ĐỀ TÀI : NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU COMPOSIT ĐI TỪ SỢI TỰ NHIÊN - Pdf 13

Trờng ĐH Bách khoa Hà Nội
Báo cáo tổng kết đề tài:

Nghiên cứu và phát triển vật liệu
composit đi từ sợi tự nhiên Cnđt: Bùi Chơng

7966

Hà nội 2009


ần), độ bền cơ học cao, chịu mài mòn,
không dẫn điện, chịu hóa chất và bền khí hậu.
Ở Việt Nam, hiện nay tiêu thụ khoảng 5.000 tấn/năm với nhiều sản
phẩm đã đi vào đời sống, với các mặt hàng gia dụng như bàn, ghế, bồn tắm, đồ
chơi và các sản phẩm công nghiệp như thuyền bè, canô, bồn chứa hoá chất
đem lại nhiều lợi ích và hi
ệu quả trong kinh tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của vật liệu polyme compozit gia cường bằng sợi
tổng hợp đã đặt ra những thách thức to lớn đối với nhân loại do sự gia tăng
lượng chất thải khó phân hủy vào môi trường. Chính vì vậy trong hai thập kỷ
gần đây, việc sử dụng sợi tự nhiên để thay thế một phần hoặc toàn bộ cho sợi
tổng h
ợp đã và đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Việc mở
rộng nghiên cứu ứng dụng loại sợi tre nói riêng và sợi tự nhiên nói chung vào
lĩnh vực vật liệu PC với các loại nhựa nền khác nhau là một hướng ứng dụng
mới không những đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần đáng kể việc
bảo vệ môi trường.
Trong số những sợi tự nhiên được sử d
ụng gia cường trong vật liệu
compozit, tre nứa là vật liệu có tỷ trọng thấp và độ bền cơ lý cao, lại sẵn có, rẻ
tiền, nguồn nguyên liệu dồi dào có khả năng tái tạo và phân hủy sinh học.
Hiện nay, vật liệu PC sợi tre/nền PEKN có nhiều ưu điểm như dễ gia công, giá
thành rẻ, tính chất cơ lý khá tốt đã được chú trọng nghiên cứu và đạt được
những thành công nhất
định.
Tuy nhiên sợi tre cũng như các loại sợi tự nhiên khác đều có nhược
điểm chung là độ bám dính với nhựa nền kém. Tính chất cơ học của vật liệu
còn thấp cần phải khắc phục mới có thể cạnh tranh được với PC sợi tổng hợp.

2

Áp dụng composite thật ra đã có từ thời kỳ mông muội của nhân loại.
Người cổ Ai Cập biết dùng rơm rạ trộn với bùn làm gạch xây nhà. Các loại
cung nỏ được làm bằng gỗ với những lớp sừng, gân động vật dán lên để làm
tăng sức bật. Ngày nay, composite hiện diện từ những kiến trúc xây dựng to

3
lớn như cầu đường, nhà cao tầng, những phương tiện di chuyển như phi cơ,
tàu thủy, ô tô đến những vật gia dụng bình thường.
Về mặt cấu tạo, vật liệu composite bao gồm một hay nhiều pha gián đoạn
phân bố đều trên một pha nền liên tục. Nếu vật liệu có nhiều pha gián đoạn ta
gọi là composite hỗn tạp. Pha gián đoạn thường có tính chất trội hơn pha liên
tục. Pha liên tục gọi là nền. Pha gián đoạn gọi là cốt hay vật liệu tăng c
ường.
Những ưu điểm của vật liệu composite khi so sánh với những vật liệu
truyền thống khác gồm:
- Độ bền và độ cứng cao so với khối lượng.
- Khối lượng riêng thấp.
- Bền ăn mòn.
- Có thể thiết kế tính dẻo.
- Giá thành sản xuất giảm.
- .v v
1.2. Thành phần của vật liệu compozit
Những thành phần c
ủa vật liệu composite bao gồm: vật liệu nền, cốt gia
cường, chất độn và phụ gia
Vật liệu nền (matrix)
vật liệu nền (kết dính) là pha liên tục, đảm bảo cho
sự liên kết và làm việc hài hòa giữa các thành phần của composite với nhau,
đảm bảo tính liền khối của vật liệu, tạo ra các kết cấu composite, phân bố lại
chịu tải khi một phần cốt đã bị đứt gãy để đảm bảo tính liên tục của kết cấu.

