thành lập bản đồ địa chất biển đông và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - cấu trúc sâu biển đông việt nam và các vùng kế cận tỷ lệ 1-1.000.000 - Pdf 13

Bộ Khoa học và Công nghệ Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam
Chơng trình KC. 09 Liên đoàn Địa chất Biển Đề tài
Thành lập bản đồ địa chất Biển Đông và các vùng
kế cận tỷ lệ 1/1.000.000 Chuyên đề
Cấu trúc sâu biển đông việt nam và các
vùng kế cận tỷ lệ 1/1.000.000

tác giả: GS.TS. Bùi Công Quế
TS. Trần Tuấn Dũng
6439-5
30/7/2007

Hà Nội, 2005

Mục lục

Trang
I. Các kết quả điều tra khảo sát địa chất-địa vật lý liên quan đến
việc thành lập bản đồ cấu trúc sâu vùng biển việt nam và kế cận

liên quan đến việc thành lập bản đồ cấu trúc sâu
vùng biển việt nam và kế cận
Biển Đông là một biển rìa có cấu kiến trúc phức tạp và trải qua một quá
trình phát triển kiến tạo khá đặc biệt. Kết quả của các hoạt động điều tra khảo
sát và nghiên cứu trong hàng trăm năm qua trên các vùng của biển Đông nói
chung và ở vùng biển Việt Nam nói riêng đã và đang là cơ sở quan trọng trong
các công trình nghiên cứu tổng hợp về các qui luật hình thành phát triển,
những đặc điểm cấu kiến trúc vỏ trái đất. Dới đây là những kết quả chủ yếu
đã đạt đợc trong từng lĩnh vực.
Dựa trên những kết quả điều tra khảo sát ban đầu về đặc điểm địa hình,
địa mạo và cấu tạo trầm tích đáy biển, ngay trong giai đoạn 1950-1960, các
nhà địa chất Pháp nh Saurin đã công bố một số công trình về cấu trúc địa
chất và đặc điểm kiến tạo của biển Đông và vùng thềm lục địa Việt Nam với
những phác thảo ban đầu về cơ bản đúng cho đến hiện tại.
Trong những năm 1971-1972, các nhà địa chất Hoa Kỳ tiếp tục bổ sung
và công bố các công trình nghiên cứu về cấu trúc kiến tạo của vùng biển Việt
Nam trong bình đồ kiến tạo biển Đông và Đông Nam
á
(Parke, 1971-Emery,
1972). Tiếp đó Hayes và Taylor (1978-1980) đã xuất bản tập bản đồ về các
trờng địa vật lý và cấu trúc các vùng biển Đông Nam á và Đông á với tỷ lệ
1:5.000.000. Trong đó có loạt các bản đồ địa chất và địa vật lý Biển Đông.
Từ sau năm 1975 và tiếp theo, trong các đề tài nghiên cứu thuộc chơng
trình Thuận Hải-Minh Hải (1977 -1980), các nhà địa chất Việt Nam (Lê Văn
Cự, Hồ Đắc Hoài, Ngô Thờng San) đã có những công trình nghiên cứu tổng
hợp về cấu trúc kiến tạo của thềm lục địa Việt Nam và phân chia ra các bể
trầm tích đệ tam ở tỉ lệ 1:500.000 và lớn hơn nh các đối tợng thăm dò tìm
kiếm các mỏ dầu khí.
- -
3

