HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
************
BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
MÃ SỐ: B. 10-20
DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM Cơ quan chủ trì: VIỆN VĂN HÓA & PHÁT TRIỂN
Chủ nhiệm:
THS. TRẦN KIM CÚC 8543
CNH-HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH Chủ nghĩa xã hội
DVC Dịch vụ công
DVHCC Dịch vụ hành chính công
DVCC Dịch vụ công cộng
ĐKKD Đăng ký kinh doanh
QLNN Quản lý nhà nước
NNPQ Nhà nước pháp quyền
UBND Ủy ban nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WB Ngân hàng Thế giới iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG
.
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 11
1.1. Cơ sở lý luận về dịch vụ hành chính công
11
1.2. Cung ứng dịch vụ hành chính công ở các nước và bài học rút ra
cho Việt Nam
43
Chương 2:
THỰC TRẠNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1999-2010
61
ăn bản các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong quá trình
này, vấn đề xác định vai trò của Nhà nước trong cung ứng các DVC, trong
đó có DVHCC là hết sức cần thiết. Nhà nước nên làm những việc gì, làm
như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất, giảm bớt
gánh nặng cho ngân sách; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh
nghiệp khi tiếp cận với cơ quan hành chính nhà nước đ
ang là vấn đề cấp
bách đặt ra hiện nay.
Với xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội, trình độ dân trí ngày càng
nâng cao đòi hỏi Nhà nước buộc phải có những điều chỉnh nền hành chính
công thích ứng. Theo xu hướng chung, Nhà nước phải chấp nhận sự tham
gia của người dân vào những công việc vốn vẫn do nhà nước đảm nhận;
thực hiện cải thiện mô hình hành chính công theo hướng xã hội hóa, phi tập
trung, nhằm nâng cao chấ
t lượng phục vụ người dân, với tư cách là những
"khách hàng". Trong bối cảnh hiện nay, Nhà nước không chỉ thực hiện chức
năng cai trị, mà ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò cung ứng dịch vụ, mà
trong đó có dịch vụ hành chính công. Công chức trong bộ máy hành chính
không chỉ là người có quyền ra mệnh lệnh, mà đòi hỏi thực sự phải là "công
bộc", "đầy tớ" của nhân dân. Nhà nước thể hiện quyền lực nhân dân, có 2
trách nhiệm cung ứng dịch vụ hành chính công nhằm đáp ứng các yêu cầu,
lợi ích chính đáng của công dân theo qui định pháp luật.
Vì vậy, theo chúng tôi việc triển khai nghiên cứu vấn đề này là cần
thiết, qua đó sẽ góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoàn
thiện cơ chế, chính sách phát triển dịch vụ hành chính công ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
- Xuất phát từ vai trò của Nhà nước và dị
DVHCC là loại hình dịch vụ mang tính đặc thù do các cơ quan hành
chính nhà nước thực hiện, nó gắn với thẩm quyền mang tính quyền lực pháp
lý, v
ới hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ có tính chất pháp lý của tổ chức và công dân như cấp
phép, hộ tịch, chứng thực, công chứng , đây là những vấn đề liên quan trực
tiếp đến đời sống hàng ngày, quyền và lợi ích của công dân mà Nhà nước
phải có nghĩa vụ đảm bảo. Xuất phát từ vai trò của Nhà nước và tầm quan
trong của dịch v
ụ hành chính công, chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu cơ
sở lý luận nhằm xác lập mô hình cung ứng dịch vụ hành chính công phù
hợp, đảm bảo các quyền, lợi ích của công dân; thực hiện tốt vai trò quản lý
của Nhà nước trong bối cảnh hiện nay là hết sức cần thiết.
- Thứ ba, xuất phát từ những hạn chế trong cung ứng dịch vụ hành
chính công ở Việt Nam hiện nay.
Trên thế giới, vào những nă
m cuối thế kỷ 20, chi tiêu của các chính
phủ chiếm khoảng 35% GDP. Những người muốn quảng bá cho một chính
phủ tích cực biện hộ rằng chính phủ "đóng góp" 35%; còn những người đòi
hỏi giảm thiểu vai trò của chính phủ thì cho rằng chính phủ "lấy mất" 35%.
Bất chấp những nỗ lực công khai trong những năm qua nhằm điều chỉnh quy
mô cho phù hợp về thành phần và giới hạn củ
a chính phủ thì chi tiêu của
chính phủ vẫn tăng một cách tương đối từ 32% GDP vào năm 1982 lên 34%
GDP vào năm 1999
1
. Những con số này vượt xa sự tưởng tượng của các nhà
1
Ngân hàng Phát triển châu Á- ADB (2003), Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công
y cần phải nhanh chóng xây dựng cơ chế, chính sách, hoàn thiện luật
pháp nhằm nâng cao chất lượng DVHCC hiện nay.
