá trình gia
công, chế biến cấu thành thực thể vật chất chủ yếu của sản phẩm (kể cả bán
thành phẩm mua vào )
- Nguyên vật liệu phụ: là những nguyên vật liệu chỉ có tác dụng phụ trợ
trong sản xuất, được sử dụng kết hợp với nguyên vật liệu chính để làm thay
đổi mầu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản phẩm hoặc được sử dụng để

tặng thưởng...
Cách phân loại này tạo tiền đề cho việc quản lý và sử dụng riêng các loại
nguyên vật liệu từ các nguồn nhập khác nhau, do đó đánh gía được hiệu quả
sử dụng vật liệu trong sản xuất. Hơn nữa, còn đảm bảo việc phản ánh nhanh
chóng, chính xác số hiện có và tình hình biến động từng loại nguồn vốn kinh
doanh của doanh mgiệp. Nhưng cách phân loại này không phản ánh chi tiết
được từng loại nguyên vật liệu.
Theo quyền sở hữu vật liệu bao gồm:
- Vật liệu tự có
- Vật liệu nhận gia công hoặc giữ hộ
Cách phân loại này là cơ sở để doanh nghiệp theo dõi nắm bắt tình hình
hiện có của vật liệu, từ đó lên kế hoạch thu mua, dự trữ vật liệu phục vụ cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo mục đích và nơi sử dụng nguyên vật liệu, gồm:
- Vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất
- Vật liệu dùng cho nhu cầu khác như quản lý phân xưởng, quản lý doanh
nghiệp, tiêu thụ sản phẩm...
Với cách phân loại này, doanh nghiệp sẽ nắm bắt được tình hình sử dụng
vật liệu tại các bộ phận và cho các nhu cầu khác từ đó điều chỉnh, cân đối cho
phù hợp với kế hoạch sản xuất, tiêu thụ...
2. Đánh gía nguyên vật liệu
Đánh giá nguyên vật liệu là việc dùng thước đo tiền tệ để biểu hiện giá
trị của nguyên vật liệu theo những nguyên tắc nhất định.
Về nguyên tắc, nguyên vật liệu phải được đánh giá theo nguyên tắc “giá
phí “ tức là tính toán đầy đủ chi phí thực tế doanh nghiệp bỏ ra để có được
nguyên vật liệu đó. Tuy nhiên, tuỳ điều kiện cụ thể về giá nguyên vật liệu ở
doanh nghiệp biến động hay ổn định mà có thể lựa chọn một trong hai cách
đánh giá nguyên vật liệu sau:
2.1. Đánh giá nguyên vật liệu theo giá thực tế
2.1.1. Giá thực tế nhập kho

lại
+
Chi phí
trực tiếp
phát sinh
trong
khâu mua
-
Các khoản
triết khấu
TM, giảm
giá
- Đối với nguyên vật liệu do doanh nghiệp gia công, chế biến:
Trị giá thực tế NVL
gia công, chế biến
nhập kho trong kỳ
=
Trị giá thực tế
NVL xuât gia
công, chế biến
+
Chi phí gia
công, chế
biến
+
Chi phí vận
chuyển, bốc
dỡ
- Đối với nguyên vật liệu doanh nghiệp thuê ngoài gia công, chế biến:
Trị giá thực tế

nhằm xác định chính xác chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp .Việc tính giá thực tế xuất kho có thể áp dụng theo một số phương pháp
sau:
Phương pháp giá đích danh
Theo phương pháp này giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho được tính
trên cơ sở số lượng nguyên vật liệu xuất kho và đơn giá thực tế nhập kho của
chính lô nguyên vật liệu xuất kho đó.
Phương pháp này sẽ nhận diện được từng loại nguyên vật liệu xuất và
tồn kho theo từng danh đơn mua vào riêng biệt. Do đó trị giá của nguyên vật
liệu xuất và tồn kho được xác định chính xác tuyệt đối, phản ánh đúng thực tế
phát sinh. Nhưng như vậy thì việc quản lý tồn kho sẽ rất phức tạp đặc biệt khi
doanh nghiệp dự trữ nhiều loại nguyên vật liệu với giá trị nhỏ. Khi đó chi phí
cho quản lý tồn kho sẽ tốn kém và đôi khi không thể thực hiện được.Chính vì
vậy chỉ nên áp dụng phương pháp tính giá này đối với những loại vật liệu đặc
trưng có gía trị cao.
Phương pháp nhập trước – xuất trước ( FIFO )
Với phương pháp này kế toán phải theo dõi được đơn giá thực tế và số
lượng của từng lô hàng nhập kho. Sau đó, khi xuất kho căn cứ vào số lượng
xuất tính ra giá thực tế theo công thức sau:
Trị giá thực tế NVL
xuất kho
=
Số lượng NVL xuất
kho
x
Đơn giá thực tế NVL của
lô hàng nhập trước
Khi nào xuất hết số lượng của lô hàng nhập trước mới lấy đơn giá thực
tế của lô hàng tiếp sau để tính ra giá thực tế xuất kho. Cách xác định náy sẽ
đơn giản hơn cho kế toán so với phương pháp giá đích danh nhưng vì giá thực