4
1985 đến 1989 Cục đo đạc bản đồ nhà nớc đã lần lợt xuất bản các bản đồ
địa hình Việt Nam, bao gồm cả vùng thềm lục địa và ven biển ở tỉ lệ
1:1.000.000. Ngoài ra còn xuất bản bản đồ địa hình toàn biển Đông tỉ lệ
1:4.000.000.
Năm 1987, viện khoa học Quảng Đông Trung Quốc xuất bản tập Atlas
địa chất-địa vật lý biển Nam Trung Hoa gồm 11 bản đồ tỉ lệ 1:2.000.000 toàn
biển Đông với các đặc trng địa hình, địa mạo, bản đồ dị thờng trọng lực, dị
thờng từ, bản đồ cấu trúc sâu, bản đồ kiến tạo, bản đồ các bể trẩm tích
Kainozoi, bản đồ các thành tạo đệ tứ, bản đồ trầm tích đáy
Năm 1989, Kulinic R.G và các nhà địa chất của trung tâm Viễn Đông,
viện HLKH Liên Xô đã công bố chuyên khảo "Biến đổi Kainozoi của vỏ trát
đất vùng biển Đông Nam
á
" trong đó tổng hợp những kết quả điều tra khảo
sát về địa chất và địa vật lý trên vùng biển Đông của các nhà khoa học Liên
Xô và Việt Nam trong những năm 1975-1985, xây dựng các bản đồ, sơ đồ cấu
trúc kiến tạo, địa động lực và cấu trúc sâu, lịch sử phát triển kiến tạo trên vùng
thềm lục địa Việt Nam và toàn biển Đông.
Các kết quả nghiên cứu điều tra về trầm tích đệ tứ đầu tiên của biển
Đông đợc khái quát trong công trình của Shepard (1949). Tiếp đó là của
Niino và Emery (1961), Saurin (1962) và Parke (1971). Từ sau năm 1975, các
nhà địa chất Việt Nam đã chủ động tiến hành các nghiên cứu về trầm tích đệ
tứ trên vùng thềm lục địa Việt Nam (Trịnh Phùng, 1975, Trịnh Phùng, Trịnh
Thế Hiếu, 1985, 1987, Nguyễn Địch Dỹ, 1979, 1995, Nguyễn Đức Tâm,
1995, Trần Nghi, 1995, Nguyễn Hoàn, 1996, Nguyễn Ngọc, 1996, Nguyễn
Biểu, 1989, 1999). Trong các công trình điều tra, nghiên cứu của các tác giả
Việt Nam đã tổng hợp các kết quả phong phú và có giá trị về địa mạo và trầm
tích biển ven bờ các vùng Hải Phòng, Quảng Ninh, vùng ven bờ miền Trung,
đặc điểm trầm tích tầng mặt vịnh Bắc bộ. Các kết quả nghiên cứu xác định

về địa chất và địa vật lý trên vùng biển Đông, các nhà nghiên cứu của Việt
Nam và nghiên cứu ngoài đã tiến hành nhều công trình nghiên cứu về cấu trúc
- -
6
sâu vỏ trái đất và chế độ địa động lực liên quan với quy luật phân bố khoáng
sản cũng nh dự báo và phòng ngừa các tai biến địa chất.
Đặc điểm cấu trúc của các ranh giới cơ bản và các ranh giới sâu trong
vỏ trên thềm lục địa Việt Nam và biển Đông đợc đề cập trong các nghiên cứu
của Hayes (1975, 1980), Parke (1985), Hồ Đắc Hoài (1985), Bùi Công Quế
(1990, 1995, 1998,2000) Wujimin (1994), Lieng Dehua (1993), Kulinic
(1989), Rangin (1986,1990), Watkins (1994), Hinz và n.n.k (1985, 1996). Các
tác giả nối trên đã tổng hợp số liệu điều tra xây dựng các sơ đồ, bản đồ cấu
trúc sâu ranh giới cơ bản của vỏ cũng nh các đặc trng địa động lực trên
thềm lục địa và các vùng khác trên biển Đông.
Hệ thống các đứt gãy trong vỏ trái đất và các hoạt động kiến tạo, địa
động lực liên quan với chúng trên vùng biển Việt Nam và biển Đông, đặc biệt
là động đất, núi lửa, hoạt động tân kiến tạo đã đợc nghiên cứu trong các
công trình của Lê Duy Bách (1987, 1990), Kulinic (1989), Wujimin (1994),
Bùi Công Quế (1985, 1990, 1999, 2000), Saurin (1967), Nguyễn Xuân Hãn
(1991, 1996), Phạm Văn Thục và n.n.k (1999, 2000)
Tổng hợp các quả điều tra nghiên cứu về địa chất và địa vật lý trên vùng
biển Việt Nam thông qua các chơng trình nghiên cứu biển cấp nhà nớc từ
1997 đến 2000. Tập thể các nhà nghiên cứu của Việt Nam dới sự chủ biên
của Mai Thanh Tân đã hoàn thành chuyên khảo biển Đông- tập III. Địa chất
và địa vật lý biển (Hà Nội 2003). Trong chuyên khảo này các tác giả đã lần
lợt tập hợp và hệ thống lại các bớc phát triển và kết quả điều tra nghiên cứu
chủ yếu về địa hình, địa mạo, trầm tích đệ tứ, các bể đệ tam, các trờng địa vật
lý và cấu trúc sâu vỏ trái đất , chế độ kiến tạo, và địa động lực tiềm năng dầu
khí và khoáng sản trên vùng biển Đông và thềm lục địa Việt Nam.