quan tâm của các nhà khoa học. Một trong những giải pháp đó là sử dụng sợi
có nguồn gốc tự
nhiên như sợi đay, sợi tre, xơ dừa, xidan và dứa,… làm vật
liệu gia cường.
Ưu điểm của sợi tự nhiên :

- Có nguồn nguyên liệu dồi dào, có thể tái tạo với chi phí thấp.
- Tỷ trọng thấp, dẫn đến độ bền và độ cứng riêng cao hơn sợi thủy tinh.
- Chịu uốn dẻo cao, thích hợp cho các sản phẩm chịu uốn.
- Sợi có khả năng biến đổi hóa học bề mặt cao.
- Dễ gia công hoặc tái chế, không mài mòn thiết bị, vốn đầu tư
thấp.
- Không độc hại, không gây kích thích da.
- Phế thải sau sử dụng có thể phân hủy sinh học hoặc phân hủy hoàn
toàn bằng nhiệt.
Nhược điểm:

- Tính chất cơ học thấp hơn so với sợi tổng hợp, tuy nhiên có thể nâng
cao độ bền vật liệu compozit nhờ lai tạo với sợi tổng hợp.

5
- Có độ hút ẩm cao (với hàm lượng hơi ẩm từ 3-13%) dẫn đến làm giảm
độ bền của sản phẩm. Có thể khắc phục bằng cách axetyl hóa bề mặt sợi
hoặc sơn phủ bề mặt sản phẩm.
- Sợi có độ phân cực khá lớn nên tương hợp kém với đa số nền nhựa
không ưa nước dẫn đến tính chất cơ lý, hóa củ
a sản phẩm không cao.
- Nhiệt độ gia công sản phẩm thấp (< 200
o
C) do tính chịu nhiệt kém.

Sợi gỗ
Các
loại
sợi tự
nhiên
Sợi phi gỗ
Sợi từ quả (xơ dừa,…)
Sợi từ hạt (bông, )
Sợi từ thân cây (tre nứa, rơm, cọ,…)
Hình 1.1. Phân loại sợi tự nhiên.

6
20% hơi ẩm. Lớp vỏ của sợi chịu sự nhiệt phân khi tăng nhiệt gia công và góp
phần tạo nên dạng than. Những lớp than này giúp bảo vệ cho lignoxenlulo
khỏi bị phân hủy nhiệt thêm nữa. Thành phần hóa học của một số loại sợi tự
nhiên được thể hiện ở Bảng 1.1.
Bảng 1.1. Thành phần hóa học của một số loại sợi tự nhiên.
Thành phần theo % khối lượng
Loại sợi
Xelulo Hemixelulo Lignin Pectin Sáp Nước
Đay 61,0 20,4 13,0 0,2 0,5 12,6
Lanh 71,0 18,6 2,2 2,3 1,7 10,0
Gai 74,4 17,9 3,7 0,9 0,8 10,8
Gai dầu 68,6 13,1 0,6 1,9 0,3 8,0
Xidan 78,0 10,0 8,0 - 2,0 11,0
Xơ dừa 48,0 0,3 45,0 4,0 - 8,0
1.3.3. Cấu trúc của sợi
Bản thân sợi tự nhiên cũng là vật liệu compozit. Sợi cấu thành từ các vi
sợi xenlulo dạng tinh thể gia cường cho nền vô định hình của lignin và
hemixenlulo. Xenlulo cung cấp độ bền trong khi lignin và hemixenlulo cung

