Tại về xí nghiệp đầu tư và phát triển du lịch sông Hồng - Pdf 13

I - Lý do chọn đề tài:
Đợc sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, cuộc sống của tôi gắn bó với
mảnh đất nơi có con sông Hồng ngày ngày êm đềm chở nặng phù sa.
Hơn tất cả tôi yêu sông Hồng, yêu mảnh đất quê hơng, vùng đất với
những địa danh nh Long Biên, Chơng Dơng, Hàm Tử ... đã quá thân
quen. Nhng không mấy ngời để ý rằng chính những địa danh này và
con sông Hồng, con sông của lặng lẽ phù sa và ồn ào bão tố lại tiềm
ẩn trong mình nhiều giá trị văn hóa lịch sử lâu đời. Đây chính là lý do
tôi lựa chọn du lịch sông Hồng làm đề tài cho bản báo cáo của mình,
với ý định hình thành cho bản thân một cái nhìn sâu sắc hơn về du
lịch, mà chính yếu là để có đợc sự nhìn nhận du lịch sông Hồng
trong tổng thể.
II - công việc đ ợc giao và những thuận lợi trong
quá trình thực tập:
Với tôi, thực tập tại xí nghiệp đầu t và phát triển du lịch sông
Hồng trong vị trí thực tập hớng dẫn tour là một thuận lợi. Tại xí
nghiệp tôi đợc sự giúp đỡ của chú Trần Quốc Hùng (cử nhân đại học
Văn Hóa) là điều hành tour du lịch sông Hồng, tôi có cơ hội học tập
đợc nhiều kinh nghiệm bổ ích cho nghành học của mình. Mặt khác,
trong quá trình thực tập tôi đợc trao đổi, học tập kinh nghiệm từ các
anh chị hớng dẫn viên trong xí nghiệp và hiểu thêm về bộ máy hoạt
động của một doanh nghiệp lữ hành.
Vơí vị trí thực tập hớng dẫn viên tại xí nghiệp, một trong những
thuận lợi dễ thấy là du lich sông Hồng khai thác các điểm du lịch ven
bờ nên không gặp nhiều khó khăn trong vần đề vận chuyển (kết hợp
giữa các tàu du lịch với ô tô tại các bến phà và điểm đón). Quãng đ-
ờng chủ yếu khai thác của xí nghiệp là đi xuôi dòng khai thác địa
phận Hng Yên, và đi ngợc dòng khai thác địa phận Gia Lâm và Bắc
Ninh. Do đặc thù của du lịch đờng sông nên việc tìm hiểu về lộ trình
tour và tuyến đờng đơn giản hơn so với trên đờng bộ.
Xí nghiệp đã từng có nhiều sinh viên đến thực tập trứơc đó, đây

một hớng dẫn viên nhng ngoại ngữ cũng là vấn đề cần lu tâm. Ngoại
ngữ của tôi không kém nhng về mặt phát âm cha đợc chuẩn vì vậy để
trở thành một hớng dẫn viên tôi cũng nh các sinh viên khác đều cần
có sự cố gắng.
IV - khái quát tình hình hoạt động của xí nghiệp
đầu t và phát triển du lịch sông Hồng:
1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Xí nghiệp đầu t và phát triển du lịch sông Hồng là xí nghiệp trực
thuộc công ty vận tải thủy Hà Nội. Trớc đây trong thời kỳ chế độ bao
cấp xí nghiệp chuyên chở hành khách với 3 tuyến chính:
- Tuyến Hà Nội - Thái Bình với cự ly 112 km, lợng khách ở trên tuyến
này rất đông.
- Tuyến Hà Nội - Nam Định với cự ly 112 km, tuyến này chủ yếu phục
vụ cho khách đi và đến các bến lẻ dọc hai bên sông.
- Tuyến Hà Nội - Việt Trì có cự ly 76 km tuyến này rất ít khách so với
hai tuyến trên.
Nhng do chuyển đổi cơ cấu quản lý từ bao cấp sang kinh tế thị trờng,
các hoạt động dịch vụ vận tải đờng bộ phát triển trên quy mô lớn. Hệ
thống cơ sở hạ tầng giao thông đờng bộ trong thời gian qua đợc nâng
cấp sửa chữa, xây dựng rất mạnh. Các loại hình xe ô tô chở khách đa
dạng, phong phú, mở ra nhiều tuyến đờng tạo cho khách đi lại thuận
tiện, tiết kiệm đợc thời gian. Trong khi đó giao thông đờng thủy lại
cha đợc chú trọng đầu t phát triển, tàu bè chất lợng kém, thời gian đi
lại lâu. Do đó nhiều ngời dân không còn chọn tàu thủy làm phơng
tiện đi lại nữa. Đứng trớc tình hình đó ban giám đốc xí nghiệp cùng
cán bộ công nhân viên quyết định chuyển sang phơng thức kinh
doanh mới - kinh doanh du lịch. Trong quá trình vận chuyển khách,
hàng hóa chạy trên sông hồng, cán bộ công nhân viên của xí nghiệp
đã nhận thấy đợc tiềm năng du lịch văn hóa của đoạn sông Hồng
chảy qua Hà Nội. Xí nghiệp đầu t và phát triển du lịch sông Hồng đã