8
Giá trị mật độ đặc trng cho một số loại đất đá
Volcanic ash (đá núi lửa) 1,8 gm/cm
3

Salt (muối) 2,0 gm/cm
3

Unconsolidated sediments (trầm tích bở rời) 2,1 gm/cm
3

Clastic sedimentary rocks (trầm tích mảnh vụn) 2,5 gm/cm
3

Limestone (đá vôi) 2,6 gm/cm
3

Dolomite (
đá đô limit)
2,8 gm/cm
3

Intrusive granites (đá granit xâm nhập) 2,65 gm/cm
3

The crystalline upper crust (vỏ kết tinh thợng) 2,7 gm/cm
3

Mafic intrusions (xâm nhập ma phic) 2,9 gm/cm
3

117.85 20.23 16,4
5
117.83 20.73 22,0
6
117.67 21.06 25,0
7
117.61 21.43 29,7
8
117.19 21.87 30,6
9
116.97 22.27 28,0
11
111.96 20.71 29,7
12
112.42 19.87 23,7
13
112.70 19.36 29,0
14
112.87 19.02 27,7
15
113.04 18.74 25,6
16
113.25 18.33 17,3
17
113.39 17.71 23,7
22
115.84 19.81 26,5
24
115.57 20.39 28,0
20*

mới ở tỷ lệ 1:1.000.000 để nhận đợc những kết quả biến đổi cần thiết.
3. Kiểm tra, bổ sung, hoàn thành bản đồ cấu trúc mặt moho, conrad, móng
âm học bằng các phơng pháp mới 2ẵD và 3D cho toàn bộ khu vực biển
Đông trên cơ sở áp dụng các phơng pháp phân tích tổng hợp tài liệu địa chất-
địa vật lý mới và các số liệu trọng lực và địa chấn mới.
- -
11
4. Xây dựng mới các mặt cắt địa chất địa vật lý chuẩn cắt qua các cấu trúc
đặc trng trên khu vực biển Đông, để kiểm tra và chính xác hoá các yếu tố cấu
trúc trên bản đồ nh các mặt ranh giới cấu trúc sâu, các dứt gãy và tham số
cấu trúc.
5. Trên cơ sở bản đồ trọng lực Bughe và các bản đồ dị thờng biến đổi, tiến
hành kiểm tra, chính xác hoá và bổ sung thêm về hệ thống đứt gãy trong vỏ
trái đất.
6. Hoàn thiện và liên kết các chi tiết bản đồ cấu trúc sâu (bao gồm các thuộc
tính của chúng) khu vực biển Đông tỷ lệ 1:1.000.000, số hoá trên bản đồ nền
WGS-84.
II.2.2 tạo mạng lới số liệu tính toán
Việc tạo ra một mạng lới số liệu là bớc đầu tiên và rất cần thiết trong
tính toán giải các bài toán địa vật lý. Tất cả các nguồn số liệu thu đợc đều
đợc sử dụng để tạo nên mạng lới grid với khoảng cách là 5ì5 km. Hiện tại
có rất nhiều thuật toán trong nội ngoại suy để xây dựng mạng lới số liệu tính
toán nh là: Inverse Distance, Power, Kriging, Minimum Curvature, Modified
Shepard's Method, Natural Neighbor, Nearest Neighbor, Polynomial
Regression, Radial Basis Function, Triangulation Tuy nhiên qua những quá
trình tính toán thực nghiệm cùng với so sánh các kết quả thu đợc từ những
phơng pháp đó, các tác giả nhận thấy rằng với các thông tin dữ liệu hiện có
trong khu vực nghiên cứu thì thuật toán minimum curvature và Triangulation
cho kết quả phù hợp với thực tế nhất. Thuật toán đó đợc sử dụng xuyên suốt
trong quá trình tính toán xử lý số liệu.

