Những yếu tố văn hoá xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở tây nguyên - Pdf 13


Bộ khoa học
v
à công nghệ
chơng trình kh & cn trọng điểm cấp nhà nớc kx.03
Xây dựng con ngời và phát triển văn hóa Việt Nam
trong tiến trình đổi mới và hội nhập

Báo cáo tổng hợp
ti khoa hc cp Nh nc KX.03.01/06-10 Những yếu tố văn hóa - xã hội
tác động đến sự ổn định và
phát triển ở Tây Nguyên

Ch nhim ti: TS DNG TH HNG
Th ký ti: TS U TUN NAM


14. TS Lê Văn Định - Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III
15. PGS, TS Trần Xuân Dung - Học viện An ninh nhân dân
16. PGS, TS Nguyễn Bình Ban - Học viện An ninh nhân dân
17. ThS Vũ Hải Vân - Học viện An ninh nhân dân
18. PGS, TS Lê Ngọc Thắng - Ủy ban Dân tộc
19. PGS, TS Khổng Di
ễn - Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ
20. TS Mai Thanh Sơn - Viện Phát triển bền vững vùng Trung Bộ
21. TS Bùi Minh Đạo - Viện Phát triển bền vững vùng Tây Nguyên
22. TS Trần Hồng Hạnh - Viện Dân tộc học
23. ThS Trần Lê Minh Trang - Viện Nghiên cứu Đông Nam Á
24. TS Nguyễn Thị Kim Vân - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai
25. ThS Tô Văn Tám - Trường Chính trị tỉnh Kon Tum
26. ThS Đỗ Hữu Đệ - Trường Chính trị tỉnh Đắk Nông
27. Linh Nga Niê Kdam - Hội Vă
n hóa Nghệ thuật Đắk Lắk
28. Nguyễn Bạn - Phó Ban Chỉ đạo Tây Nguyên 1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tây Nguyên vốn là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc tại chỗ, thuộc hai
nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ me và Malayo - Polinesien. Tuy nhiên, bức tranh
phân bố tộc người ở Tây Nguyên hiện đã và đang có nhiều thay đổi, bởi sự có
mặt của nhiều dân tộc mới đến. Trước hết, phải kể tới sự có mặt khá sớm ở
Tây Nguyên một bộ ph
ận người Kinh đến từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và

nhiều chính sách đối với Tây Nguyên không phát huy
được hiệu quả như
mong đợi, thậm chí còn gây hiệu ứng nghịch. Trong quá trình lãnh đạo và
chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội ở Tây Nguyên, chúng ta chưa nhận thức
đầy đủ và thực sự coi tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của các dân
tộc tại chỗ; việc di dân theo kế hoạch nhằm phát triển kinh tế - xã hội Tây
Nguyên là một chủ trương đúng, nhưng thiếu giáo dục tinh thần đoàn kết và
tương tr
ợ dân tộc; quản lý kinh tế - xã hội còn áp dụng có phần xơ cứng mô
hình của người Kinh lên vùng dân tộc Tây Nguyên và chưa chú ý đầy đủ
việc khai thác những yếu tố phi quan phương trong tổ chức quản lý xã hội
Những bất cập trong các chính sách phát triển đã tạo ra nhiều mâu thuẫn
đáng tiếc nảy sinh từ chính trong nội tại đời sống văn hóa - xã hội Tây
Nguyên (giữa tôn giáo với chính quyền; giữa đồng bào các dân tộc tạ
i chỗ
với các dân tộc mới đến; giữa yếu tố phi quan phương với yếu tố quan
phương ). Những mâu thuẫn vừa nêu đã và đang tiềm ẩn nguy cơ dẫn tới
mất ổn định chính trị - xã hội, nhất là khi bị các thế lực thù địch lợi dụng,
những mâu thuẫn đó sẵn sàng bùng phát, chuyển hoá thành các “điểm
nóng”, điển hình như các vụ bạo loạ
n chính trị ở một số địa phương thuộc
Tây Nguyên các năm 2001 và 2004 Do vậy, những vấn đề trong nội tại
văn hóa - xã hội Tây Nguyên cần phải có các nghiên cứu chuyên sâu phân
tích làm rõ.
Từ những phân tích trên đây cho thấy, nghiên cứu “Những yếu tố văn
hoá - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây nguyên” là một yêu
cầu hết sức bức thiết, không chỉ có giá trị về lý luận mà còn có ý ngh
ĩa về
thực tiễn.


