TỔNG QUAN về điều KHIỂN mờ và điều khiển mờ TRONG máy GIẶT - Pdf 13

LỜI NÓI ĐẦU
Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào mức độ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và tự động hoá các quá trình sản xuất. Với vai trò là mũi
nhọn của kỹ thuật hiện đại, lĩnh vực tự động hoá đang phát triển với tốc độ ngày
càng cao. Những thành tựu của lý thuyết Điều khiển tự động, Tin học công nghiệp,
Điện tử công suất, Kỹ thuật đo lường đã và đang được triển khai trên quy mô
rộng lớn, tạo nên những thiết bị và dây chuyền công nghiệp sản xuất tự động với
năng suất cao và chất lượng tốt. Trong quá trình sản xuất, việc tự động hoá một dây
chuyền sản xuất đóng vai trò rất quan trọng. Nó là cầu nối giữa các hạng mục sản
xuất, giữa các phân xưởng trong nhà máy, giữa các máy công tác trong một dây
chuyền. Việc điều khiển hoạt động của các dây chuyền hiện đại, tiên tiến cũng ngày
càng đa dạng và phức tạp.
Để làm quen với đó trong môn học Tổng hợp hệ điện cơ chúng em đã được
giao nhiệm vụ thực hiện đồ án “điều khiển mờ máy giặt”. Đây là một trong những
thành tựu mà khoa học kỹ thuật đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đưa kĩ thuật điều khiển lên một tầng phát triển
cao hơn.
Trong quá trình thiết kế, với sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo trong Bộ
môn Tự động hoá XNCN đặc biệt là thầy PHẠM TÂM THÀNH , cộng với sự nỗ
lực của bản thân, em đã hoàn thành được bản đồ án này. Tuy nhiên, do thời gian
tương đối ngắn và trình độ chuyên môn còn hạn chế nên bản đồ án không tránh
khỏi thiếu sót. Em mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo để bản đồ án này
được hoàn thiện hơn.

1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KHIỂN MỜ VÀ ĐIỀU KHIẺN MỜ
TRONG MÁY GIẶT
Khái niệm về logic mờ được giáo sư L.A Zadeh đưa ra lần đầu tiên năm 1965,
tại trường Đại học Berkeley, bang California - Mỹ. Từ đó lý thuyết mờ đã được
phát triển và ứng dụng rộng rãi.
Năm 1970 tại trường Mary Queen, London – Anh, Ebrahim Mamdani đã dùng

k
))
được gọi là tập mờ.
1.1.1. Định nghĩa tập mờ
Tập mờ F xác định trên tập kinh điển B là một tập mà mỗi phần tử của nó là
một cặp giá trị (x,
µ
F
(x)), với x

X và
µ
F
(x) là một ánh xạ :
µ
F
(x) : B

[0 1]
trong đó :
µ
F
gọi là hàm thuộc , B gọi là tập nền.
1.1.2. Các thuật ngữ trong logic mờ

• Độ cao tập mờ F là giá trị h = Sup
µ
F
(x), trong đó sup
µ

MXĐ
3
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
trapmf gbellmf trimf gaussmf gauss2mf smf
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
zmf psigmf dsigmf pimf sigmf
1.1.3. Biến ngôn ngữ
Biến ngôn ngữ là phần tử chủ đạo trong các hệ thống dùng logic mờ. Ở đây các
thành phần ngôn ngữ của cùng một ngữ cảnh được kết hợp lại với nhau.
Để minh hoạ về hàm thuộc và biến ngôn ngữ ta xét ví dụ sau :
Xét tốc độ của một chiếc xe môtô, ta có thể phát biểu xe đang chạy:
- Rất chậm (VS)
- Chậm (S)
- Trung bình (M)
- Nhanh (F)
- Rất nhanh (VF)
Những phát biểu như vậy gọi là biến ngôn ngữ của tập mờ. Gọi x là giá trị của biến
tốc độ, ví dụ x =10km/h, x = 60km/h … Hàm thuộc tương ứng của các biến ngôn
ngữ trên được ký hiệu là :


µ
VS
(x),
µ
S
(x),
µ
M
(x),
µ
F
(x),
µ
VF
(x) }
Ví dụ hàm thuộc tại giá trị rõ x=65km/h là:
µ
X
(65) = { 0;0;0.75;0.25;0 }
1.1.4. Các phép toán trên tập mờ
Cho X, Y là hai tập mờ trên không gian nền B, có các hàm thuộc tương ứng