các đứt gãy trong vỏ trái đất.
- -
13
II.2.5 Phơng pháp mô hình
II.2.5.1 Phơng pháp mô hình dị thờng trọng lực 2ẵ, 3 chiều
Dị thờng trọng lực liên quan đến nhiều yếu tố nh: độ sâu đáy biển,
biến đổi chiều dầy lớp vỏ, biến đổi theo phơng ngang và thẳng đứng của mật
độ đất đá trong vỏ quả đất. Bài toán mô hình 2ẵ, 3 chiều đợc các tác giả áp
dụng để xây dựng mô hình các mặt ranh giới cơ bản trong vỏ quả đất.
Khi sử dụng bài toán ngợc 2ẵ,3 chiều, chúng ta sẽ không gặp một vấn
đề gì phức tạp trong việc xây dựng một mô hình cấu trúc vỏ với độ hội tụ
nhanh tới một mô hình cuối cùng mà dị thờng của nó phù hợp với dị thờng
quan sát ở mức độ chính xác cụ thể nào đó. Phơng pháp xây dựng mô hình
thờng đợc xây dựng theo ba bớc:
1. Xây dựng mô hình sơ bộ ban đầu.
2. Tính toán hiệu ứng trọng lực của mô hình.
3. Hiệu chỉnh mô hình dựa trên độ lệch giữa dị thờng tính toán và dị
thờng quan sát.
Ngày nay với trình độ phát triển của công nghệ máy tính điện tử thì việc
giải bài toán ngợc trọng lực ngày càng dễ dàng và thuận lợi hơn. Một chơng
trình máy tính với giao diện thân thiện, dễ sử dụng cho phép tạo nên đối thoại
giữa ngời và máy. Qua đó, các chuyên gia địa chất và địa vật lý có thể dễ
dàng áp dụng trực tiếp những hiểu biết, kinh nghiệm của mình vào quá trình
tính toán xây dựng mô hình. Quá trình tính toán, đối thoại sẽ đợc thực hiện
lặp nhiều lần cho đến khi đa ra đợc mô hình cuối cùng có tính hợp lý, có cơ
sở tin cậy chắc chắn.
II.2.5.2 Phơng pháp điểm kỳ dị kết hợp với lọc trờng
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính toán dị thờng thế trọng lực ở
những mức khác nhau bên dới bề mặt đo đạc cho phép khoanh vùng những
điểm kỳ dị liên quan đến nguồn của dị thờng. Mục đích của phơng pháp là