H. Maspéro với “Etude sur la phonétique historique de la langue annammite,
Les initiales” (“Nghiên cứu về lịch sử ngữ âm học của ti
ếng Annam, sự khởi
đầu”) [1912]

4
Sau năm 1945, nhiều học giả nước ngoài tiếp tục công bố một số
nghiên cứu về Tây Nguyên rất có giá trị như: P. Guileminet với “Coutumier
de la tribu Bahnar, des Sedang et des Jrai de la province de Kontum” (“Tập
quán của các tộc người Bana, Sêđăng và Giarai ở tỉnh Kontum”) [1952] và
“Les tribus Bahnars au Kontum” (“Các tộc người Bana ở Kontum”) [1952];
P.B. Lafont, Tơ lơi Djuat với “Coutumier de la tribu Jrai” (“Tập quán của
dân tộc Giarai”) [1963]… Những nghiên cứu này đi sâu hơn tìm hiểu từng
mặt phong tục tậ
p quán như luật tục, lễ hội, cách ăn, mặc, ở, sinh hoạt của
một số dân tộc tại chỗ Tây Nguyên.
Sau năm 1975, các nghiên cứu của các học giả nước ngoài về Tây
Nguyên tiếp tục được mở rộng, mà tiêu biểu là các học giả người Mỹ, Nhật,
Hà Lan. Trong đó, đáng chú ý là Gerald Hickey (Mỹ) với một loạt các nghiên
cứu như: “Sons of the Mountains. Ethnohistory of the Vietnamese Central
Higlands to 1954” (“Những đứa con c
ủa núi rừng. Lịch sử tộc người ở Tây
Nguyên Việt Nam cho đến năm 1954”) [1982]; “Free in the Forest.
Ethnohistory of the Vietnamese Central Highland 1954-1976” (“Tự do trong
rừng. Lịch sử tộc người ở Tây Nguyên Việt Nam 1954-1976”) [1982];
“Shatted World. Adaptation and Survival among Vietnam’s Highland Peoples
during the Vietnam War” (“Một thế giới bị chia cắt. Thích ứng và sinh tồn
của các tộc người cao nguyên trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam”) [1993]
Hickey là chuyên gia đã từng nghiên cứu phục vụ cho các chính sách thực dân
của Mỹ ở miền Nam Vi

Jamieson: “b. Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, The
Case of Vietnam” [2000] (Nghĩ lại cách tiếp cận chương trình phát triển dân
tộc thiểu số, Trường hợp Việt Nam); của
John Hlevan: “Phát triển kinh tế-xã
hội trong mối tương quan với văn hoá truyền thống văn hoá miền Trung”
[2001] Những nghiên cứu này đề cập một số khía cạnh phát triển dân tộc và
miền núi từ môi trường - sinh thái, vấn đề đất đai, xoá đói giảm nghèo, phát
triển nguồn nhân lực Điểm đáng ghi nhận trong các báo cáo này là đã chỉ ra
càng phát triển kinh tế thị trường thì các nhóm cư dân yếu thế càng thua thi
ệt,
kể cả thụ hưởng thành quả tăng trưởng kinh tế trên chính quê hương của chính
họ, dù nhà nước đã tìm nhiều biện pháp điều tiết sự phát triển, thực hiện các
đảm bảo xã hội ở vùng dân tộc thiểu số.

6
Tóm lại, các nghiên cứu của một số học giả nước ngoài về vấn đề dân
tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung và ở Tây Nguyên nói riêng đã đạt được
nhiều kết quả đáng ghi nhận. Một số công trình có giá trị khoa học, trở thành
tài liệu tham khảo bổ ích, giúp chúng ta thấy rõ hơn cách tiếp cận của họ đối
với chính sách dân tộc của các thể chế chính trị Việt Nam và trong nghiên cứ
u
các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên. Tuy nhiên, do động cơ nghiên cứu khác
nhau, thậm chí có cả những công trình bị ảnh hưởng bởi các quan điểm thực
dân, trái ngược với đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta,
cần phải hết sức thận trọng khi tham khảo.
3.2. Những nghiên cứu trong nước
Như chúng ta đã biết, Tây Nguyên là một vùng lãnh thổ đặc thù của
Việt Nam, có tầm quan trọng đặc biệ
t trên nhiều phương diện. Do đó, đây là
khu vực được các nhà nghiên cứu trong nước đặc biệt quan tâm. Có thể tổng