µ
X
,
µ
Y
, khi đó:
- Phép hợp hai tập mờ: X∪Y
+ Theo luật Max

X
(b) +
µ
Y
(b) -
µ
X
(b).
µ
Y
(b)
- Phép giao hai tập mờ: X∩Y
+ Theo luật Min
µ
X

Y
(b) = Min{
µ
X
(b) ,
µ
Y
(b) }
VS S M F VF
0 20 40 60 65 80 100 tốc độ
µ
1
0.75
0.25

(b) = 1-
µ
X
(b)
1.1.5. Luật hợp thành
1. Mệnh đề hợp thành
Ví dụ điều khiển mực nước trong bồn chứa, ta quan tâm đến 2 yếu tố:
+ Mực nước trong bồn L = {rất thấp, thấp, vừa}
+ Góc mở van ống dẫn G = {đóng, nhỏ, lớn}
Ta có thể suy diễn cách thức điều khiển như thế này:
Nếu mực nước = rất thấp Thì góc mở van = lớn
Nếu mực nước = thấp Thì góc mở van = nhỏ
Nếu mực nước = vừa Thì góc mở van = đóng
Trong ví dụ trên ta thấy có cấu trúc chung là “Nếu A thì B”. Cấu trúc này gọi là
mệnh đề hợp thành, A là mệnh đề điều kiện, C = A

B là mệnh đề kết luận.
Định lý Mamdani:
“Độ phụ thuộc của kết luận không được lớn hơn độ phụ thuộc điều kiện”
Nếu hệ thống có nhiều đầu vào và nhiều đầu ra thì mệnh đề suy diễn có dạng tổng
quát như sau:
If N = n
i
and M = m
i
and … Then R = r
i
and K = k
i
and ….








),( )1,(

),2( )1,2(
),1( )1,1(
ymxnyxn
ymxyx
ymxyx
RR
RR
RR
µµ
µµ
µµ
=










,l
2
,l
3
,…,l
m
} với l
k
=maxmin{a
i
,r
ik
}.
b. Thuật toán xây dựng mệnh đề hợp thành cho hệ MISO
Luật mờ cho hệ MISO có dạng:
“If cd
1
= A
1
and cd
2
= A
2
and … Then rs = B”
Các bước xây dựng luật hợp thành R:
• Rời rạc các hàm thuộc
µ
A1
(x
1

µ
A1
(c
1
),
µ
A2
(c
2
), …,
µ
An
(c
n
) }
7
• Lập ma trận R gồm các hàm thuộc giá trị mờ đầu ra cho từng véctơ giá trị mờ đầu
vào:
µ
B’
(y) = Min {H,
µ
B
(y)} hoặc
µ
B’
(y) = H.
µ
B
(y)

µ
H
G
Hình 4.3:
8
Điểm y’ được xác định là hoành độ của điểm trọng tâm miền được bao bởi trục
hoành và đường
µ
B’
(y).
Công thức xác định :
y’ =


S
S
(y)dy
)(
µ
µ
dyyy
trong đó S là miền xác định của tập mờ B’
♦Phương pháp trọng tâm cho luật Sum-Min
Giả sử có m luật điều khiển được triển khai, ký hiệu các giá trị mờ đầu ra của luật
điều khiển thứ k là
µ
B’k
(y) thì với quy tắc Sum-Min hàm thuộc sẽ là
µ
B’









=






m
k
k
m
k
k
m
k
yB
m
k
kB
S
m
k

(4.1)
trong đó M
i
=

S
'
)( dyyy
kB
µ
và A
i
=

S
'
)( dyy
kB
µ
i=1,2,…,m

Xét riêng cho trường hợp các hàm thuộc dạng hình thang như hình trên :
M
k
=
)3333(
6
12
222
1