Ban giám đốc
Phó
giám
đốc 2
P.kế
hoạch
tổng
hợp
P.kế
toán
tổng
hợp
Trạm
điều
động
QN
Phó
giám
đốc 1
P.tổ
chức
H.chính
XN
bốc
xếp dỡ
và sửa
chữa
XN vật
t tổng
hợp

với các đơn vị bạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo dõi và
lập kế hoạch sửa chữa phơng tiện, đồng thời lên các kế hoạch khác
trong công tác hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Trạm điều động Quảng Ninh (2 ngời): Trạm theo dõi điều động các
tàu hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa. Thanh toán công nợ
với khách hàng, giải quyết thu chi cho các đội tàu
- Các xí nghiệp là khối các đơn vị cơ sở: Tổ chức sản xuất kinh doanh
theo kế hoạch đợc giao và các phơng án sản xuất kinh doanh đợc
duyệt, tự trang trải về tài chính (thu bù chi).
Các xí nghiệp quản lý và sử dụng có hiệu quả, đúng pháp luật
những tài sản, vốn, lao động của công ty giao quyền sử dụng thực
hiện nghĩa vụ đối với công ty, chấp hành pháp luật quy định của nhà
nớc, công ty, địa phơng nơi công ty đóng trụ sở.
Thực hiện phân phối tiền lơng, thu nhập của ngời lao động trong
đơn vị theo quy chế của công ty và đảm bảo hợp lý, hợp tình, dân chủ
và công khai.
1.2 Sự ra đời của xí nghiệp đầu t và phát triển du lịch sông Hồng .
Xí nghiệp đầu t và phát triển du lịch sông Hồng đợc thành lập từ
quyết định số 1054/QĐ GTCC cấp ngày 03/06/1999 với chức năng
chủ yếu vận chuyển khách và dịch vụ du lịch trên sông Hồng.
Xí nghiệp đầu t và phát triển du lịch sông Hồng mới đầu chỉ là
một phòng hạch toán phụ thuộc, chỉ hoạt động thử với tính chất làm
thử để thăm dò thị trờng. Năm 1999 tách khỏi công ty thành một bộ
phận độc lập gọi là xí nghiệp và đợc cấp giấy phép kinh doanh số
311829 ngày 26/6/1999.
Căn cứ vào cơ sở pháp lý trên, xí nghiệp đầu t và phát triển du lịch
đợc phép kinh doanh với t cách là một doanh nghiệp có tính độc lập
tơng đối, hoạt động độc lập, hạch toán và phụ thuộc (báo sổ). Xí
nghiệp trực thuộc công ty, có con dấu riêng và đợc mở tài khoản
chuyên chi tại ngân hàng theo quy định hiện hành của nhà nớc.