Độ bền kéo
(MPa)
Môđun
E (GPa)
Độ dãn dài
khi đứt (%)
Hấp thu
hơi ẩm (%)
Thủy tinh E 2,6 2000 76 2,6 -
Tre nứa 1,4 450-800 18,5-30 1,3 13
Lanh 1,4 800-1500 60-80 1,2-1,6 7
Gai dầu 1,48 550-900 70 1,6 8
Đay 1,3 393-773 26,5 1,5-1,8 12
Xơ dừa 1,25 220 6 15-25 10
Bông 1,51 400 12 3-10 8-25
Xidan 1,33 600-700 38 2-3 11
Dâm bụt Đông
ấn Độ
1,5 350-600 40 2,5-3,5 -
Sợi tự nhiên có thể được gia công xử lý theo nhiều cách khác nhau, từ đó
tạo ra những tính chất cơ lý khác nhau. Lấy ví dụ môđun đàn hồi của sợi tự
nhiên dạng khối như gỗ là khoảng 10GPa. Còn sợi xenlulo tách ra từ gỗ bằng
quá trình nghiền hóa học có môđun tới 40GPa. Những sợi này có thể được
chia nhỏ tiếp thành các sợi nhỏ có môđun đàn hồi tới 70GPa bằng việc thủy
phân rồi tách bằng cơ học. Theo tính toán lý thuyết môđun đàn hồi của chuỗi
xenlulo có thể tới 250GPa, tuy nhiên chưa có công nghệ nào có thể tách thành
những dạng sợi nhỏ như vậy. Đây chính là vấn đề cần được quan tâm trong
tương lai.
Bản chất hút nước của mọi sợi xenlulo là vấn đề chính khi sử dụng gia


lý kiềm (Akali treatment - Mercerization)
Như đã nói ở phần trước (1.3.2.) trong sợi tự nhiên ngoài xenlulô là thành
phần chính còn có những thành phần khác như lignin và hemixelulô, cũng
đóng một vai trò quan trọng trong tính chất đặc trưng của sợi. Tuy nhiên
chúng lại làm giảm khả năng kết dính giữa sợi và nhựa nền.

9
Hiệu quả của việc xử lý kiềm bao gồm: là tăng độ nhám bề mặt sợi giúp
tăng độ bám dính cơ học theo kiểu interlocking, đồng thời, xử lý kiềm loại bỏ
các lignin, sáp bám quanh sợi xenlulo giúp lộ ra các nhóm chức hoạt động của
mạch xenlulo trên vi sợi.
Hiệu quả của nó phụ thuộc vào loại, nồng độ dung dịch, thời gian, và
nhiệt độ xử lý. Một số nghiên cứu cho thấ
y khi nồng độ kiềm cao sẽ làm giảm
khả năng chịu nhiệt của sợi, kèm theo việc tẩm sợi bằng chất làm trương có
tính kiềm mạnh là phản ứng với các chất hóa học khác, các nhóm hydroxyl
trong phân tử xenlulose có thể được thay thế. Sự thay thế nhóm chức hydroxyl
cho sợi có mức độ kết tinh giảm.
Xen-OH + NaOH → Xen-ONa + H
2
O
Việc xử lý kiềm sợi tự nhiên nhằm làm tăng tính bền cho sợi gia cường
đã được nghiên cứu khảo sát khá nhiều. Goda và các đồng nghiệp đã phát triển
một cách xử lý hóa học mới với việc sử dụng tải trọng đối với sợi gai. Sợi gai
đã được xử lý kiềm với dung dịch NaOH 15% cùng với tải sử dụng là 0,098N
trong hai giờ. Sợi gai đơn sau đó được đ
em thử tính chất kéo. Kết quả cho thấy
sợi có xử lý kiềm có biến dạng khi đứt từ 6-8%, cao gấp 2-3 lần sợi chưa xử
lý. Tuy nhiên, độ bền kéo của sợi cho thấy không giảm nhiều. Như vậy độ
biến dạng tăng nhiều song độ bền không giảm cho thấy độ dai của sợi tăng

