LÝ THUYẾT
(xem giáo trình)
Câu 1: So sánh chế độ GSP với chế độ tối huệ quốc?
Câu 2: So sánh chế độ tối huệ quốc với chế độ đối xử công dân?
Câu 3: Hãy phân tích mục đích mà các doanh nghiệp tiến hành bán phá giá?
Mục đích của việc áp dụng thuế chống bán phá giá là gì?
Câu 4: Khi quốc gia tham gia vào quan hệ thương mại với tư cách giống như
thương nhân thì cầu lưu ý đến những vấn đề gì?
NHẬN ĐỊNH ĐÚNG SAI! GIẢI THÍCH
1. Chỉ những hoạt động thương mại vượt ra khỏi biên giới quốc gia
mới được coi là thương mại quốc tế.
SAI, vì ở trong lãnh thổ của 01 quốc gia cũng xảy ra hoạt động thương mại
quốc tế, như hoạt động buôn bán ra vào khu vực chế xuất là phải đóng thuế,
làm thủ tục hải quan (theo luật hải quan) đây là hoạt động thương mại quốc tế.
Vì vậy TMQT trong nước giống như ở nước ngoài là hoạt động TMQT.
1
2. Chỉ những quốc gia có chủ quyền mới là chủ thể của luật thương mại
quốc tế
SAI, vì theo lý thuyết thì quốc gia phải có chủ quyền nhưng trong thực tiễn
một số quốc gia không có chủ quyền nhưng vẫn tham gia Luật TMQT, như các
nước Hồng Kong, Ma Cao, Đài Loan họ vẫn chính thức tham gia tổ chức
thương mại quốc tế WTO.
3.Trong trường hợp chủ thể là quốc gia thì chỉ những quốc gia có chủ
quyền mới có thể trở thành chủ thể của luật thương mại quốc tế. SAI, vì
theo lý thuyết thì quốc gia phải có chủ quyền nhưng trong thực tiễn một số
quốc gia không có chủ quyền nhưng vẫn tham gia Luật TMQT, như các nước
Hồng Kong, Ma Cao, Đài Loan họ vẫn chính thức tham gia tổ chức thương
mại quốc tế WTO.
4.Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được ký kết bằng văn bản.
Sai, vì theo điều 11 công ước viên 1980 quy định “ hợp đồng mua bán
không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một
• Nếu NSX 2 (5%) ủng hộ, NSX 1 (9%) và 3 (15%) phản đối: tổng sản
lượng của các NSX ủng hộ (NSX 4 và 2) là 20% nhỏ hơn so với 24% tổng sản
lượng của các NSX phản đối (NSX 1 và 3) => Đơn kiện sẽ bị bác do không
thoả mãn điều kiện i).
• Nếu NSX 1 (9%) ủng hộ, NSX 2 (5%) và 3 (15%) phản đối: tổng sản
lượng của các NSX ủng hộ (NSX 4 và 1) là 24% lớn hơn so với 20% tổng sản
lượng của các NSX phản đối (NSX 2 và 3) nhưng lại nhỏ hơn 25% => Đơn
kiện sẽ bị bác do thoả mãn điều kiện i) nhưng không thỏa mãn điều kiện ii).
6.Tất cả các tập quán thương mại đều là nguồn của luật thương mại
quốc tế.
SAI, vì không phải bất kỳ tập quán thương mại nào cũng được xem là tập
quán thương mại quốc tế. Tập quán thương mại chỉ được xem là tập quán
thương mại quốc tế với tư cách là nguồn của Luật Thương mại quốc tế khi nó
thỏa mãn các điều kiện pháp lý như sau: tập quán thương mại quốc tế là thói
quen trong thương mại được hình thành từ lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng,
chỉ có một cách hiểu duy nhất, được áp dụng liên tục và được đa số các chủ thể
trong thương mại quốc tế hiểu biết và chấp nhận.
4
7.Khi chủ thể là quốc gia tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế
giống như các thương nhân thì luôn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.