Phó GĐ điều hành
(A.Thành)
Phó GĐ kỹ thuật
(A.Chung)
Phó GĐ nhân sự
(A.Tác)
Phòng kinh doanh
Phà
Đội tàu
Tổ chức hành chính
Hớng dẫn-Dịch vụ
Thị trờng
V - Tài nguyên du lịch sông hồng:
A. Tài nguyên du lịch tự nhiên:
1.1 Đặc điểm địa lý:
Sông Hồng là hệ thống sông lớn nhất miền bắc nớc ta và đứng
thứ hai trên toàn bán đảo Đông Dơng sau sông Mê Kông. Đây cũng
có thể coi là một trong các sông lớn trên thế giới với các đặc trng
hình thái và thủy văn của nó. Sông Hồng có dòng chảy theo hớng
Tây Bắc - Đông Nam khá điển hình, bắt nguồn từ Vân Nam (Trung
Quốc) vào Việt Nam từ Hồ Khẩu (Lào Cai) qua thủ đô Hà Nội rồi đổ
vào vịnh Bắc Bộ ở cửa Ba Lạt (Nam Định). Tuy chảy trong một đứt
gãy lớn, song sông Hồng đã hình thành từ lâu nên độ dốc không lớn
lắm, từ đoạn Lào Cai trở xuống có độ dốc là 0,13%, do đó hệ số uốn
khúc là 1,4 mặc dù đã bị hạn chế bởi hệ thống đê điều vững chắc.
Đoạn sông Hồng chảy qua Hà Nội dài 93 km. Sông rộng bình quân
500 - 700 m. Độ sâu bình quân mùa kiệt từ 3,5 - 5 m, độ sâu bình
quân vào mùa lũ từ 7 - 9 m.
Chế độ nớc sông Hồng chia làm hai mùa rõ rệt một mùa lũ (mùa
ma) và một mùa cạn kế tiếp nhau. Thời gian lũ từ tháng 6 đến tháng

thời tiết dịu mát hơn, thuận lợi cho hoạt động du lịch. Vào những
tháng đầu mùa đông thời tiết đẹp, rất ít ma và đây cũng là thời kỳ
diễn ra các lễ hội truyền thống trên các vùng khác nhau ở nớc ta nên
khá thuận lợi cho hoạt động du lịch.
Các hiện tợng của thời tiết gây bất lợi gây trở ngại rất lớn cho
hoạt động du lịch đó là những ngày gió mùa đông bắc thời tiết gía
rét, có ma phùn. Hay có những ngày có gió Tây Nam khô nóng oi
bức khó chịu hay xảy ra vào tháng 5,6 (khoảng từ 10 đến 14 ngày)
hay là thời tiết giông bão do ảnh hởng của các cơn bão đổ từ biển
đông. Vào các tháng 6,7,8 là thời kỳ lũ lớn, nh vậy sẽ rất bất tiện cho
hoạt động du lịch trên sông Hồng vào những tháng này. Đây là những
tour du lịch văn hóa nhng phụ thuộc tự nhiên do đó du lịch sông
Hồng cũng mang tính mùa vụ. Để khắc phục xí nghiệp cần mở ra
những tuyến du lịch đờng bộ tơng ứng để thỏa mãn đáp ứng nhu cầu
của du khách.
1.3 Tài nguyên n ớc:
Lợng nớc cung cấp cho sông Hồng bao gồm tất cả các loại: nớc
ma, nớc ngầm, nớc biển tràn vào, đôi khi có cả nớc do băng tuyết ở
trên các đầu nguồn tan ra. Ngời ta gọi là sông Hồng vì nó có dòng n-
ớc đậm đặc phù sa màu đỏ nh gạch.
Lũ lụt là một trong những hiện tợng gây nhiều tác hại nghiêm
trọng đến đời sống kinh tế của c dân ven sông, ảnh hởng nhiều đến
hoạt động du lịch.
ở ven sông Hồng có hệ thống đê điều khá kiên cố đợc xây dựng
từ lâu đời để ngăn dòng nớc sông Hồng vào mùa lũ, góp phần tạo nên
cảnh quan hấp dẫn du khách trên tuyến du lịch sông Hồng.
1.4 Tài nguyên đất:
Đất phù sa sông Hồng rất màu mỡ, màu nâu tơi, thành phần cơ
giới trung bình, cấu tợng tốt, phản ứng từ trung bình đến kiềm yếu,
thích hợp với nhiều loại cây trồng nhiệt đới.

