BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO VIỆT NAM
TRUNG TÂM ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN BIỂN
o0o
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO, ỨNG DỤNG
THỬ NGHIỆM BỘ GIÀN KHOAN ĐỊA CHẤT BIỂN NÔNG
KS. Nguyễn Văn Minh
KS. Văn Đức Nam
KS. Trần Hồng Thái
TC. Dương Văn Lộc
và nnk
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO, ỨNG DỤNG
THỬ NGHIỆM BỘ GIÀN KHOAN ĐỊA CHẤT BIỂN NÔNG Chủ nhiệm đề tài ThS. Lê Anh Thắng
Giám đốc TS. Vũ Trường Sơn
III.2. KẾT QUẢ CÔNG TÁC THIẾT KẾ GIÀN KHOAN ĐỊA CHẤT BIỂN
NÔNG 28
III.3. KẾT QUẢ CÔNG TÁC CHẾ TẠO GIÀN KHOAN ĐỊA CHẤT BIỂN
NÔNG 42
CHƯƠNG IV. KẾT QUẢ CÔNG TÁC VẬN HÀNH, THỬ NGHIỆM GIÀN
KHOAN 44
IV.1. CÔNG TÁC THỬ NGHIỆM TẠI HỒ SUỐI HAI 44
IV.2. CÔNG TÁC THỬ NGHIỆM TẠI VÙNG BIỂN VÂN ĐỒN (QUẢNG
NINH) 49
CHƯƠNG V. QUY TRÌNH LẮP ĐẶT VẬN HÀNH GIÀN KHOAN 58
V.1. NHÂN LỰC, PHƯƠNG TIỆN, DỤNG CỤ, VẬT TƯ VÀ TÀI LIỆU
PHỤC VỤ LẮP ĐẶT, VẬN HÀNH GIÀN KHOAN 58
V.2. QUY TRÌNH LẮP ĐẶT, VẬN HÀNH 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
4
MỞ ĐẦU
Công tác điều tra cơ bản về địa chất, khoáng sản biển ở Việt Nam đã tiến hành
được 20 năm nay, tuy nhiên hiện nay. Các tài liệu địa vật lý, trầm tích đáy biển có
nhiều, tuy nhiên chúng ta chưa tiến hành được khoan lấy mẫu trên biển vì vậy việc
luận giải tài liệu địa chất còn rất nhiều hạn chế, đặc biệt là việc đánh giá tài nguyên dự
báo của các loại hình sa khoáng, vật liệ
u xây dựng ở đáy biển. Trên thực tế nếu thuê
2. Bộ bản vẽ thiết kế giàn khoan
5
3. Bộ giàn khoan địa chất biển nông (lưu giữ tại kho của Trung tâm Địa chất và
Khoáng sản biển)
4. Tài liệu kết quả khoan thử nghiệm
5. Quy trình lắp đặt, sử dụng giàn khoan
Báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài được chúng tôi tổng hợp các kết quả
chính đạt được của các chuyên đề. Ngoài phần mở đầu và kết luận, báo cáo được trình
bày theo 5 chương như sau:
Chương I. Thông tin chung về đề
tài
Chương II. Tổng quan tình hình nghiên cứu, thiết kế, chế tạo giàn khoan
Chương III. Kết quả công tác thiết kế, chế tạo giàn khoan
Chương IV. Kết quả công tác vận hành, thử nghiệm giàn khoan
Chương V. Quy trình lắp đặt, vận hành giàn khoan
Trong quá trình thực hiện đề tài, tập thể tác giả luôn nhận được sự quan tâm
giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo, các chuyên viên Bộ Tài nguyên và Môi trường;
lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Trung tâm Địa chất và Khoáng sản biển. Nhân dịp
này t
ập thể tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và cộng tác nói trên. 6
CHƯƠNG I. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
I.1. SỰ CẦN THIẾT
Từ trước đến nay, công tác điều tra, nghiên cứu về địa chất khoáng sản biển ở
Việt Nam được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện. Tuy nhiên, việc
điều tra cơ bản (theo mạng lưới và quy trình được các cấp có thẩm quyền phê duyệt)
(345km
2
).