SO
4
OCCH
3
O
Xen H
2
O

- Không có xúc tác axit
Xen OH
CH
3
COCCH
3
OO
Xen O C CH
3
O
CH
3
COOH

Do axit axetic không phản ứng triệt để với xenlulo nên anhydrit axetic
được sử dụng để thay thế. Tuy nhiên, anhydrit axetic không phải là tác nhân
làm trương xenlulo tốt nên để xúc tiến phản ứng, đầu tiên ngâm vật liệu
xenlulo trong axit axetic rồi sau đó xử lý với anhydrit axetic ở nhiệt độ cao
hơn, trong khoảng 1 đến 3 giờ. Đối với sợi không được kiềm hóa phản ứng sẽ
xảy ra nhanh hơn. Axetyl hóa nhóm hydroxyl sẽ làm trương tường tế bào sợi,
giảm

- Xử lý với các polymer gốc izocynate
- Xử lý bằng triazin
- Xử lý bằng hợp chất cơ silan
 Đồng trùng hợp ghép
Đây là một phương pháp có hiệu quả để biến tính hóa học sợi tự nhiên.
Trong phương pháp này, phản ứng được khởi đầu bởi các gốc tự do của phân
tử xenlulo. Xenlulo được xử lý bằng dung dịch nước có các ion được lựa chọn
và đặt vào nguồn bứ
c xạ năng lượng cao. Phân tử xenlulo bị gãy và tạo thành
các gốc. Tiếp đến, các vị trí gốc tự do của xenlulo được xử lý với dung dịch
thích hợp (tương hợp với nền polyme), thí dụ: vinyl monome, acrylonitril,
metyl metacrylat, polystyren. Kết quả là tạo thành copolyme có các tính chất
đặc trưng cho cả sợi xenlulo và copolyme ghép.
Một thí dụ là xử lý sợi xenlulo bằng copolyme polypropylen-maleic
anhydrit (MAH-PP) đun nóng sẽ tạo thành liên kết đồng hóa trị xuyên qua
vùng phân chia pha. Cơ chế của phản ứng chia thành hai giai
đoạn:
Giai đoạn 1: Hoạt hóa copolyme bằng cách đun nóng ở nhiệt độ 170
o
C trước
khi xử lý sợi:

12
HO C
O
CH
2
CHCHO
O
C

C
O
CH
2
CHC
O
C
O
O
PPM¹ch
Sîi xenlul«
HH
O
OC
O
CH
2
CHC
O
CO

Sau xử lý ta thu được sợi có năng lượng bề mặt tăng lên với mức bằng
năng lượng bề mặt của nền polyme. Độ thấm ướt tốt hơn và độ bám dính giữa
các pha tốt hơn. Mạch PP có khả năng kết tinh theo đoạn và hình thành kết
tinh nội giữa sợi đã biến tính và nền PP. Kết quả tương tự đã được nhiều khảo
sát vớ
i sợi tre cho kết quả tốt.
Một ví dụ khác về việc xử lý sợi tre bằng acrylonitryl, tạo ra liên kết giữa
sợi xenlulô với acrylonitryl bằng phản ứng:
Xen-OH + CH

nền. Ở đây, PMPPIC (polymetylen-polyphenyl-isocyant) thường được sử
dụng ở dạng tinh khiết hoặc dung dịch với vai trò như một chất hóa dẻo, tạ
o
liên kết hóa học tới nền xelulo bằng liên kết đồng hóa trị. Với PS thì PMPPIC
có cùng vòng benzen nên bám dính tốt với nhau nhờ mở rộng vùng của
electron π.
 Xử lý bằng triazin.
Dẫn xuất của triazin tạo thành liên kết đồng hóa trị với sợi xenlulo theo
sơ đồ sau: Độ hút ẩm được giảm xuống vì những lý do sau:
- Giảm số nhóm hydroxyl dễ hút ẩm trong xenlulo.
- Giảm độ ưa nướ
c của bề mặt sợi.
- Hạn chế sự trương nở của sợi bằng cách tạo mạng lưới liên kết đồng
hóa trị giữa nền polyme và sợi.
 Xử lý bằng hợp chất cơ silan.
Hợp chất cơ silan có công thức tổng quát sau: R – ( CH
2
)
n
– Si(OR