Vùng nghiên cứu có ba kiểu vỏ là kiểu vỏ lục địa, vỏ đại dơng và vỏ
chuyển tiếp.
- Kiểu vỏ lục địa chiếm diện tích lớn phân bố chủ yếu ở lục địa, thềm lục địa
và các đảo. Vỏ lục địa bị thoái hoá mạnh mẽ ở những vùng sụt lún sâu, bị
nớc biển bao phủ và bị phun trào bazan chồng phủ. Kiểu vỏ dại dơng gắn
- -
16
liền với trung tâm tách giãn Biển Đông kéo dài theo phơng ĐB-TN. Vỏ
chuyển tiếp nằm ở phạm vi ranh giới giữa hai kiểu vỏ nói trên, là phần vỏ lục
địa bị thoái hoá mạnh mẽ. Vỏ lục địa đợc cấu tạo chủ yếu bởi các đá trầm
tích bị biến chất các đá magma có tuổi khác nhau. Bề mặt Moho nằm ở độ sâu
từ trên 40-45 km đến 25-26 km, giảm dần về phía các trũng và thềm lục địa.
- Vỏ đại dơng chỉ lộ ra ở trung tâm trũng biển Đông. Theo tài liệu địa vật
lý cấu tạo vỏ đại dơng ở khu vực này có thể tách giãn ra làm ba lớp: lớp thứ
nhất nằm sát ngay dới mực nớc biển, chủ yếu là trầm tích vụn và đá vôi ám
tiêu san hô; lớp thứ hai, nằm dới lớp thứ nhất, gồm phần trên là bazan vỡ vụn
và phần dới là bazan dạng khối; lớp thứ ba nằm dới cùng có thành phần là
gabro, metagabro, bề dày của vỏ trái đất ở đây từ 10-12 km.
- Vỏ chuyển tiếp nằm ở vị trí trung gian giữa hai kiểu vỏ trên, là phần vỏ lục
địa bị thoái hoá, hủy hoại và lún chìm. Lớp granit ở đây bị suy giảm mạnh.
Trong phạm vi vỏ chuyển tiếp đã xảy ra các quá trình căng giãn vỏ dới tác
động của các chế độ địa động lực tách giãn mạnh mẽ. Độ sâu mặt Moho của
vùng vỏ chuyển tiếp dao động trong khoảng từ 20-25 km, ở vùng Trờng Sa,
mặt Moho nằm ở độ sâu trung bình 22-23km , ở vùng Hoàng Sa, mặt Moho ở
độ sâu 23-25km, ở rìa trung tâm 15-17 km.
II.3.2 Các mặt ranh giới cơ bản
- Mặt Moho: Trên bản đồ phân vùng kiến tạo Biển Việt Nam và lân cận có
vẽ các đờng đẳng sâu bề mặt Moho. ở phần lục địa và thềm lục địa bề mặt
Moho từ 16 đến trên 30 Km, càng về phía lục địa mặt Moho càng chìm sâu
hơn. Đáng chú ý là hình hài đờng đẳng sâu ít nhiều phù hợp với cấu trúc phá

Moho phổ biến trong các mặt cắt cấu trúc sâu ở vùng này.
- Trầm tích Kainozoi:

vùng thềm lực địa đợc phủ bởi lớp trầm tích trẻ có
chiều dày khá có nơi tới 10-15 km phủ không chỉnh hợp trên các đá có tuổi
khác nhau. Bề dày lớp phủ trầm tích đạt giá trị cực đại trong những miền hình
thành các trũng Kainozoi, đặc biệt là trầm tích Neogen -Đệ tứ. Tại các bể
trầm tích nh bể Sông Hồng, là bể trầm tích lớn nhất phát triển theo hơng
- -
18
TB-ĐN có bề dày đạt tới trên 14 km. Bể phú khánh ở rìa chiều dày chỉ có
khoảng 1 km nhng đạt tới 11 km ở trung tâm bể.

bể Cửu Long có sự phân
dị rõ rệt trong trầm tích, bề dày trầm tích lớn nhất ở phần trung tâm bồn trũng,
tại đó bề dày đạt tới 7-8km và giảm dần về phía rìa. Khu vực bể Nam Côn Sơn
bề dày trầm tích biến đổi mạnh và theo nhiều hớng khác nhau, đạt tới 7-13
km ở trung tâm bể. Bể Malai-Thổ Chu phát triển theo hớng TB-ĐN có bề dày
cũng đạt tới hơn 13 km. Trong khi đó thì tại các vùng quần đảo Hoàng Sa,
Trờng Sa thì bề dày trầm tích chỉ từ 0.5 đến vài km.
II.3.3 Hệ thống đứt gy
Vấn đề các đứt gãy trên biển đã đợc quan tâm rất nhiều. Để thể hiện
chúng lên bản đồ chúng tôi đã phân tích đối sánh chúng qua nhiều sơ đồ, bản
đồ của nhiều tác giả trong và ngoài nớc. Các đứt gãy đợc phân thành 3 bậc
chính nh sau:
- Bậc I là các đứt gãy sâu, mang tính khu vực, phân chia các miền kiến tạo-
động học khác nhau. Đó là các đứt gãy lớn mang tính khu vực gồm có: đứt
gãy Sông Hồng, Sông Mã, đứt gãy Tây biển Đông (đứt gãy 109
0
), đứt gãy Ba