Trong quá trình thực hiện các dự án, đề án nêu trên, hệ thống trang thiết bị ngày
càng được hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng tài liệu thu thập. Hiện nay, Trung tâm
Địa chất khoáng sản biển là đơn vị có hệ thống thiết bị lấy mẫu trầm tích đáy biển đầy
đủ và mạnh nhất ở Việt Nam. Cụ thể gồm:
- Cuốc đại dương: lấy mẫu sâu nhất đến 0,4m (tính từ đ
áy biển)
- Ống phóng trọng lực: lấy mẫu sâu nhất đến 2,2m (tính từ đáy biển) đối với
trầm tích hạt mịn như bùn, sét; còn đối với trầm tích hạt thô như cát, cát sạn thì chỉ
khoảng 0,3-0,8m.
- Ống phóng piston: lấy mẫu sâu nhất đến 1,5m đối với trầm tích hạt thô như
cát, cát sạn (tính từ đáy biển)
- Ống hút piston tay (lặn lấy mẫu): lấy mẫu sâu nhất khoảng 1,6m (tính t
ừ đáy
biển).
7
Đánh giá chung về thiết bị lấy mẫu địa chất, khoáng sản biển:
Với điều kiện
trang thiết bị như trên có thể thấy rằng việc luận giải tài liệu địa chất còn rất nhiều
hạn chế, đặc biệt là việc đánh giá tài nguyên dự báo của các loại hình sa khoáng, vật
liệu xây dựng ở đáy biển.
Những hạn chế cụ thể về việc luận giải tài liệu địa chất khoáng sản biển
gồm:
- Độ sâu lấy được mẫu (tính từ đáy biển) nhỏ (chỉ đến 0,5m đối với trầm tích
hạt thô)
- Việc luận giải địa chất, đánh giá triển vọng khoáng sản dưới sâu hiện chủ yếu
dựa vào các tài liệu địa vật lý (địa chấn, từ biển) có liên kết tương đối (về không gian)
Có được bộ giàn khoan, gọn nhẹ, cơ động phục vụ khoan địa chất ở vùng biển
đến độ sâu 15m nước, độ sâu khoan nhỏ hơn 20m (tính từ đáy biển).8
I.2.2. Nhiệm vụ (nội dung đề tài)
Gồm các nội dung sau:
1. Thu thập tổng hợp, đánh giá về tài liệu về giàn khoan biển, hồ, cửa sông của Việt
Nam và thế giới
1.1. Thu thập tổng hợp tài liệu về các loại giàn khoan trên biển, hồ, cửa sông của
các nước trên thế giới
1.2. Thu thập tổng hợp tài liệu về các loại giàn khoan trên biển, hồ, cửa sông tại
Việt Nam
1.3. Xây dựng báo cáo tổng quan về công tác khoan biển, sông, hồ trên thế giới
và Việt Nam
2. Xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế, chế tạo, vận hành giàn khoan biển nông
2.1. Tổng quan về điều kiện khí tượng thủy văn, hải văn đới biển ven bờ Việt Nam
phục vụ nghiên cứu thiết kế giàn khoan
2.2. Đánh giá cấu trúc và thành phần vật chất tầng nông vùng biển đến 15m
nước phục vụ thiết kế chế tạo giàn khoan và lựa chọn vị trí khoan thử nghiệm
2.3. Xây dựng các yêu cầu kỹ thuật, an toàn vận hành của giàn khoan:
- Xác định các thông số c
ơ bản của thiết bị nâng giàn khoan:
- Xác định yêu cầu kỹ thuật của mặt sàn thi công khoan.