Từ những lý do trên cho thấy, nghiên cứu và lý giải những vấn đề về
DVHCC là việc làm hết sức cần thiết ở Việt Nam. Nó giúp chúng ta có cơ
sở lý luận để nhận thức một cách đầy đủ về DVHCC; qua đó thiết lập căn cứ 5
để cải cách DVHCC phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính hiện nay. Do
đó, việc nghiên cứu Dịch vụ hành chính công trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là vấn đề hết sức cần thiết, có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài.
DVHCC là một loại dịch vụ đặc biệ
t, gắn liền với Nhà nước và do
Nhà nước cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội. Cho dù cấu trúc
của các nhà nước rất khác nhau giữa các châu lục và giữa các thời kỳ nhưng
lập luận về vai trò đích thực của Nhà nước lại luôn có nét tương đồng. Nhìn
chung, sự bàn luận luôn xoay quanh việc xử lý mối quan hệ về quyền hạn và
nghĩa vụ giữa nhà nước và công dân, và hầu hết đề
u nhất trí một vai trò cho
nhà nước trong việc cung cấp những dịch vụ công cơ bản nhằm đảm bảo lợi
ích của công dân; sự an ninh về người và tài sản bằng các nguồn lực công
1
.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ khảo sát chủ đề DVHCC từ
những nghiên cứu dưới góc độ ngành khoa học hành chính công. Có một vài
căn cứ cho sự lựa chọn này. Thứ nhất, hành chính công với tư cách là một
khoa học nghiên cứu các hoạt động của chính phủ vì lợi ích chung, trong đó
trong bối cảnh hội nhập ở Châu Âu; Luxembourg; Office for Official
Publications of the European Communities;
8. White, Leonard (1955), Nhập môn nghiên cứu hành chính
công; New York: Macmillan;
9. Willoughby, W.F. (1930), Một khảo sát chung về nghiên cứu
hành chính công; American Political Science Review (24), tr.39-51;
10. Woodrow Wilson (1887), Nghiên cứu về hành chính công,
Berkeley, University of California Press
11. World Bank (1997), Báo cáo về tình hình phát triển thế giới
1997: Nhà nước trong m
ột thế giới đang chuyển đổi (Sách dịch); NXB
Chính trị quốc gia; Hà Nội, 1998; 7
2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang
nền kinh tế thị trường và xây dựng NNPQ XHCN đòi hỏi phải có sự nhận
thức mới về DVC, trong đó có DVHCC. Xuất phát từ nhu cầu đó, ở trong
nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về DVHCC dưới nhiều góc độ và
khía cạnh khác nhau, trong thuyết minh này, chúng tôi khảo sát các công
trình nghiên cứu trên cơ sở qui về các nhóm cụ thể sau:
- Ch
ương trình Khoa học - công nghệ cấp nhà nước, đề tài cấp bộ
+ Trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai
đoạn 2001-2010 của Chính phủ. Năm 2004, Bộ Khoa học và Công nghệ đã
giao cho Viện Khoa học Tổ chức và Nhà nước (Bộ Nội vụ) thực hiện đề tài
nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nước Dịch vụ công và xã hội hoá dịch
vụ công trong công cuộc cải cách nền hành chính Nhà n
ước ở Việt Nam,
i pháp đổi mới cung ứng DVHCC
trong bối cảnh cải cách nền hành chính quốc gia ở Việt Nam.
+ Năm 1999, trong khuôn khổ Dự án ADB 3023- VIE, Ban Tổ chức
cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã kết hợp với Công ty tư vấn ARA
(Canada) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề Chính sách về quản lý sự
thay đổi và cung cấp dịch vụ công.
+ Năm 2001, Viện Nghiên cứu Hành chính (thuộc Học vi
ện Hành
chính quốc gia) tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề Dịch vụ công - Nhận
thức và thực tiễn. Tại hội thảo này, các nhà khoa học đã tranh luận với nhau
nhiều vấn đề như: DVC, DVHCC, dịch vụ sự nghiệp công, vai trò của Nhà
nước trong cung ứng DVC.