ị chia cắt,
không có điều kiện điền dã thực tế phía Nam, các nghiên cứu giai đoạn này
chủ yếu tập trung vào khu vực miền núi phía Bắc. Ở miền Nam, Phan
Khoang với “Việt sử xứ Đàng Trong (1558-1777)” [1957] trong khi trình bày
quá trình Nam tiến của các chúa Nguyễn cũng có chấm phá đôi nét đến địa
bàn Tây Nguyên. Mặc dù có đề cập đến lễ hội, tiếng nói, luật tục, tập quán
của “ng
ười Thượng cao nguyên”, nhưng phần nhiều nghiên cứu của giới khoa
học miền Nam từ 1954-1975 phục vụ cho mục đích “tâm lý chiến” của chính
quyền Sài Gòn, nên còn không ít hạn chế cả về cách tiếp cận khoa học và
quan điểm chính trị.
Sau năm 1975, các học giả Việt Nam mới có điều kiện đi sâu nghiên
cứu khu vực Tây Nguyên, cả những nghiên cứu tổng hợp và các nghiên cứu
chuyên sâu từng khía cạnh v
ăn hoá - xã hội các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên:
1) Những nghiên cứu tổng quan về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam và
quá trình hình thành cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đáng chú ý
trong số này là những công trình như: “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các
tỉnh phía Nam)” [1984] của tập thể tác giả; “Về khái niệm “dân tộc” của Mác
và Ăngghen và sự hình thành dân tộc Việt Nam” [1980] của Hà Văn Tấn; “Quá
trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam” [1982] của Phan Huy Lê;
“Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam” [2003] của Đặng Nghiêm Vạn Trong
các công trình này, vùng Tây Nguyên được đề
cập ở những nét chung nhất về

8
quá trình tộc người, nhóm ngôn ngữ, cơ tầng văn hoá Cũng có những
nghiên cứu chuyên sâu về một địa phương hoặc một DTTD ở Tây Nguyên như
Bế Viết Đẳng và Chu Thái Sơn với “Đại cương về các dân tộc Ê đê và
Mnông ở Đắk Lắk” [1982]; Mạc Đường với “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng”


9
tộc dưới chế độ phong kiến, gắn liền với quá trình hình thành dân tộc và phát
triển của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam, có nghiên cứu của Phan
Hữu Dật và Lâm Bá Nam: “Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà
nước phong kiến Việt Nam (X - XIX)” [2001]. Về thời kỳ thực dân cũ và mới,
loại nghiên cứu này tuy không nhiều và thiếu hệ thống, nhưng rải rác trong
một số công trình khác nhau đã cho th
ấy rõ quan điểm, biện pháp của thực
dân Pháp, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn đối với dân tộc tại chỗ Tây
Nguyên. Về thời kỳ chế độ dân chủ cộng hoà từ 1945 đến nay, gắn liền với
yêu cầu xây dựng, tổ chức lại cuộc sống của đồng bào các dân tộc ở Tây
Nguyên, đã thu hút được đông đảo giới nghiên cứu quan tâm. Đặc biệt, từ sau
1975, trong đi
ều kiện đất nước thống nhất và nhu cầu khai thác, phát triển Tây
Nguyên đặt ra cấp bách, các nghiên cứu về Tây Nguyên rất được quan tâm.
Tiêu biểu là các công trình: “Những vấn đề lý luận và thực cấp bách liên quan
đến mối quan hệ dân tộc hiện nay” [2001] của Phan Hữu Dật; “Vấn đề dân
tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta” [1995] của nhiều tác giả.
Những công trình này, từ góc nhìn về thể chế, chính sách đã dự
báo một số
nguy cơ bất ổn ở khu vực Tây Nguyên, trong đó nổi lên là vấn đề tôn giáo, đói
nghèo, phai nhạt bản bản sắc văn hoá dân tộc, tật bệnh, quản lý đất đai ;
giúp hình dung rõ cách nhìn lịch đại về chính sách dân tộc đối với Tây
Nguyên; so sánh những khác nhau về bản chất của các thể chế cầm quyền
trong thực hiện chính sách dân tộc.
Nhóm thứ hai
: Các công trình tổng kết tình hình thực hiện chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với Tây Nguyên trong những
năm Đổi mới, trong đó các yếu tố văn hoá - xã hội được đặc biệt coi trọng và