- Xác định yêu cầu kỹ thuật của thiết bị khoan
- Xác định yêu cầu về hệ thống ống chống định hướng (đoạn ống ngoài cùng
từ giàn khoan đến dưới đáy biển 5-10m)
- Xác định yêu cầu về an toàn trong quá trình lắp đặt, vận hành giàn khoan
- Xác định yêu cầu về việc định vị giàn khoan, neo, giá neo và tờ
- Từ nguồn khác 0 triệu đồng 10
CHƯƠNG II. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ,
CHẾ TẠO GIÀN KHOAN
II.1. NGOÀI NƯỚC
Trên thế giới, hệ thống giàn hoạt động trên biển chủ yếu phục vụ cho công tác
tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí, khoáng sản rắn và các mục đích quân sự. Tuy sử
dụng cho đa mục đích, nhưng nhìn chung chúng đều có cấu tạo tương đối giống nhau
(đối với từng kiểu cụ thể) và đều nhằm phục vụ hoạt động sinh hoạt và làm việc của
con ngườ
i ở trên biển. Dựa vào khả năng di chuyển, mức độ ổn định và phương pháp
cố định ta có thể liệt kê được một số giàn điển hình như sau (theo UK Offshore
Operators Association Ltd.):
- Giàn cố định (Fixed Platform)
- Giàn tự nâng (Jack Up Platform)
- Giàn bán chìm (Semi Submersible Platform)
- Giàn neo đứng (TLP or Spar)
- Cụm kết cấu đa năng: Nổi, Sản xuất và Kho chứa (Floating Production &
Storage Units, FPSU)
Nhìn chung các công trình biển trong công nghiệp dầu khí đều có kích thước rất
lớn và giá thành rất cao (có thể lên đến hàng trăm tri
ệu đô la Mỹ). Kích thước của
chúng theo từng chiều (cho cả ba chiều dài x rộng x cao) có thể lên đến hàng trăm mét.
Hình II.1. Các loại giàn khoan dầu khí điển hình
được nâng lên cao hơn mặt nước và như thế ta sẽ có một kết cấu giàn ổn định, do phần
12
thân nêu trên không chịu tác động của tải trọng sóng. Chiều dài của chân giàn sẽ xác
định chiều sâu của cột nước mà giàn có thể hoạt động được. Nhìn chung, vì lý do kinh
tế, chiều sâu hoạt động của giàn tự nâng thường thấp hơn 100m (chiều sâu làm việc
lớn nhất của giàn tự nâng hiện nay là khoảng 170m).
Hình II.3. Giàn tự nâng (Jack Up Platform)
Giàn tự nâng có rất nhiều ưu điểm so với các loại giàn khác như tính ổn định làm
việc tốt, tương đối linh động và chiều sâu hoạt động của nó rất phù hợp với mực nước
biển ở một số khu vực biển có trữ lượng dầu lớn trên thế giới như: Biển Bắc, Vịnh
Mêhicô thuộc Mỹ hay Trung Đông.
Tuy nhiên ngoài nhược đi
ểm là bị hạn chế về độ sâu làm việc, thì yếu điểm lớn
nhất của giàn tự nâng là nó phụ thuộc rất nhiều vào cấu tạo địa chất của đáy biển. Giàn
tự nâng, về mặt cơ bản chỉ thích hợp đối với các nền đáy biển có cấu tạo từ cát. Còn
đối với các nền cứng (chẳng hạn như nền san hô) thì chân giàn rất khó cắ
m đủ sâu vào
nền đáy biển và như thế giàn sẽ rất dễ bị lật. Trong khi với các nền mềm (ví dụ như
nền bùn) thì giàn sẽ bị lún và điều này cũng rất dễ gây lật giàn.
3. Giàn bán chìm (Semi Submersible Platform)
Giàn bán chìm có cấu tạo gồm ba phần: phần thân trên có các thiết bị công nghệ
và nơi sinh hoạt (deck); phần thân chìm dưới nước, chỉ nổi lên một mức nhất định khi
di chuyển (pontoons); và hai phần này
được liên kết bằng một hệ thống cột đỡ và
thanh giằng chịu lực (column).