- Năm 2002, hội thảo khoa học với chủ đề Vai trò của Nhà nước
trong cung ứng dịch vụ công - Nh
ận thức, thực trạng và giải pháp do Học
viện Hành chính quốc gia gia tổ chức. Các bài tham luận trình bày tại hội 9
thảo này đã đề cập đến nhiều vấn đề như quan niệm DVHCC, tổng kết các
mô hình cung ứng DVHCC, giải pháp cải cách cung ứng DVHCC
- Về các công trình nghiên cứu chuyên khảo
Trong những năm vừa qua đã có không ít công trình chuyên khảo
nhiên cứu về vấn đề cung ứng DVHCC, những công trình nghiên cứu này
thường được thể hiện dưới dạng các sách chuyên khảo, các bài nghiên cứu
đăng tải ở các tạp chí, các tham luận trình bày trong các hội thảo khoa họ
c…
Liên quan đến vấn đề này, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu của
các tác giả sau đây:
1. Nguyễn Ngọc Hiến (2002): Vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tuy nhiên, cũng qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên, chúng ta
thấy rằng vẫn còn rất nhiều lãnh địa bị bỏ ngỏ hoặc còn ngập ngừng trong
trong tư duy lý luận; vẫn còn nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn chưa có câu
trả lời. Vì vậy, nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về DVHCC ở nước ta
hiện nay còn không ít khía cạnh cần phải tiếp tục trao đổi và giải quyết.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận về DVHCC; trên cơ sở đó đánh giá thực
trạng hoạt động cung ứng DVHCC ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưu
điểm, nhược
điểm và nguyên nhân của chúng; và đưa ra những đề xuất, giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng DVHCC ở Việt Nam trong những năm tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ đặt ra, đề tài sử
dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sả
n Việt Nam
về DVHCC trong điều kiện cải cách nền hành chính nhà nước làm cơ sở lý 11
luận và phương pháp luận nghiên cứu chủ đạo.
Ngoài ra, đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như:
phương pháp phân tích, so sánh; phương pháp tổng hợp; phương pháp khảo
cứu tài liệu; phương pháp thống kê để nghiên cứu vấn đề.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Trên cơ sở hệ thống hoá những cách tiếp cận khác nhau đề tài làm rõ
khái niệm “dịch vụ công”, “dịch vụ hành chính công"; ch
ỉ ra chủ thể, phạm
vi, nội dung, hình thức DVHCC phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam
động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm"
1
.
Theo Từ điển Oxford thì "Dịch vụ công: 1. Các dịch vụ như giao
thông hoặc chăm sóc sức khỏe do nhà nước hoặc tổ chức chính thức cung
cấp cho nhân dân nói chung, đặc biệt là xã hội; 2. Việc làm gì đó được thực
hiện nhằm giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận; 3. Chính phủ và cơ
quan chính phủ"
2
.
Còn cuốn Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kỳ cho rằng dịch
vụ công được hiểu theo các nghĩa: "1. Sự tham gia vào đời sống xã hội;
hành động tự nguyện vì cộng đồng của một người nào đó; 2. Việc làm cho
chính phủ, toàn bộ người làm của một cơ quan quyền lực, toàn bộ công nhân
1
Xem: Từ điển Petit Larousse, Librairie Larousse, 1995, tr. 934.
2
Xem: Từ điển Oxford (2000), tr. 1024. 13
viên chức trong khu vực công cộng của quốc gia; 3. Việc mà chính quyền làm
cho cộng đồng của mình; sự bảo vệ của cảnh sát, thu dọn rác ; 4. Một cơ sở
công ích của địa phương; 5. Nghĩa vụ của một người đối với nhà nước"
1
.
Từ quan niệm và cách tiếp cận của nước ngoài chúng ta thấy DVC có
các đặc trưng cơ bản như: (1). Là những hoạt động gắn với chính phủ, hoặc
là những hoạt động của tư nhân nhưng được chính phủ ủy quyền, quản lý;
cần thiết cho cộng đồng nhưng vì không có khả năng, hoặc không đảm bảo
lợi nhuận nên tư nhân không cung ứng mà Nhà nước phải đảm nhận, ví dụ
như: tiêm chủng; phòng cháy, chữa cháy Hoặc có những dịch vụ mà tư
nhân có thể cung ứng được nhưng lại tạo ra các ngoại ứng như
gây bất bình
đẳng, độc quyền làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, Nhà
nước vẫn phải có trách nhiệm đứng ra cung ứng, nhằm bảo đảm sự điều tiết,
kiểm soát; và đáp ứng các nhu cầu về DVC của xã hội và công dân.