c tiễn, các nghiên cứu này đã so sánh yếu tố
truyền thống với yếu tố biến đổi của đời sống văn hoá - xã hội, từ đó cho thấy
cả khuynh hướng tích cực và tiêu cực tác động trực tiếp đến Tây Nguyên. Có
tác giả đã cắt nghĩa nguyên nhân kinh tế của những biến đổi ấy. Tuy vậy, loại
công trình này thường nghiên cứu trên bình diện chung về đời sống v
ăn hoá ở
Tây Nguyên, chưa có điều kiện sâu giải quyết từng yếu tố văn hoá - xã hội
vốn rất phức tạp. Mặc dù vậy, những nghiên cứu đó đã cung cấp cách nhìn
tổng quan để đi sâu nghiên cứu chuyên biệt từng yếu tố văn hoá - xã hội Tây
Nguyên đã và đang tác động đến sự ổn định và phát triển hiện nay.

11
3) Những nghiên cứu chuyên biệt về tín ngưỡng - tôn giáo ở Tây
Nguyên. Có thể nói, đây là vấn đề dành được mối quan tâm sâu sắc của giới
nghiên cứu, vì nó đe doạ trực tiếp đến yêu cầu bảo vệ văn hoá truyền thống
các dân tộc cũng như củng cố an ninh quốc gia. Đáng chú ý là nghiên cứu:
“Kitô giáo trước buôn làng” [2002] của Đỗ Quang Hưng; “Nhu cầu tín
ngưỡng, tôn giáo và thay đổi niềm tin tôn giáo của đồng bào các dân tộc thiểu
số Tây Nguyên hiện nay” [2003] của
Trương Minh Dục; “Tình hình tôn giáo
trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ”
[2004] của Ban Tôn giáo Chính phủ Những nghiên cứu này bước đầu phân
biệt giữa nhu cầu khách quan về tín ngưỡng tôn giáo của đồng bào với âm
mưu lợi dụng nhu cầu đó để truyền đạo trái pháp luật, gây bất ổn về an ninh
tôn giáo ở Tây Nguyên. Một số tác giả đã cố gắng truy tìm nguyên nhân bên
trong của các hiện trạng
đó (“Nguyên nhân tâm lý - xã hội của sự phục hồi và
phát triển đạo Tin lành tại tỉnh Kon Tum” [2001] của Đỗ Kim Oanh). Tuy
vậy, các nghiên cứu này chưa có điều kiện cắt nghĩa đầy đủ các cơ sở kinh tế,
văn hoá - xã hội làm biến đổi nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo và thiếu những giải

1) Trước hết
, vấn đề đất đai ở Tây Nguyên là hướng nghiên cứu giành
được sự quan tâm sâu sắc của nhiều tác giả. Đáng kể như các công trình: “Sở
hữu và sử dụng đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên” [2000] của Vũ Đình Lợi, Bùi
Minh Đạo, Vũ Thị Hồng; “Vấn đề đất đai ở các tỉnh Tây Nguyên” [2002] của
Đặng Nghiêm Vạn; “Tái lập quản lý cộng đồng về đất đai ở các buôn làng
Tây Nguyên (trong bối cảnh thự
c hiện Luật đất đai 1993” [2002] của Vương
Xuân Tình Có thể nói, các công trình nghiên cứu kể trên bước đầu đã làm
rõ đặc trưng của chế độ sở hữu và quản lý đất đai ở Tây Nguyên - một xã hội
đang chuyển từ công xã thị tộc sang công xã nông thôn-với việc đề cao vai trò
của buôn làng trong quản lý. Vì vậy, những áp đặt cách quản lý của người
Kinh lên Tây Nguyên như giao rừng, khoán đất sẽ không phù hợp, đ
òi hỏi
phải phát huy vai trò của buôn làng trong quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội.
Cũng có những tác giả đã mạnh dạn chỉ ra các dẫn chứng sinh động về sự thất
bại của khoán đất, giao rừng ở Tây Nguyên.
2) Trong thời gian gần dây, các vấn đề xây dựng hệ thống chính trị,
phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, dân chủ hoá đời sống xã
hội cũng dành được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu. Đáng chú ý là
các nghiên cứu: “Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở Tây Nguyên đáp ứng