)
3


3
H
2
O
3
R'OH
2
3
H
2
O
2
RSi(OH)
3
Si(OH)
3
HO Si
R
OH
OSi
R
OH
OSi
R
OH
OH

HO Si
R
OH

R
O
OSi
R
O
OSi
R
O
OH
H
H
O
H
2
O

Alkoxylsilan trải qua quá trình thủy phân, ngưng tụ và tạo liên kết theo
cơ chế xúc tác axit hay bazơ. Phản ứng của nhóm silanol với nhóm hydroxyl
trên bề mặt xenlulo tạo nên cấu trúc polysilan. Gốc R trong silan sẽ liên kết
với nhựa nền trong compozit theo liên kết hóa học. Khi đó sẽ làm tăng tính
chất của vật liệu polyme compozit.
Bên cạnh những phương pháp hóa học, các phương pháp vật lý như kéo
giãn, cán láng, xử lý nhiệt và tạo sợi lai tạo không làm thay đổi thành phần hóa
h
ọc của sợi nhưng có thể thay đổi cấu trúc và tính chất bề mặt của sợi và do đó
tác động tới kết dính cơ học với polyme.
Phóng điện (corona, plasma lạnh) cũng là một phương pháp khác của xử
lý vật lý. Corona là một trong những công nghệ làm hoạt hóa quá trình oxi hóa
bề mặt được quan tâm nhất. Quá trình này sẽ làm thay đổi năng lượng bề mặt
sợi xelulo và trong trường hợp hoạt hóa với bề m

S. Mishra và các đồng sự đã thử nghiệm compozit lai tạo từ sợi lá dứa
(PALF)/thủy tinh và sợi sisal/thủy tinh trên nền nhựa polyeste không no. Kết
quả lai tạo sợi thủy tinh tối ưu là 8,6% và 5,7% (phần khối lượng) tương ứng
với PALF/thủy tinh-polyeste và sisal/th
ủy tinh-polyeste (Bảng 1.3).
Bảng 1.3. Tính chất cơ lý và độ thấm ẩm của mẫu thử compozit.
Mẫu compozit
Độ bền
kéo (MPa)
Độ bền
uốn (MPa)
Độ bền va
đập (J/m)
Hấp thụ
nước sau 24h
(%)
PALF (25%)-polyeste 42,5 68 68,12 12,5
PALF/thủy tinh-polyeste
(1)
70 98,7 127,38 7,6

16
Sisal (30%)-polyeste 68 99,67 110,25 10,6
Sisal/thủy tinh-polyeste
(2)
98,5 138 130,8 7,2
(1) PALF=16,4%, thủy tinh=8,6%; (2) Xidan=24,3%, thủy tinh=5,7% phần khối lượng.
Những số liệu khả quan này cho thấy hiệu quả của việc lai tạo khi tính
chất cơ lý vật liệu được tăng cường và độ thấm ẩm giảm đi nhiều. Điều này
dẫn tới khả năng có thể mở rộng những ứng dụng của những sản phẩm


1.4.1.3. Chất dẻo độn bột gỗ
Nhựa nhiệt dẻo (chủ yếu là HDPE, LDPE, PE clo hóa, PP, PS, PVC,…)
gia cường với một số loại chất độn gỗ đang được phát triển nhanh chóng nhờ
có nhiều ưu điểm như khối lượng nhẹ, độ bền và độ cứng chấp nhận được.
Việc gia công đơn giản, giá thành rẻ và ít ảnh hưởng tới môi trường. Từ lâu g