xuất kho
=
Số lượng NVL
xuất kho
x
Đơn giá thực tế bình quân của
NVL
Hiện nay, các doanh nghiệp có thể sử dụng một trong số các loại đơn gía
thực tế bình quân sau:
∗Đơn giá bình quân gia quyền cả kỳ:
Đơn giá
bình
quân
=
Trị giá thực tế NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Lượng NVL tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Cách tính này được xác định sau khi kết thúc kỳ hạch toán, dựa trên số
liệu đánh giá nguyên vật liệu cả kỳ dự trữ. Các lần xuất nguyên vật liệu khi
phát sinh chỉ phản ánh về mặt số lượng mà không phản ánh mặt giá trị. Toàn
bộ giá trị xuất được phản ánh vào cuối kỳ khi có đầy đủ số liệu tổng nhập. Điều
đó làm cho công việc bị dồn lại, ảnh hưởng đến tiến độ quyết toán song cách
tính này đơn giản, tốn ít công nên được nhiều doanh nghiệp sử dụng đặc biệt
là những doanh nghiệp quy mô nhỏ, ít loại nguyên vật liệu , thời gian sử dụng
ngắn và số lần nhập, xuất mỗi danh điểm nhiều.
∗Đơn giá bình quân cuối kỳ trước:
Trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ lấy theo đơn giá bình
quân cuối kỳ trước đã tính được làm cơ sở tính giá. Có thể thấy đây là sự kết
hợp giữa cách tính bình quân gia quyền cả kỳ với phương pháp nhập trước –
xuất trước. Do vậy, nó không tính đến sự biến động về giá ở kỳ này nên việc
phản ánh thiếu chính xác. Nhưng đổi lại, cách tính này đơn giản, đảm bảo tính

ở thời điểm lập báo cáo.
Phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ trên cơ sở giá mua
thực tế cuối kỳ.
Theo phương pháp này, giá thực tế xuất kho chỉ được xác định vào cuối
kỳ và cách tính lần lượt như sau:
Đầu tiên kế toán xác định trị giá nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ trên cơ
sở giá mua của lần nhập cuối cùng trong kỳ :
Trị giá NVL thực
tồn cuối kỳ
=
Số lượng NVL
thực tồn cuối kỳ
x
Đơn giá lần
mua cuối cùng
` Từ đó tính ra trị giá thực tế nguyên vật liệu xuất kho trong kỳ
Trị giá NVL xuất
kho trong kỳ
=
Trị giá NVL
nhập trong kỳ
+(-)
Chênh lệch trị giá t.tế
NVL tồn đầu và cuối kỳ
Vì giá trị nguyên vật liệu xuất kho chỉ được tính vào cuối kỳ nên không
cung cấp số liệu kịp thời sau mỗi lần nhập. Phương pháp này phù hợp với
những doanh nghiệp có nhiều chủng loại nguyên vật liệu, nhiều mẫu mã khác
nhau, giá trị thấp nhưng lại xuất dùng thường xuyên không có điều kiện để
kiểm kê liên tục.
2.2. Đánh giá nguyên vật liệu theo giá hạch toán

Để sử dụng phương pháp giá hạch toán trong xác định trị giá thực tế
nguyên vật liệu xuất kho , kế toán phải lập bảng kê số 3 với hình thức sổ kế
toán Nhật ký – Chứng từ theo mẫu sau:
bảng tính giá thực tế vật liệu
Ngày … tháng … năm …
stt Chỉ tiêu
TK 152
Nguyên liệu, vật liệu
HT TT
1
2
3
4
Giá trị NVL tồn đầu kỳ
Giá trị NVL nhập trong kỳ
Cộng số dư đầu kỳ và nhập trong kỳ
Chênh lệch giữa giá TT và giá HT
5
6
Hệ số chênh lệch
Giá trị NVL xuất dùng trong kỳ
7 Giá trị NVL tồn cuối kỳ
Mỗi một phương pháp tính giá nguyên vật liệu có nội dung, ưu nhược
điểm và điều kiện áp dụng phù hợp nhất định. Doanh nghiệp phải căn cứ vào
hoạt động sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý và trình độ cán bộ kế toán để
lựa chọn và đăng ký một phương pháp tính phù hợp.Phương pháp tính giá đã
đăng ký phải được sử dụng nhất quán trong niên độ kế toán. Khi muốn thay
đổi phải giải trình và đăng ký lại đồng thời phải được thể hiện công khai trên
báo cáo tài chính. Nhờ vậy có thể kiểm tra, đánh giá chính xác kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .

theo kết cấu phù hợp nhất. Biên bản được lập vào lúc hàng về đến doanh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status