. Ngoài ra
cũng còn thấy các đứt gãy theo phơng á vĩ tuyến và các đứt gãy kéo dài theo
phơng ĐB-TN phù hợp với hớng trục tách giãn trung tâm Biển Đông. Các
khối nhô bị phân cắt bởi loạt các đứt gãy cục bộ phơng á kinh tuyến.
Trũng Malay Thổ Chu là trũng địa hào cắt trợt dọc theo hệ phá hủy
đứt gãy phơng TB-ĐN. Đứt gãy sâu tạo móng của trũng Malay Thổ Chu có
lẽ chìm ở dới sâu, biểu hiện trên mặt của chúng là các đứt gãy song song
cùng phơng, trong đó có đứt gãy Ba Chùa. Hệ đứt gãy kinh tuyến chủ yếu
phát triển ở tây bắc bồn trũng, hệ đứt gãy chính phơng TB-ĐN phát triển chủ
yếu ở rìa đông bắc bồn trũng Malay - Thổ Chu.
Về cơ bản kiến trúc của khu vực Trờng Sa ít nhiều liên quan đến hoạt
động của đới hút chìm Borneo-Palawan, nơi vỏ đại dơng cổ Mezozoi bị tiêu
biến dới địa khối Borneo. Các đứt gãy ở đây phát triển theo các phơng á
kinh tuyến , ĐB-TN, TB-ĐN và á vỹ tuyến. Trục tách giãn vỏ đại dơng có
phơng ĐB-TN và các đứt hãy chuyển dịch có phơng tây bắc- đông nam và
các đứt gãy phơng á kinh tuyến. Khu vực quần đảo Hoàng Sa bị phân cắt
mạnh bởi đứt gãy chạc ba Nam Hải Nam, hệ thống các đứt gãy phơng tây
- -
20
bắc-đông nam. Các cấu trúc khu vực Hoàng Sa có quan hệ chặt chẽ với hệ
thống đứt gãy tây biển đông 109
0.
.
II.3.4 Mặt cắt cấu trúc tổng hợp địa chất địa vật lý
Chúng tôi đã tiến hành lựa chọn, thực hiện tính toán xây dựng mô hình
cấu trúc tổng hợp địa chất địa vật lý trên 04 tuyến: tuyến AA có toạ độ (toạ
độ phần trăm) từ (106.47, 19.90)- (117.45, 11.75), tuyến BB có toạ độ từ
(108.18, 18.36)- (117.67, 16.35). CC từ (107.80, 10.54)-(116.06, 6.55), DD
từ (113.02, 4.88)-(113.05-20.96).
Mật độ biến đổi của lớp đất đá trầm tích đợc cho là biến đổi từ 2.3