13
yêu cầu cách mạng trong giai đoạn hiện nay” [2002] của Lê Hữu Nghĩa;
“Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay - Thực
trạng và giải pháp” [2004] của Dương Thị Hưởng (chủ nhiệm) Loại nghiên
cứu này tuy không đề cập trực tiếp các yếu tố văn hoá - xã hội, song có đặt ra
các mối liên hệ nội tại với sự tuỳ thuộ
c lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau
giữa chính trị, kinh tế với văn hoá - xã hội. Có nghiên cứu đã cắt nghĩa

tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu còn mang tính rời rạc
và chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, mang tính hệ thống về các yếu
tố văn hoá - xã hội tác động đến sự ổn định và phát triển ở Tây Nguyên.
Đặc
biệt là còn thiếu những nghiên cứu liên ngành để tìm ra luận cứ, giải pháp ổn
định và phát triển Tây Nguyên - một vùng đất tuy đã “yên” nhưng chưa “ổn”
sau các vụ bạo loạn chính trị 2001 và 2004. Giải quyết “khoảng trống” nêu
trên là trách nhiệm đặt ra đối với đề tài khoa học này.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, chúng tôi đã triển khai các
phương pháp chủ yếu sau đây:
-
Phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích tài liệu được sử dụng để
thu thập và đánh giá các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài, bao gồm các Văn
kiện của Đảng và Nhà nước ở Trung ương và địa phương, các công trình nghiên
cứu về văn hoá - xã hội ở Tây Nguyên đã được công bố trong và ngoài nước.
- Phương pháp điền dã dân tộc học được chúng tôi coi trọng trong
quá trình nghiên cứu trên thực địa, bao gồm các thao tác cơ b
ản như: quan sát
tham dự, quan sát trực tiếp, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
+ Quan sát tham dự là sự tiếp cận người dân theo nguyên tắc: cùng ăn,
cùng ở và cùng làm. Với cách tiếp cận này, chúng tôi có thể vừa quan sát, vừa
tham gia vào nhiều hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân; từ đó, có
thể tạo mối quan hệ thân thiện, hiểu biết về họ và cuộc sống của họ, khiến họ
cảm thấ
y thoải mái hơn với sự hiện diện của chúng tôi trong gia đình/cộng
đồng của họ. Cũng chính nhờ vậy, chúng tôi có thể thu thập các thông tin về
cuộc sống của họ, trong đó có các thông tin về văn hóa - xã hội và những vấn
đề nhạy cảm có liên quan.
+ Trong quá trình điền dã, chúng tôi cũng đã sử dụng phương pháp

ập trung vào các vấn đề về tình hình đời sống kinh tế, văn hóa, giáo
dục; mong muốn và kiến nghị của địa phương về bảo tồn văn hóa các tộc
người, những giải pháp mà chính quyền địa phương các cấp đã và sẽ thực
hiện nhằm hạn chế những tác động của các yếu tố văn hóa - xã hội đến sự ổn
định và phát triển…
- Phương pháp đi
ều tra xã hội học được thực hiện thông qua bảng
hỏi chuẩn bị sẵn. Nguyên tắc chọn mẫu: theo phương pháp ngẫu nhiên. Trong