k
k
m
k
kk
H
Hy
1
1
với H
k
=
µ
B’k
(y
k
)
Đây là công thức giải mờ theo phương pháp độ cao.
1.2. Bộ điều khiển mờ
1.2.1 . Tổng quan về bộ điều khiển mờ
Trong những năm gần đây, lý thuyết logic mờ đã có nhiều áp dụng thành công
trong lĩnh vực điều khiển. Bộ điều khiển dựa trên lý thuyết logic mờ gọi là bộ điều
khiễn mờ. Trái với kỹ thuật kinh điển, kỹ thuật điều khiển mờ thích hợp với các đối
tượng phức tạp, không xác định mà người vận hành có thể điều khiển theo kinh
nghiệm. Đặc điểm của bộ điều khiển mờ là không cần biết mô hình toán học mô tả
đặc tính của hệ thống dưới dạng các phát biểu ngôn ngữ. Chất lượng của bộ điều
khiển mờ phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người thiết kế.
Về nguyên tắc, hệ thống điều khiển mờ cũng không có gì khác so với hệ thống
điều khiển tự động thông thường khác. Sự khác biệt ở đây là bộ điều khiển mờ làm
việc có tư duy như “bộ não” dưới dạng trí tuệ nhân tạo. Nếu khẳng định với bộ điều

12
+ Khâu mờ hoá
+ Thực hiện luật hợp thành
+ Khâu giải mờ
Xét bộ điều khiển mờ MISO sau, với véctơ đầu vào X =
[ ]
T
n
uuu
21

Hình 4.4:
Bộ điều khiển mờ cơ bản có ba khối chức năng là mờ hóa, hệ luật và giải mờ.
Thực tế trong một số trường hợp khi ghép bộ điều khiển mờ vào hệ thống điều
khiển cần thêm hai khối tiền xử lý và hậu xử lý. Chức năng của từng khối trong sơ
đồ trên được mô tả sau đây:
X
y’
R
1
If … Then…
R
n
If … Then …
H
1
H
n

13

xử lý có thể có khâu tích phân.
Mờ hóa
Mờ hóa có nghĩa là dùng những hàm liên thuộc của các biến ngôn ngữ để tính mức
độ phụ thuộc cho từng tập mờ đối với một giá trị cụ thể của đầu vào. Trước tiên,
xác định ngõ vào và ra của hệ thống. Sau đó định nghĩa luật Nếu – Thì , dùng dữ
liệu để suy ra 1 hàm liên thuộc. Mờ hóa là bước đầu tiên trong quá trình tính toán
của hệ mờ. Kết quả của nó được dùng làm đầu vào để tính các luật mờ.
+ Luật mờ :
Hầu hết các hệ thống hoạt động dựa trên nền tảng logic mờ đều dùng luật để biểu
diễn mối quan hệ giữa các biến ngôn ngữ và để rút ra hành động tương ứng đối với
đầu vào. Một luật bao gồm hai phần : phần điều kiện ( nếu ) và phần kết luận ( thì ).
Phần điều kiện có thể gồm nhiều điều kiện, kết hợp với nhau bằng các liên từ như
và (and) , hoặc Or …
+ Suy luận mờ
Việc tính toán các luật mờ được gọi là suy luận mờ, bao gồm hai bước chính. Tính
từng luật : xét riêng lẻ từng luật mờ, dựa trên hàm liên thuộc của các tập mờ đầu
vào và liên từ kết hợp chúng để tạo ra độ phụ thuộc chung cho các đầu vào, và
cũng là kết quả của riêng luật đó. Thông thường người ta tính AND bằng phép lấy
15
min và OR bằng phép lấy max, điều này nhằm làm giản đơn các phép tính trong
các ứng dụng điều khiển nhỏ.
+ Tổng hợp luật dựa trên kết quả của từng luật đã tính ở trên, người ta tổng hợp
chúng lại để có kết quả cuối cùng của các tập mờ đầu ra. Phương pháp thường dùng
trong bước này là Max-Min hay Max-Prod.
Hiện nay, trong điều khiển mờ người ta có thể áp dụng một trong hai loại qui tắc
điều khiển: qui tắc Mandani và qui tắc mờ Sugeno.
1.2.3. Nguyên lý điều khiển mờ

♦ Các bước thiết kế hệ thống điều khiển mờ.
+ Giao diện đầu vào gồm các khâu: mờ hóa và các khâu hiệu chỉnh như tỷ lệ,