Ở loại hình dịch vụ thứ hai. Trong quá trình thực hiện chức năng
QLNN, sẽ xuất hiện các quan hệ mang tính chất hành chính giữa công dân,
tổ chức v
ới Nhà nước. Đây là những DVC mà cơ QLNN có trách nhiệm
phải cung ứng cho công dân. Theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực công
thông qua các hoạt động như: cấp phép, chứng thực, hộ tịch, theo yêu cầu
của người dân, và các hoạt động này được xem như một dịch vụ mà Nhà
nước cung ứng cho công dân. Đây là hoạt động mang tính chất đặc thù, nó
gắn với quyền lực nhà nước, với chức năng, thẩm quy
ền quản lý hành chính
của nhà nước, nó thường được gọi là DVHCC.
- Tiếp cận dưới góc độ QLNN
Từ giác độ QLNN, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng DVC là
những hoạt động của cơ quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý
hành chính nhà nước và đảm bảo cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu
cầu chung, thiết yếu của xã hội (như cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, điện, nước,
giao thông công cộng ). Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của
nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng (người ta
thường gắn DVC, thậm chí đồng nhất với công việc của chính phủ).
- Tiếp cận dưới góc độ đối tượng thụ hưởng
Từ cách phân chia trên, các tác giả đi đến định nghĩa: "Dịch vụ công 16
là hoạt động cung cấp những loại hàng hóa, dịch vụ cơ bản cho công chúng,
bao gồm cả những loại dịch vụ phục vụ hoạt động QLNN, trong đó Nhà
nước đóng vai trò không chỉ là nhà quản lý mà còn là một trong những nhà
cung cấp bên cạnh nhiều nhà cung cấp khác"
1
.
- Tiếp cận từ lý luận về "hàng hóa công cộng và lựa chọn công cộng".
DVC được xác định dựa trên những phân tích về:
+ Hàng hóa công cộng
2
. Xuất phát từ những tính chất đặc thù của
hàng hóa công cộng như: tính phi lợi nhuận, không thể chia cắt, nên thị
trường không thể cung cấp, hoặc cung cấp không đủ; do đó, buộc chính phủ
phải đứng ra thực hiện vai trò là người cung ứng hàng hóa này.
+ Xuất phát từ tính vị kỷ của con người. Những hoạt động, quyết định
của con người đều dựa trên sự tính toán có lợi cho riêng mình. Do đó, các
vấn
đề liên quan đến lợi ích chung, lợi ích gián tiếp đối với cá nhân sẽ ít
được quan tâm, chia sẻ với tư cách cá nhân riêng lẻ.
+ Xuất phát từ sự "thất bại của thị trường". Là một thuật ngữ kinh tế
học miêu tả tình trạng thị trường không phân bổ thật hiệu quả các nguồn lực.
Các nhà kinh tế chính thức sử dụng thuật ngữ này từ năm 1958.
Những "thất bại của thị trường" thường thấy là việc người ta tập trung
vào cung ứng những hàng hóa có lợi cho bản thân, mang lại lợi nhuận cao;
còn những hàng hóa khác thì không, thị trường không thể tự điều tiết được.
Nguyên nhân của "thất bại thị trường" là: độc quyền, ảnh hưởng ngoại lai,
nước. Ở Việt Nam, mặc dù có nhiều cách quan niệm khác nhau về DVC,
nhưng theo chúng tôi, DVC là những loại dịch vụ mà Nhà nước cung ứng
dựa trên chức năng phục vụ xã hội của Nhà nước, mà không bao gồm các
chức năng công quyền, như lập pháp, hành pháp, tư pháp, ngoại giao, Thứ
nhất, đó là những dịch vụ tối cần thi
ết cho cộng đồng nhưng không phải tư
nhân nào cũng có thể đảm nhận, vì nó đòi hỏi nguồn lực lớn và thường
mang lại lợi nhuận thấp (như tiêm chủng, phòng cháy ). Mặt khác, những
dịch vụ này nếu để cho tư nhân cung ứng thì có thể xảy ra các vấn đề như
độc quyền, bất bình đẳng xã hội (như y tế, giáo dục, cung cấp nước sạch )
Thứ hai, đó là nh
ững dịch vụ do Nhà nước cung ứng gắn với chức năng và
thẩm quyền quản lý nhà nước mà Nhà nước cần phải đáp ứng vì nó liên
1
Xem thêm: Chu Văn Thành (2006), Dịch vụ và xã hội hóa dịch vụ công trong công cuộc cải
cách nền hành chính nhà nước ở Việt Nam, Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học độc lập cấp Nhà
nước, mã số: ĐTĐL- 2004/13, tr. 25-26. 18
quan trực tiếp đến lợi ích của công dân (như công chứng, chứng thực, cấp
phép, đăng ký )
Nhóm thứ nhất gọi là DVCC, ở nhóm thứ hai gọi là DVHCC.