Phần thân chìm cũng có thể được thiết kế như con tàu hai thân và khi đó hệ thống
cột đỡ được cấu tạo để đóng vai trò hệ thống dằn, khi đó giàn bán chìm còn được gọi
là giàn ổn định bằng cột. Giàn bán chìm có gắn các chân vịt vì thế nó có thể tự di
hệ thống neo giữ thường chiếm một không gian rất lớn, nên có thể ảnh hưởng đến các
phương tiện đi lại trên biển.
4. Giàn neo đứng (TLP hay Spars)
Giàn neo đứng có cấu tạo tương tự như giàn bán chìm, nó cũng bao gồm ba phần:
thân, phao và hệ thống cột đỡ. Điểm khác biệt là giàn neo đứng được cố định xuống
14
dưới đáy biển bởi các dây neo (thường được lắp ở các góc của giàn) thẳng đứng. Sự
kéo thẳng của các dây neo này chủ yếu là do sức đẩy của nước. Do có cấu tạo tương tự
như giàn bán chìm nên tính năng và hoạt động của giàn neo đứng cũng giống như của
giàn bán chìm. Có lẽ do điều này mà người ta cũng không phân biệt nhiều lắm giữa hai
kiểu neo đứng và bán chìm. Tuy nhiên do hệ thống neo r
ất kiên cố và có cấu tạo giống
như chân đế giàn cố định, nên có quan điểm coi giàn neo đứng thuộc loại giàn cố định.
Hình II.5. Giàn neo đứng (TLP hay Spars)
5. Cụm kết cấu đa năng: Giàn công nghệ và Kho chứa nổi (Floating
Production & Storage Units, FPSU)
Cụm kết cấu này thường được xây dựng trên cơ sở chuyển đổi từ các tàu chở dầu
và đôi khi được chuyển đổi từ giàn bán chìm. Cụm kết cấu này sẽ di chuyển vào vị trí
định trước (thường là các giếng dầu đã được khoan sẵn và đã lắp đặt hệ thống bơm
khai thác chìm ở dưới đáy biển), sau đó nó sẽ tiến hành việc khai thác và lưu chứa dầu.
Khi di chuyển đến vị trí định trước, tàu khoan sẽ được cố định tương đối so với thềm
đáy biển bằng phương pháp neo thông thường (conventional positioning) hoặc bằng
phương pháp cố định động (dynamic positioning). Do cấu tạo của nó là kết cấu dạng
tàu cho nên tính linh động trong di chuyển của cụm FPSU này khá cao và chịu được
các đi
ều kiện sóng gió. Chính vì thế cụm công trình này thường được sử dụng cho các
giếng khoan nhỏ, không đủ sản lượng để xây dựng giàn khai thác, nằm ở khu vực sóng
gió và xa bờ.
đồng trị giá 150 triệu đôla Mỹ với hãng Shell Exploration để chế tạo một giàn khoan
khai thác dạng bán chìm (SS-FPU) có tải trọng khoảng 30.000 tấn. Hợp đồng này hoàn
tất vào tháng 12/2002 theo hình th
ức chìa khoá trao tay. Giàn này được chế tạo theo
phương pháp "Ghép nối boong trên bờ" (onshore deck mating" đối với hai phần: phần
16
trên (topside) và phần thân tàu (hull). Sau khi chế tạo người ta đã dùng cẩu để nâng
giữ phần trên trong không gian, sau đó cho phần thân tàu trượt xuống dưới phần trên
và hàn lại với nhau.
Đối với công tác khoan nông (độ sâu vài chục mét) trên biển, trên hồ (chủ yếu
để nghiên cứu địa chất công trình phục vụ lắp đặt giàn khoan) thì hầu hết sử dụng tàu
khoan. Tàu khoan có cấu tạo (vỏ tàu) tương tự như các loại tàu khác, nhưng chúng có
một khoảng h
ở rất lớn để đặt các thiết bị công nghệ (moon pool). Tàu khoan có thể
được đóng mới hoặc được chuyển đổi, nâng cấp từ các dạng tàu khác. Một đặc tính rõ
ràng của tàu khoan là khả năng cơ động cực kỳ cao, ngoài ra nó còn có thể mang theo
một lượng hàng dự trữ lớn, tuy nhiên độ ổn định làm việc của tàu khoan thì kém hơn
so với giàn bán chìm. Khi di chuyển đến vị trí định trước, tàu khoan sẽ được cố
định
tương đối so với đáy biển bằng phương pháp neo thông thường (conventional
positioning) hoặc phương pháp cố định động (dynamic positioning).