H×nh 2. C¸c mÆt c¾t cÊu tróc tæng hîp ®Þa chÊt-®Þa vËt lý
- -
22
II.4 những nhận định chủ yếu về bản đồ cấu trúc sâu
ứng dụng kết hợp các phơng pháp minh giải định lợng và mô hình
hoá dị thờng trọng lực theo các phơng pháp biến đổi trờng, phơng phápxác định các điểm kì dị và giải bài toán mô hình 2ẵ, 3 chiều vừa đạt độ hội tụ
nhanh vừa cho phép xác định đồng thời các cấu trúc theo phơng thẳng đứng
(các đứt gãy-phá huỷ kiến tạo) và theo phơng nằm ngang (các mặt ranh giới
sâu) với độ tin cậy cao.
Kết quả tính toán và mô hình hoá các dị thờng trọng lực theo các
phơng pháp đã nêu cho phép bổ sung và chi tiết hoá, nâng cao độ chính xác
của mô hình cấu trúc sâu trên biển Đông hiện đại cả về mặt trị số bề dày, độ
sâu của các lớp, các mặt ranh giới cơ bản, cả về mặt hình thái cấu trúc các
ranh giới sâu và địa mạo đáy biển.
Kết quả định lợng về cấu trúc và hình thái các ranh giới thẳng đứng và
nằm ngang trong vỏ trái đất trên vùng biển Đông đã cho phép bổ sung, hoàn
thiện và chi tiết hoá mô hình cấu trúc của vỏ thuộc cả 3 kiểu vỏ đặc trng là
vỏ lục địa, vỏ chuyển tiếp và vỏ đại dơng tồn tại trên vùng biển Đông. Đặc
biệt là cấu trúc vỏ của vùng quần đảo Hoàng Sa và Trờng Sa đều thuộc kiểu
vỏ chuyển tiếp và là tàn d, hậu quả của các vùng vỏ lục địa cổ bị thoái hoá,
bị nhấn chìm và biến đổi theo xu thế đại dơng hoá vỏ lục địa.
Tất cả các dạng dữ liệu thu thập đợc cũng nh dữ liệu tính toán đều
đợc qui đổi và chuyển về hệ chiếu chuẩn- Mercator trụ đứng- WGS84, đó là
hệ chiếu chuẩn dùng trong ngành Hải dơng học. Toạ độ kinh, vĩ của nguồn
dữ liệu đợc biểu diễn dới dạng phần trăm. Các file dữ liệu này đều đợc GIS
hoá. Chúng dễ dàng chuyển đổi và sử dụng đợc trên các phần mềm khác nh
Arc/Infor, Arc/View, Microstation, Surfer

24
Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo tổng chuyến khảo sát biển của tàu Gagarinsky trên thềm lục địa
Việt Nam, Hà Nội 1990, 1992.
2. Báo cáo tổng chuyến khảo sát Việt-Pháp trên tàuAttalante, Hà Nội, 1993.
3. Bùi Công Quế và n.n.k 1996, Địa chất,địa động lực và tiềm năng khoáng
sản vùng Biển Việt Nam và kế cận. Báo cáo tổng kết đề tài KHCN cấp
nhà nớc KT-03-02, Chơng trình nghiên cứu biển, Hà nội.
4. Bùi Công Quế và n.n.k, 1990, Đặc điểm các trờng địa vật lý thềm lục
địa Việt Nam và các vùng biển kế cận. Báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà
nớc 48B-III.2, Chơng trình nghiên cứu biển, Hà nội.
5. Bùi Công Quế và n.n.k, 1995, Các đặc trng địa vật lý và vật lý khí
quyển vùng quần đảo Trờng Sa. Báo cáo tổng kết đề tài KHCN, Chơng
trình Trờng Sa-Biển Đông, Hà nội.
6. Bùi Công Quế và nnk, 1996-1998.Cơ sở khoa học cho việc xác định ranh
giới ngoài thềm lục địa Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công
nghệ cấp nhà nớc KHCN-06-04. Chơng trình nghiên cứu biển KHCN-
06, Hà Nội.
7. Bùi Công Quế và nnk, 2000. Thành lập bản đồ cấu trúc kiến tạo vùng
biển Việt Nam và kế cận. Báo cáo tổng kết đề tài KHCN-06-12. Chơng
trình nghiên cứu biển KHCN-06, Hà Nội.
8. Bùi Công Quế, Phùng Văn Phách,2001. Về những yếu tố cấu trúc kiến
tạo chính trên vùng biển Việt Nam và kế cận. Tạp Chí Khoa Học và
Công Nghệ Biển .Số 4 (t.1), 1-13.
9. Biển Đông-Chuyên khảo tập III. Địa chất-địa vật lý biển. Chơng trình
điều tra nghiên cứu biển KHCN-06. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà
Nội, 2003.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status