+ Xác định hàm thuộc.
+ Rời rạc hoá tập mờ.
B3: Xây dựng luật hợp thành.
B4: Chọn thiết bị hơp thành.
B5: Giải mờ và tối ưu hoá.
• Những lưu ý khi thiết kế BĐK mờ
- Không bao giờ dùng điều khiển mờ để giải quyết bài toán mà có thể dễ dàng
thực hiện bằng bộ điều khiển kinh điển.
- Không nên dùng BĐK mờ cho các hệ thống cần độ an toàn cao.
- Thiết kế BĐK mờ phải được thực hiện qua thực nghiệm.
• Phân loại các BĐK mờ
i. Điều khiển Mamdani (MCFC)
ii. Điều khiển mờ trượt (SMFC)
iii. Điều khiển tra bảng (CMFC)
iv. Điều khiển Tagaki/Sugeno (TSFC)
17
CHƯƠNG 2. ỨNG DỤNG LOGIC MỜ VÀO BÀI TOÁN
MÁY GIẶT
Ngày nay nhiều trang thiết bị được nhúng trong vào trong nó lôgic mờ để cho
việc sử dụng nó dễ hơn, tiện lợi hơn. Chúng ta có thể tìm thấy lôgic mờ trong
những camera, những nồi cơm điện, những máy hút bụi, …. Như vậy ta có thể có
một ý tưởng rằng chúng đã được làm như thế nào, chúng ta sẽ xem mô hình được
đơn giản hóa này của một máy giặt ứng dụng logic mờ.
Khi sử dụng một máy giặt, việc lựa chọn thời gian giặt dựa vào số lượng quần
áo, kiểu và độ bẩn mà quần áo có. Để tự động hóa quá trình này, chúng ta sử dụng
những phần tử sensors để phát hiện ra những tham số này ( ví dụ: thể tích quần áo,
độ và kiểu chất bẩn). Thời gian giặt được xác định từ dữ liệu này. Không may,
không dễ có cách công thức hóa một mối quan hệ toán học chính xác giữa thể tích
quần áo và độ bẩn và thời gian giặt. Chúng ta giải quyết vấn đề thiết kế này bằng
cách sử dụng lôgic mờ.

Với biến ngôn ngữ Độ bẩn có các tập mờ
Bẩn ít (D.Small)
Bẩn vừa (D.Medium)
Bẩn nhiều (D.Large)
Với biến ngôn ngữ loại chất bẩn có các tập mờ
Mỡ ít (K.NotGreasy)
Mỡ vừa (K.Medium)
Mỡ nhiều (K.Greasy)
Với biến ngôn ngữ kết luận xác định thời gian giặt có các tập mờ
Giặt rất ngắn (T.VeryShort)
Giặt ngắn (T.Short)
Giặt vừa (T.Medium)
19
Giặt lâu (T.Long)
Giặt rất lâu (T.Very Long)
2.2.1 Tập luật
Quyết định làm cho khả năng một mờ là bộ điều khiển được lập luật trong một tập
hợp những quy tắc. Nói chung, những quy tắc là trực giác và dễ hiểu,
Một quy tắc trực giác tiêu biểu như sau :
Nếu thời gian bão hòa lâu và sự trong suốt ít thì thời gian giặt cần phải lâu.
Từ những sự kết hợp khác nhau của những luật đó và những điều kiện khác, chúng
ta viết những quy tắc cần thiết để xây dựng bộ điều khiển máy giặt.
Gọi x: chỉ Độ bẩn (0 <= x <= 100)
y: chỉ Loại chất bẩn (0 <= y <= 100)
z: Thời gian giặt (0 <= z <= 60)
Nếu x lớn và y nhiều thì z là rất lâu
Nếu x vừa và y nhiều thì z là lâu
Nếu x nhỏ và y nhiều thì z là lâu
Nếu x lớn và y vừa thì z là lâu
Nếu x vừa và y vừa thì z là vừa

T. Short(z) = [
0 nếu 0 <= z <= 4
(z-4)/14 nếu 4 <= z <= 18
(32-z)/14 nếu 18 <= z <= 32
21
0 nếu 32 <= z <= 60
]
T.Medium(z) = [
0 nếu 0 <= z <= 18
(z-18)/14 nếu 18 <= z <= 32
(46-z)/14 nếu 32 <= z <= 46
0 nếu 46 <= z <= 60
]
T.Long(z) = [
0 nếu 0 <= z <= 32
(z-32)/14 nếu 32 <= z <= 46
(60-z)/14 nếu 46 <= z <= 60
]
T.VeryLong(z) = [
0 nếu 0 <= z <= 46
(z-46)/14 nếu 46 <= z <= 60
]
22
23
24
Nếu nhập trị input x0 =40 (Độ bẩn), y0=60 (loại chất bẩn)
µD
.Small
(x0) = 1/5
µD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status