Hình II.7. Tàu khoan sử dụng hệ thống neo động lực (Dynamic Positioning System) -
Khoan tại hồ Malawi (Đông Phi)
Ngoài ra, đối với khoan địa chất tại một số hồ, trên thế giới người ta sử dụng các
dạng giàn khoan lắp ghép bằng boongton, phao nổi (hình II.8, II.9)
- Key Gibralta là giàn tự nâng có chiều sâu hoạt động khoảng 90m, giàn này
thuộ
c sở hữu của công ty Global SantaFe và hiện do tập đoàn JVPC vận hành (thuê).
- Ocean Epoch là giàn bán chìm có chiều sâu hoạt động khoảng 1850m, giàn này
thuộc sở hữu của công ty Diamond Offshore và hiện do tập đoàn BP vận hành (thuê).
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ngày càng có nhiều tiến bộ trong công
tác nghiên cứu, chế tạo các giàn khoan phục vụ thăm dò, khai thác dầu khí:
* Trong năm 2003, Liên doanh Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (PTSC) và
J.Ray McDermott đã hạ thủy thành công khối thượng t
ầng giàn công nghệ đầu giếng
WHP-A từ bãi chế tạo của PTSC tại Vũng Tàu xuống xà lan để đưa ra lắp đặt tại mỏ
Sư Tử Đen thuộc lô 15-1 thềm lục địa Việt Nam. Sự kiện này đánh dấu một mốc quan
trọng trong quá trình thực hiện dự án "Thiết kế, mua sắm, chế tạo, vận chuyển, lắp đặt,
chạy thử giàn công nghệ đầu giế
ng WHP-A, hệ thống đường ống ngầm và hệ thống
kết nối đầu ống'' nằm trong dự án phát triển mỏ Sư Tử Đen giai đoạn I của CLJOC.
* Ngày 6/3/2008, tại Cảng dịch vụ dầu khí Vũng Tàu, Tổng công ty Cổ phần
Dịch vụ Kỹ thuật dầu khí (PTSC) đã phối hợp với các công ty trong và ngoài nước hạ
thủy an toàn giàn khai thác giếng dầu Sông Đốc A (SDA). Giàn khai thác nặng 600 tấn
thu
ộc dự án phát triển cụm mỏ Sông Đốc – Rạch Tàu - Khánh Mỹ - Phú Tân tại lô
19
46/02 ngoài khơi Việt Nam do Công ty điều hành chung Trường Sơn làm chủ đầu tư.
* Dự án mua và đóng mới giàn khoan tự nâng 90m nước của Tổng Công ty Dầu
khí đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi với tổng mức
đầu tư 113,285 triệu USD (chưa bao gồm lãi vay trong thời gian xây dựng), trong đó,
Tổng Công ty Dầu khí huy động 30%, còn lại là vốn vay ngân hàng.
Đối với công tác khoan nông (độ sâu vài chục mét) trên biển (chủ yế
u để nghiên
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ CÔNG TÁC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO GIÀN
KHOAN
III.1. XÂY DỰNG CƠ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC THIẾT KẾ, CHẾ TẠO,
VẬN HÀNH GIÀN KHOAN BIỂN NÔNG
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu các chuyên đề để làm cơ sở khoa học cho việc
thiết kế, chế tạo, vận hành giàn khoan, cụ thể gồm 03 chuyên đề sau:
- Tổng quan về điều kiện khí tượng thủy văn, hải văn đới biển ven bờ Việt Nam
phục vụ nghiên cứu thiết k
ế giàn khoan
- Đánh giá cấu trúc và thành phần vật chất tầng nông vùng biển đến 15m nước
phục vụ thiết kế chế tạo giàn khoan và lựa chọn vị trí khoan thử nghiệm
- Xây dựng các yêu cầu kỹ thuật, an toàn vận hành của giàn khoan , bao gồm:
+ Xác định các thông số cơ bản của thiết bị nâng giàn khoan:
+ Xác định yêu cầu kỹ thuật của mặt sàn thi công khoan.