đã được sử dụng làm vật liệu trong xây dựng và kỹ thuật. Các dạng của gỗ như
vỏ bào, sợi hay bột gỗ đã được sử dụng như tác nhân gia cường. Vì vậy những
vật liệu gỗ phế thải có thể được tận dụng thành những sản phẩm hữu ích, đặc
biệt là trong lĩnh vực nội thất. Những vấn đề chính của v
ật liệu này là: chất
lượng của nguyên liệu không ổn định; khả năng tương hợp bị hạn chế vì chất
độn gỗ có thể hút nước còn nhựa nền thì ngược lại; tính ổn định nhiệt hạn chế
trong quá trình gia công và hình dạng của sản phẩm bị cong vênh do sự nở của
gỗ.
Một vấn đề được đặt ra đó là nếu gỗ phế thải và nh
ựa nhiệt dẻo phế thải
được sử dụng thì những tính chất đặc trưng của những nguyên liệu này phụ
thuộc nhiều vào cách xử lý, nguồn gốc và tuổi của chúng. Nhìn về mặt tích
cực thì việc sử dụng gỗ phế thải và nhựa nhiệt dẻo phế thải có ý nghĩa to lớn
khi giải quyết được vấn đề tái chế và môi trường.
1.4.2. Phương pháp gia công compozit sợi tự
nhiên
Pha nền đóng vai trò quyết định trong tính năng của vật liệu compozit
polyme. Nhựa nhiệt rắn và nhựa nhiệt dẻo đều được sử dụng nhiều làm nhựa
nền cho vật liệu compozit.
Trong compozit nền nhựa nhiệt rắn, khi đóng rắn nhựa tạo nên những
liên kết ngang, cấu trúc mạng lưới ba chiều. Nhờ đó vật liệu bền dung môi, dai
và bền dão. Công nghệ chế tạo compozit nhựa nhi

đây là nhu cầu rất lớn. Có thể lấy ví dụ như bộ phận cửa, ghế ngồi sau, phần
đầu, ngăn chứa đồ, bảng đồng hồ, thùng để hành lý đằng sau,…Sự phát triển
của compozit sợi tự nhiên trong các bộ phận của ô tô tă
ng trưởng hàng năm tới
54%. Hiện nay, người ta đang nghiên cứu chế tạo một loại xe gọi là Ecocar –
xe của tương lai, từ các tấm compozit sợi tự nhiên với nền nhựa có thể phân
hủy sinh học, chạy bằng nhiên liệu sinh học.
Ngoài ra còn một số sản phẩm khác như: tấm panel (dạng sandwich) lợp
mái, cửa, vách ngăn, thân thuyền, nội thất trong nhà, v.v
Hình 1.2, 1.3, 1.4 cho thấy một số sản phẩm được ch
ế tạo từ vật liệu
polyme compozit gia cường sợi tự nhiên khác nhau [16,17,20,21,24].

19
Hình 1.3. Canô làm từ compozit gia cường sợi lanh
Hình 1.2. Hai tấm mẫu sợi tự nhiên dạng sandwich ứng
dụng trong xây dựng (Trái: lõi foam; phải: lõi tre).


MeKong. Theo số liệu công bố vào năm 2000 của Viện Điều tra quy hoạch
rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và của tác giả Hà Chu Chử
vào năm 2002, diện tích rừng tre ở Việt Nam là 789.222 ha và rừng tre hỗn
hợp gỗ là 702.871 ha (Bảng 2.1 và 2.2). Với diện tích tre hiện có ở Việt Nam
có thể thích hợp với quy mô sản xuất sợi tre trung bình.
Có thể thấy trên bảng 2.1, Tây Nguyên là khu vực có nhiều tiềm năng với
diện tích tre là 321.200 ha, tuy nhiên m
ật độ tre ở đây lại không cao bằng
Miền Bắc và Miền Trung Việt Nam (4,08 triệu cây so với 7,44 triệu cây/1000
ha).Tại Hòa Bình, mặc dù diện tích tre không lớn, nhưng mật độ tre lại cao
nhất (9,9 triệu cây/1000 ha) và chất lượng tre cho sợi khá tốt; tre tại đây có