đi, chúng bám dọc bờ sông để kiếm mồi. Những bãi bồi có vờn hoa
cải nở rộ một màu trắng tinh khiết lung linh trong nắng. Với thảm cỏ
xanh ven đê cùng bãi mía nơng ngô... tạo nên một bức tranh phong
cảnh hài hòa sinh động. Tất cả những tiềm năng về tài nguyên tự
nhiên đó là điều kiện, là tiền đề để phát triển tour du lịch văn hóa -
sinh thái ở đây.
B. Tài nguyên du lịch nhân văn:
1. làng gốm bát tràng:
Làng gốm Bát Tràng có từ 500 năm nay (thế kỷ 15), thuộc huyện
Gia Lâm ngoại thành Hà Nội. Làng Gốm Bát Tràng cách Hà Nội 10
km về phía đông bắc, nằm trên bờ đê sông Hồng, phía bắc giáp xã
Đông D, phía nam giáp xã Kim Lan và xã Xuân Quan.
Sản phẩm gốm Bát Tràng đã đi khắp các vùng miền đất nớc và
đợc các thơng nhân á Âu xa coi là món hàng có lợi lớn. Gốm Bát
Tràng đợc trng bày ở nhiều bảo tàng trong nớc và trên thế giới. Sản
phẩm gốm đẹp, hài hòa độc đáo về hình dáng màu men nét vẽ. Trong
những năm từ 1597 đến 1863, nhiều nghệ nhân gốm Nhật Bản đã học
theo gốm Bát Tràng. Vào năm 1958 khi đào kênh Bắc Hng Hải, ngời
ta tìm thấy dấu tích của bể nớc, sân gạch, lò gốm chìm sâu dới lòng
đất 12 - 13 m. Bát Tràng nổi tiếng về sản phẩm gạch và gốm. Gốm
bằng đất sét trắng đặc biệt chỉ có ở Bát Tràng, ngời ta dùng tay xoay
thủ công tạo hình cho các sản phẩm, sau đó phơi sấy khô rồi vẽ hoa,
tráng mịn và nung trong các lò nhỏ, nhiệt độ lò nung ảnh hởng đến
màu sắc sản phẩm. Sản phẩm Bát Tràng là các chén, đĩa, bát... chất
liệu men có độ óng mợt, sâu mịn và đều đợc trang trí và vẽ họa tiết
độc đáo.
Có một số sản phẩm Bát Tràng đợc trng bày trong bảo tàng
Lịch Sử Việt Nam nh: cây đèn đợc chế tạo năm 1578 thuộc dòng
gốm men lam, l hơng chế tạo năm 1671 thuộc dòng gốm men rạn.
Bát Tràng vào đời Trần đợc gọi là xã Bát Khối ( Bát Tràng và Thổ

quan âm, đức ông và nhà tổ, nhà mẫu. Chùa đợc xếp hạng di tích lịch
sử kiến trúc vào ngày 28 - 4 - 1962.
Chùa Dâu gắn liền với huyền tích Man Nơng: theo Cổ Châu
Vân Phật thơng thân sự tích Man Nơng truyện, vào thời Sỹ Vơng ở
làng Mãn Xá có cô gái là Man Nơng, nhà nghèo vì mộ phật nên đến
tu ở chùa Linh Quang hay còn gọi là Phúc Nguyên rồi nàng có thai
sinh ra một ngời con gái (hay một cái bọc). Man Nơng bèn đem bỏ
gốc cây đa rừng, ít lâu sau bão nổi lên, cây đổ trôi về thành Liên Lâu
(làng Cổ Châu?), Sỹ Vơng cho ngời kéo lên nhng không đợc. Man N-
ơng nhận ra cây mình bỏ con lấy dây buộc kéo lên, lúc xẻ cây ra thấy
có bốn danh hiệu Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, bèn cho
tạc bốn tợng pháp để thờ.
Lễ hội chùa Dâu tổ chức vào ngày mùng 8 tháng 4, là ngày
Man Nơng sinh hạ. Hội mở trong ba ngày mùng 7 đến mùng 9, có 11
kiệu rớc đi khắp 12 làng xã với nhiều trò vui thi cớp nớc, múa trống,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status