+ Xác định yêu cầu kỹ thuật của thiết b
ị khoan
+ Xác định yêu cầu về hệ thống ống chống định hướng (đoạn ống ngoài
cùng từ giàn khoan đến dưới đáy biển 5+10m)
+ Xác định yêu cầu về an toàn trong quá trình lắp đặt, vận hành giàn
khoan
+ Xác định yêu cầu về việc định vị giàn khoan, neo, giá neo và tời neo
+ Xác định yêu cầu về nhân lực, thiết bị chủ yếu lắp đặt trên giàn khoan
Kết quả chi tiết được trình bày tại các báo cáo chuyên đề trên, d
ưới đây chúng
tôi chỉ trình bày khái quát những kết quả đạt được như sau:
III.1.1. Chuyên đề Tổng quan về điều kiện khí tượng thủy văn, hải văn đới biển
ven bờ Việt Nam phục vụ nghiên cứu thiết kế giàn khoan
Tập thể tác giả đã tiến hành thu thập và xử lý các tài liệu về điều kiện khí tượng,
hải văn đới biển ven bờ Việt Nam. K
Chế độ thủy
triều
trung bình cả mùa đông
lẫn và mùa hè khoảng
3,0m/s
cường.
2
Thanh
Hóa đến
Hà Tĩnh
- Mùa đông: có gió
hướng bắc chiếm tần
suất tới 70%.
- Mùa hè: có gió hướng
tây nam, hướng nam và
hướng đông nam.
Có hướng đi từ bắc xuống
nam. Tốc độ dòng thường
kỳ khoảng 20-25cm/s.
Có chế độ nhật
triều không đều là
chủ yếu. Độ lớn
khoảng trên 3,0m
vào kỳ triều
cường.
3
Quảng
Bình -
Thừa
Thiên
thịnh hành là Bắc, Tây
Bắc và Đông bắc.
- Mùa hè: hướng gió
thịnh hành là hướng
Đông Nam, sau đó là
hướng Tây và Tây nam
- Mùa đông: dòng chảy có
xu thế từ Bắc xuống Nam,
tốc độ trung bình 20-25cm/s
- Mùa hè: tồn tại hai hướng
dòng chảy ngược nhau, ở
phía bắc đi xuống và phía
nam đi lên để rồi cùng hoà
nhập vào trường dòng chảy
gió mùa Tây Nam ở vùng
biển sâu, tốc độ trung bình
10-15 cm/s.
Có chế độ nhật
triều không đều.
Độ lớn triều tại
Đà Nẵng khoảng
trên dưới 1m, phía
nam khoảng 1,5 –
2,0m (trong kỳ
triều cường).
5
Phú
Yên đến
Khánh
bình từ 1,3 -1,6m.
6
Khánh
Hòa đến
Vũng
Tàu
- Mùa đông: gió có
hướng Bắc và đông bắc
chiếm ưu thế
- Mùa hè: gió hướng
Tây và Tây Nam chiếm
ưu thế
- Có xu thế chảy về phía bắc
trong mùa hè và xu thế chảy
về phía nam trong mùa
đông, tốc độ trung bình từ
15-20cm/s.
- Vùng phía bắc:
từ Khánh Hoà tới
Phan Thiết có chế
độ thuỷ triều
thuộc nhật triều
không đều
- Vùng phía nam:
từ Phan Thiết trở
vào mang tính
23
STT Vùng Chế độ gió Chế độ dòng chảy
c
kém.
8
Từ Mũi
Cà Mau
đến
Kiên
Giang
- Mùa đông: gió có
hướng Đông là chủ yếu,
sau đó là hướng gió
Đông Bắc và Đông
Nam.