2
thân lớn, thẳng nên dễ khai thác, chuyên chở và chế biến. Chính vì vậy, tre
Hòa Bình được sử dụng làm đối tượng nghiên cứu tại Trường Đại học Bách
khoa Hà Nội.
Tre nứa thuộc họ hòa thảo gồm các loại cây như tre, luồng, giang, sặt,
mai, le, dòng, dẹ, trúc Cây luồng tập trung ở khu vực miền Bắc và Bắc
Trung bộ, nổi bật là luồng Thanh Hóa, tập trung ở các huyện Ngọc Lạc, Lang
Chánh, Quang Hóa, Bá Thước, có khoảng 10.000 ha.
Bên cạ
nh rừng tre tự nhiên, hàng triệu cây tre do người dân trồng rải rác
trong làng quê cũng là nguồn đóng góp đáng kể.
Bảng 2.1. Phân bố tre và mật độ cây điển hình ở Việt Nam, 2000
N
o
Vùng
Diện tích tre
nứa (1000
ha)

Vùng Tổng diện tích Diện tích rừng
Diện tích rừng
thuần tre
Diện tích rừng
hỗn giao tre-gỗ
Toàn quốc 32.894.398 10.915.594 789.221 702.871
Đông Bắc 6.746.293 2.368.982 176.449 132.445
Tây Bắc 3.572.365 963.441 57.218 49.989
Châu thổ sông
Hồng
1.266.254 83.638 80 0
Bắc Trung Bộ 5.130.454 2.135.649 172.999 99.110
Bờ biển miền
Trung
3.301.624 1.139.291 27.519 2.517
Cao nguyên
miền Trung
4.464.472 2.373.116 210.343 138.633
Đông Nam Bộ 4.447.622 1.581.000 144.613 279.877
Châu thổ sông
Mêkông
3.965.314 270.477 0 0
2.2. Nguồn nguyên liệu cho sợi dừa
Tại nhiều nước trên thế giới, dừa đã được gọi là “cây của cuộc sống” do tính
hữu dụng của hầu hết các bộ phận trên cây dừa để làm ra các sản phẩm có giá trị
phục vụ cho người dân nông thôn và thành thị.Tầm quan trọng của cây dừa là cung
cấp thực phẩm, nước uống và nguyên liệu xây dựng nhà cho người nông dân và bên
cạnh đó phải kể đến cơm dừa, dầu d
ừa và những sản phẩm có giá trị khác để trao đổi
và mua bán cũng như xuất khẩu. Dừa được dùng hàng ngày trong các bữa ăn của

13 Quảng Ngãi 6.620 6.625 6.598 6.420 6.380
14 Bình Định 13.205 13.240 13.256 13.033 13.033
15 Phú Yên 5.570 3.267 3.267 3.067 2.783
16 Khánh Hoà 3.432 3.379 3.381 3.514 3.120
17 Thanh Hoá 2.033 2.039 2.039 2.066 2.076

Theo số liệu tống kê năm 2000, diện tích trồng dừa ở Việt Nam là
161.345 ha, thấp hơn so với năm 1996 (181.108 ha), trong đó riêng vùng châu
thổ sông Mê Kông chiếm trên 70% (125.544 ha). Đặc biệt là diện tích trồng
dừa ở tỉnh Bến Tre đạt cao nhất Việt Nam, 37.758 ha năm 2002 và 36.827
năm 2005. Do đó, để thuận tiện cho nghiên cứu, việc sản xuất sợi dừa có thể
được triển khai ở Miền Nam, vùng châu thổ sông MêKông.
Quả dừa là s
ản phẩm chủ yếu của cây dừa và được sử dụng trong nhiều
lĩnh vực như thực phẩm, nhiên liệu sinh học, nguyên vật liệu. Sản lượng dừa
của một số địa phương trong nước được trình bày trong Bảng 2.4.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status