ĐÚNG, nhưng để thuận tiện cho việc tham gia các quan hệ quốc tế thì
thông thường các quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp. Có thể khi kí kết hợp
đồng trong trường hợp này tuyên bố từ bỏ quyền miễn trừ tư pháp thì lúc đó
quốc gia giống như một thương nhân, cá nhân.
8.Hàng hóa được hưởng GSP phải là những hang hóa có xuất xứ hoàn
toàn trong nước hoăc có nguyên vật liệu được nhập khẩu nhưng đã qua
quá trình gia công tái chế cần thiết.
SAI, vì các điều kiện về hàng hóa được hưởng GSP còn có nguyên tắc
ngoại lệ là nguyên tắc cộng gộp khu vực. Về cơ bản, điều kiện về hàng hóa
phải có nguồn gốc xuất xứ tại nước được hưởng hoặc nhập khẩu nhưng đã trãi
chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp
đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của công ước này.
6
12.Theo công ước viên 1980 thì sự im lặng được coi như là sự đồng ý
chấp nhận chào hàng.
SAI, vì theo khoản 1 điều 18 công ước viên 1980 “Một lời tuyên bố hay
một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng
cấu thành chấp nhận chào hàng. Sự im lặng hoặc bất hợp tác vì không mặc
nhiên có giá trị một sự chấp nhận.
13.Chấp nhận chào hàng chỉ có giá trị khi người được chào hàng chấp
nhận toàn bộ chào hàng mà không đưa ra bất kỳ một sự sửa đổi nào.
SAI, vì theo khoản 1 điều 19 Công ước viên 1980 thì một sự phúc đáp có
khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ
sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội
dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào
hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác
biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào
hàng. Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì nội dung của hợp đồng sẽ
là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi nêu trong chấp nhận chào
hàng.
14.Một quốc gia bán phá giá với biên độ phá giá lớn hơn 2 % thì được
coi là hành vi phá giá
SAI, vì ngoài biên độ phá giá lớn hơn 2%, bán thấp hơn 2% của giá xuất
khẩu và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiêt hại cho ngành sản xuất của nước
nhập khẩu thì mới được coi là hành vi phá giá.
7
15.Thu chng bỏn phỏ giỏ cú th c ỏp dng cao hn mc phỏ giỏ.
SAI, vỡ theo khon 3 iu 9 Hip nh AD Mức thuế chống bán phá giá
không đợc phép vợt quá biên độ bán phá giá đợc xác định theo nh Điều 2.
16.Mt ngh c gi ti nhiu ngi khụng xỏc nh cng c coi
ĐÚNG, vì theo Inconterms 2000 thì tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá
trị pháp lý bắt buộc các bên thực hiện khi họ thỏa thuận dẫn chiếu đến trong
hợp đồng.
21.Sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng luôn có giá trị cao hơn
các quy định trong tập quan thương mại quốc tế.
ĐÚNG, vì theo Điều 12 của Incoterms 2000 thì các điều thỏa thuận riêng
biệt có giá trị pháp lý cao hơn cả các điều giải thích trong Incoterm. Trên thực
9
tế các điều khoản của Incoterms có thể không phù hợp với một số thói quen
giao dịch đối với một số ngành nghề hoặc một số tập quan khu vực nào đó. Do
vậy, trong một số trường hợp, trong quá trình giao kết hợp đồng các bên có thể
thoat thuận dẫn chiếu đến tập quán của một ngành riêng biệt, tập quán của một
địa phương hoặc những thực tiễn mà bản thân các bên đã tạo nên trong quá
trình giao dịch thương mại quốc tế trước đó của họ.
22.Chủ thể của luật thương mại trong nước là chủ thể của luật thương
mại quốc tế.
Sai , vì chủ thể của luật thương mại trong nước là thương nhân còn chủ thể
của luật thương mại quốc tế là cá nhân, pháp nhân và quốc gia.
10