16
cơ cấu mẫu có chú ý tới các nhóm đối tượng khảo sát: nhóm người dân tộc tại
chỗ và nhóm người dân tộc mới đến. Phương pháp trưng cầu ý kiến: dùng
Bảng hỏi trực tiếp với những người được trưng cầu ý kiến, theo nguyên tắc số
phiếu phát ra phải lớn hơn số phiếu dự kiến thu về ít nhất là 10%. Kỹ thuật
phân tích và xử lý số liệu: Các số li
ệu định lượng được xử lý bằng những công
cụ phần mềm hỗ trợ như: SPSS for Windows 15.0; Eview; DTM.
- Phương pháp chuyên gia được thực hiện qua các cuộc trao đổi trực
tiếp với các chuyên gia có nhiều trải nghiệm khi nghiên cứu về văn hóa - xã hội
Tây Nguyên, cũng như những đánh giá của họ về tác động của các yếu tố văn
hoá - xã hội ở Tây Nguyên đến sự ổn định và phát tri
ển. Phương pháp này cũng
nhằm thu thập ý kiến của lãnh đạo chính quyền các cấp, các ban, ngành trong
việc thực thi chính sách từ trung ương xuống địa phương, làm cơ sở đối sánh
với những phát hiện thu được trong quá trình khảo sát.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
5.1. Về nội dung
Nội dung nghiên cứu của đề tài là những yếu tố văn hóa - xã hội tác
động đến sự ổn định và phát triển của Tây Nguyên. Tuy nhiên, đề
tài chỉ lựa

ự ổn
định và phát triển ở Tây Nguyên.
Chương 4: Xu hướng, quan điểm và giải pháp phát triển văn hóa - xã hội
Tây Nguyên vì sự ổn định và phát triển bền vững.

18

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA - XÃ HỘI Ở TÂY NGUYÊN
TÁC ĐỘNG ĐẾN ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. “Dân tộc” và “tộc người”
Trong nhiều công trình nghiên cứu, cũng như trên các phương tiện
truyền thông của Việt Nam hiện nay, việc hiểu và sử dụng khái niệm dân tộc
chưa có sự thống nhất. Sự
thiếu chuẩn xác trong sử dụng thuật ngữ “dân tộc”
ở Việt Nam là xuất phát từ việc tiếp cận khái niệm này theo nhiều cách hiểu
khác nhau:
- Khái niệm dân tộc được hiểu là một cộng đồng cư dân sống trên một
lãnh thổ quốc gia xác định dưới sự điều hành của một nhà nước trung ương
thống nhất. Nếu theo quan điểm này thì các cư dân cùng sinh sống trên một
lãnh thổ
có thể khác nhau về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, thậm chí
là cả về nguồn gốc chủng tộc nhưng cùng có chung một nhiệm vụ chính trị
(xây dựng và bảo vệ nhà nước) thì đều thuộc về một cộng đồng - quốc gia,
nghĩa là họ đều thuộc về một quốc tịch. Kiểu cộng đồng này rất phổ biến ở
nhiều nước của các châu lục trên th
ế dưới mà điển hình là các quốc gia châu

người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) [Hà Nội 1978] và Các dân tộc ít người
ở Việt Nam (Các tỉnh phía Nam) [Hà Nội 1984]. Tuy nhiên, nhiều người vẫn
sử dụng khái niệm dân tộc thiểu số để biểu đạt cộng đồng cư dân trên (như
cuốn Các dân tộc thiểu số Việt Nam). Vấn đề đặt ra ở đây là nên dùng khái
niệm các dân tộc thiểu s
ố hay các dân tộc ít người? Thực ra, khái niệm thiểu
số (đối nghĩa với đa số) thường được dùng cho các phạm trù thiên về định
lượng. Do đó, xét dưới góc độ khoa học thì dùng thuật ngữ các dân tộc thiểu
số đảm bảo độ chuẩn xác cao hơn.
Tóm lại, xuất phát từ những cách hiểu khác nhau dẫn đến sự thiếu
chuẩn xác và không thống nhất trong việc sử dụng khái niệm dân t
ộc. Do đó,
cần phải có sự thống nhất cách gọi các cộng đồng này sao cho vừa đảm bảo
tính chính xác, khoa học mà vẫn phù hợp với thói quen đã được xác lập. Theo
tinh thần đó, chúng tôi cho rằng, dân tộc (nation) và tộc người (ethnic) là