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia
DVC thành các loại như: (1). Dịch vụ sự nghiệp công; (2). Dịch vụ công
cộng; (3). DVHCC.
Sơ đồ 1.1: Phân loại dịch vụ công dựa theo tính chất và tác dụng
của dịch vụ
được cung ứng
(3). DVHCC là loại dịch vụ gắn liền với chức năng QLNN nhằm đáp
ứng yêu cầu của người dân. Đó là các hoạt động của bộ máy hành pháp nhà
nước cung ứng trực tiếp cho các tổ chức và công dân các DVC theo luật
định nhằm duy trì và đảm bảo sự vận hành bình thường củ
a xã hội.
Các DVHCC gồm có: cấp phép; cấp giấy xác nhận; chứng thực, công
chứng… Những dịch vụ này được cung ứng dựa trên nguyên tắc bình đẳng;
nó không theo qui luật cung cầu, ngang giá trên thị trường, nó được chi trả
trực tiếp thông qua việc đóng lệ phí hoặc phí nhất định; phần phí, lệ phí này
chỉ mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước, không vì mục tiêu lợi
nhuận; hoặc chi trả gián tiếp qua việc đóng thuế.
Ở Việt Nam hiện nay DVHCC bao gồm các hoạt động như: (1). Hoạt
động cấp phép; (2). Cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực trong lĩnh vực
hộ tịch, tư pháp; (3). Thu các khoản góp vào ngân sách nhà nước; (4). Giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý các vi phạm hành chính; (5).
Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả tiếp cận DVHCC dưới góc độ
là
loại dịch vụ gắn liền với chức năng QLNN nhằm đáp ứng yêu cầu của người
dân. Đó là các hoạt động của bộ máy hành pháp nhà nước cung ứng trực tiếp
cho các tổ chức và công dân các DVC theo luật định nhằm duy trì và đảm
bảo sự vận hành bình thường của xã hội.
1.1.2. Đặc trưng của dịch vụ hành chính công
- DVHCC luôn gắn với thẩm quyền hành chính - pháp lý của tổ
ch
ức cung ứng; là các hoạt động phục vụ công tác QLNN.
Để đảm bảo cho đời sống xã hội diễn ra một cách bình thường, Nhà 20
quản lý của bản thân bộ máy nhà nước
- Được thu tiền trực tiếp từ khách hàng
dưới dạng phí, hoặc lệ phí đối với một số
dịch vụ theo qui định
- Không thu tiền trực tiếp, mà được bù
đắp từ ngân sách nhà nước
Nguồn: Lê Chi Mai, Dịch vụ hành chính công, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, tr. 29. 21
Đây là những dịch vụ thiết yếu của công dân; một mặt, nó cần phải
được Nhà nước cung ứng để thỏa mãn nhu cầu của công dân; mặt khác,
thông qua hoạt động cung ứng DVHCC, Nhà nước sẽ thực hiện chức năng
QLNN của mình đối với xã hội và thông qua đó tạo ra cơ sở để công dân
thực hiện quyền làm chủ của mình cũng như thực hiện các nghĩa vụ đối v
ới
Nhà nước.
DVHCC là một loại hàng hóa đặc biệt, việc cung ứng nó luôn gắn liền
với vai trò của Nhà nước, và vì vậy nó thể hiện tính công rất rõ ràng. Tính
công là yếu tố quan trọng, nó thể hiện qua việc nhân danh quyền lực công để
cung ứng. Với tư cách là người tổ chức cung ứng, Nhà nước giữa một vai trò
đặc biệt quan trọng. Việc thực hiện chức năng cung ứng DVHCC của Nhà
nướ
c cũng dựa trên cùng những nguyên tắc chi phối vai trò quản lý. Cung
ứng DVHCC phải do một cơ quan công quyền thực hiện mới có đủ khả
năng, niềm tin, nguồn lực và đạt được các mục tiêu chung, trong đó có mục
tiêu duy trì trật tự trong QLNN.
Nhà nước cung ứng các DVHCC dựa trên thẩm quyền hành chính -
pháp lý của mình. Với tư cách là người quản lý xã hội, Nhà nước có địa vị
pháp lý đặc biệt mà các chủ thể khác không thể có được, nó gắ