- Mùa hè: hướng gió
thịnh hành là Tây và
Tây Nam.
- Phía ngoài khơi: dòng chảy
có hướng từ phía Hà Tiên về
Cà Mau, với vận tốc trung
bình từ 8-10 cm/s.
- Ở ven bờ phía Tây: trong
năm tồn tại hai hệ thống
dòng chảy
+ Mùa đông: dòng thịnh
hành có hướng từ Hà Tiên đi
về phía Cà Mau với tố
c độ
trung bình từ 5-8 cm/s.
+ Mùa hè: dòng chảy có
hướng từ Cà Mau về Hà
đất liền
Biển
Đặc điểm thành phần vật chất
I
Móng Cái -
Đèo Ngang
- Phức nếp
lồi Paleozoi
Quảng Ninh
- Rìa trũng
Sông Hồng
- Rìa Đông
Nam đới
Sông Mã,
Sông Cả và
đới Mesozoi
Sầm Nưa
Đới Bạch
Long Vĩ
Đới (bồn)
Sông Hồng
Đơn
nghiêng
Thanh-
Nghệ- Tĩnh
* Các thành tạo đá gốc đa dạng:
- Trầm tích lục nguyên thuộc hệ tầng Tấn Mài (O
3
- Stm), Cô Tô (O
3
3
n pb), Hải Vân
(G/T
3
hv); Bản Muồng (G/J-K bm), Chà Vằn (Gb/T
3
cv). Cấp đất đá đặc trưng: từ cấp VII đến cấp
X .
* Trầm tích Đệ tứ lộ trên đáy biển chủ yếu có tuổi Holocen với thành phần đa dạng từ sạn sỏi
đến bùn, bột, sét. Trong đó, trầm tích hạt thô (sạn sỏi, cát sạn) thường phân bố ở bãi triều các
mũi nhô, các đảo lộ đá gốc, trầm tích hạt mịn (cát bùn, bùn cát, bột sét) gặp nhiều
ở các vịnh Hạ
Long, Bái Tử Long, Lan Hạ, Diễn Châu. Cấp đất đá đặc trưng: từ cấp I đến cấp III (chủ yếu là
cấp II - III).
II
Đèo Ngang -
Sơn Trà
Rìa Đông
Nam đới
Sông Cả,
Mesozoi
Hoành Sơn
Phụ bồn
Huế
* Đá gốc chủ yếu là:
- Trầm tích lục nguyên các hệ tầng: Long Đại (O
3
-S
1
lđ), Đông Thọ (D
III
Sơn Trà-Cà
Ná
Rìa khối
KonTum,
Tam Kỳ,
Phước Sơn
và đông nam
Đà Lạt
Đới Quảng
Nam-
Khánh Hoà
* Các thành tạo đá gốc đa dạng:
- Đá biến chất hệ tầng Kim Sơn (AR ks), A Vương (ε
2
- O
1
av). Cấp đất đá đặc trưng: từ cấp VII
đến cấp XI.
- Đá trầm tích lục nguyên hệ tầng La Ngà (J
2
ln). Cấp đất đá đặc trưng: từ cấp IV đến cấp V.
- Các đá phun trào axit - trung tính hệ tầng Nha Trang (Knt), đá bazan hệ tầng Đại Nga (N
2
đn).
Cấp đất đá đặc trưng: từ cấp V đến cấp IX.
- Các phức hệ magma Hải Vân (G/T
3
hv); Đại Lộc (G/D
1
Cửu Long
Đới (bồn)
Cửu Long,
và đới nâng
Côn Sơn
* Đá gốc gặp ít ở khu vực Vũng Tàu và quần đảo Côn Sơn: chủ yếu là các đá magma axit -
trung tính thuộc hệ tầng Nha Trang, phức hệ Đèo Cả. Cấp đất đá đặc trưng: từ cấp V đến cấp
VIII.
* Trầm tích Đệ tứ lộ trên đáy biển đặc trưng là hạt m
ịn: cát mịn, cát bùn, bùn cát, bùn sét. Cấp