20
những khái niệm có mối liên hệ rất mật thiết với nhau, tuy thống nhất mà
không đồng nhất, giữa chúng có những điểm khác biệt thể hiện qua định nghĩa
về dân tộc và tộc người như sau:
Dân tộc hay quốc gia - dân tộc (nation) là một cộng đồng chính trị-xã
hội, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được chỉ đạo bởi một nhà
n
ước, cùng có chung một vận mệnh lịch sử, dùng chung một tiếng nói/ngôn
ngữ hành chính (trừ trường hợp cá biệt), có chung một sinh hoạt kinh tế hay
một thị trường và có chung một tính cách dân tộc thể hiện trong lối sống và
những biểu tượng văn hóa chung, tạo nên một tính cách dân tộc.
Tộc người (ethnic) hay dân tộc - theo thuật ngữ thường dùng - là một
cộng đồng người được hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhấ
t định,

hội Tây Nguyên với tư cách là một bộ phận cấu thành chỉnh hợp đời sống các
tộc người tại chỗ Tây Nguyên cần phải giới hạn ở những yếu tố cơ bản nhất
đã, đang và sẽ có tác động tới tính ổn định hoặc biến đổi căn tính tộc người.
1.1.2.2. “Văn hóa” ở đây cần được hiểu theo cả
nghĩa rộng và nghĩa
hẹp. Theo nghĩa hẹp, văn hóa được hiểu như một lĩnh vực của hoạt động và
sinh hoạt xã hội, bao gồm các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin đại
chúng (phát thanh, truyền hình, báo chí, bảo tồn và bảo tàng…). Theo nghĩa
rộng, văn hóa là tất cả những gì không phải tự nhiên, nghĩa là tất cả những gì
con người tạo ra, ở trong con người và liên quan trự
c tiếp nhất đến con người.
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ
cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ
những sáng tạo và phát minh đó t
ức là văn hóa”
(1)
. Như vậy, theo Hồ Chí
Minh văn hóa gồm tất cả những gì con người sáng tạo ra nhằm duy trì cuộc
sống con người và xã hội. Trong “Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa”
năm 2001, UNESCO đã định nghĩa: văn hóa được hiểu là một tập hợp các
đặc điểm nổi bật về mặt tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội
hay một nhóm xã hộ
i, ngoài văn chương và nghệ thuật thì văn hóa còn bao
gồm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị truyền thống và
tín ngưỡng.

1. Hồ Chí Minh (1995), “Mục đọc sách” Hồ Chí Minh Toàn tập tập 3, xuất bản lần thứ 2, Nxb
CTQG, Hà Nội, tr 431.

đảm bảo đời sống, thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, cách
thích ứng với điều kiện tự nhiên để tiến hành sản xuất ra của c
ải nuôi sống con
người, thõa mãn nhu cầu của con người trong môi trường tự nhiên và xã hội
nhất định. Trước hết, đó là những phương tiện kỹ thuật sản xuất, những sản
phẩm thiết yếu cho cuộc sống như ăn, ở, mặc, phương tiện đi lại… Quá trình

23
cải tạo tự nhiên ở những môi trường khác nhau đã tạo ra các nền văn hóa khác
nhau. Những hoạt động và sáng tạo của con người trong môi trường tự nhiên
được vật chất hóa thành những sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu (ăn, mặc, ở, đi
lại…) của con người, đồng thời sẽ tạo ra sắc thái văn hóa vùng, miền, khu
vực. Những hoạt động sáng tạo của con người đượ
c dấu hiệu hóa bởi một số
sự nhân hóa tự nhiên, tự nhiên theo hình ảnh khác nhau của con người mà tạo
ra vật phẩm, các biểu tượng văn hóa. Do đó, khi khảo cứu văn hóa một dân
tộc, một tộc người trước hết cần phải xem xét điều kiện tự nhiên cũng như xã
hội của dân tộc đó.
Văn hóa xã hội thể hiện mối quan hệ giữa con ng
ười với con người trong
xã hội (vì suy cho cùng “con người là một tổng hòa các mối quan hệ xã hội”,
cũng như quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng ở một thời điểm nhất định.
Trước hết là gia đình, làng bản, đất nước. Trong quá trình hoạt động, con
người luôn hướng tới việc tạo ra những giá trị văn hóa - xã hội . Đó là những
chuẩn mực và trong thời điểm l
ịch sử nhất định con người tạo ra các khuôn
mẫu ứng xử. Chính chuẩn mực ứng xử đó đã điều chỉnh những giá trị được
cộng đồng noi theo (thành tập quán) và được kết tinh lại thành truyền thống
mang đặc trưng của cộng đồng người sáng tạo ra văn hóa. Sản phẩm được vật
thể hóa chính là luật tục thành văn và không thành văn, lối sống cá nhân và xã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status