MôC LôC
LỜI NÓI ĐẦU
Thực tiễn đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam trong thời gian qua cho
thấy, trong điều kiện nền kinh tế thị trường luôn có sự cạnh tranh gay gắt thì công
tác quản lý nguồn nhân lực trong mỗi tổ chức đã có một ý nghĩa vô cùng quan trọng
nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó.
Trước đây sự cạnh tranh giữa các tổ chức sản xuất kinh doanh, thậm chí giữa
các quốc gia ban đầu đó chỉ là sự cạnh tranh về quy mô vốn, sau đó chuyển sang
yếu tố công nghệ. Ngày nay với xu thế toàn cầu hóa thì sự cạnh tranh gay gắt nhất,
mang tính chiến lược nhất giữa các tổ chức là sự cạnh tranh về con người. Cho nên
nguồn nhân lực đã trở thành thứ tài sản quý giá nhất, là chiếc chìa khóa dẫn tới sự
thành công của mỗi tổ chức của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Một
trong những yếu tố quan trọng, then chốt của nền kinh tế là trình độ quản lý của các
bộ quản lý và trình độ tay nghề của công nhân sản xuất. Đây là yếu tố quyết định
của mỗi doanh nghiệp bởi đất nước chúng ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, với nhưng máy móc thiết bị hiện đại thì con người sẽ thích
ứng đến đâu? Khi mà nền kinh tế luôn luôn biến động cùng với sự thay đổi của
khoa học kỹ thuật thì vấn đề nguồn nhân lực sẽ như thế nào? Nó đòi hỏi ở các nhà
quản lý rất nhiều,làm thế nào để mang lại hiệu quả cao nhất? Con người vừa là mục
tiêu vừa là động lực cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng một vai trò rất
lớn quyết định tới sự thành công hay thât bại của daonh nghiệp. Và quản lý suy cho
cùng là quản lý con người. Do nhận thấy tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối
với nền kinh tế nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng nên em đã chọn đề tài
nghiên cứu của mình là “Quản lý nguồn nhân lực trong công ty cổ phần sữa
vinamilk Việt Nam.”
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm :
Phần I: Những vấn đề cơ bản về quản lý nguồn nhân lực trong công ty
Phần II: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại Công Ty Cổ Phần Sữa
Vinamilk Việt Nam .
Phần III: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực
tại Công Ty Cổ Phần Sữa Vinamilk Việt Nam.
phù hợp, vào đúng công việc và đúng thời điểm thích hợp để thực hiện mục tiêu của
doanh nghiệp. Mọi nhà quản lý đều là người phụ trách quản lý nguồn nhân lực.
Quản lý nguồn nhân lực trang bị cho các nhà quản lý những phương pháp để
đối xử một cách nhất quán với nhân viên.Khi đó các nhân viên được đối xử một
cách công bằng và hiểu được giá trị của họ đối với công ty.
Một môi trường làm viêc tốt sẽ giảm bớt tình trạng bỏ việc và giảm bớt
những phí tổn do bỏ việc gây ra.
2.Vai trò của quản lý nguồn nhân lực:
Yếu tố giúp ta nhận biết được một xí nghiệp hoạt động tốt hay không, thành
công hay không chính là lực lượng nhân sự của nó- những con người cụ thể với
trình độ chuyên môn kỹ thuật và khả năng sáng tạo của mình. Mọi thứ còn lại
như : Máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được,
học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể. Vì vậy có thể khẳng
định rằng, quản lý nhân lực có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp quản lý nguồn nhân lực thuộc chức năng chính của nhà
quản trị. Các nhà quản trị có vai trò đề ra các đường lối, chủ trương, chính sách có
tính chất định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp, do đó nhà quản trị phải là
người biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Người thực hiện các
đường lối chính sách mà các nhà quản trị đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả
công việc tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên. Vì vậy có
thể nói rằng: “ mọi quá trình quản lý suy cho cùng cũng là quản lý con người”.
Quản lý nguồn nhân lực góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội
của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của cả xã hội, mọi hoạt động kinh tế
nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động
hưởng thành quả do họ làm ra.
Quản lý nguồn nhân lực có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của
một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu, chìm bên trong doanh nghiệp nhưng lại
quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản lý nguồn nhân lực gắn liền với mọi tổ chức. Bất kì một cơ quan tổ chức
Quản lý nguồn nhân lưc là một phần của khái niệm lập kế hoạch và quản lý
tổng thể của các công ty tham gia dự án QLNT: QLNNL: là một hoạt động quan
trọng của kế hoạch phét triển công ty của các công ty tham gia dự án QLNT. Bất kỳ
một thay đổi nào trong công tác QLNNL phải được phản ánh đầy đủ trong kế hoạch
phát triển trung hạn của công ty.
Trọng tâm của QLNNL đòi hỏi phải làm tốt công tác dự báo và lập kế hoạch:
Đủ người và đúng người
Đúng chỗ
Đúng lúc và chi phí hợp lý
Nhăm thực hiện công tác đem lại lợi ích cho cả công ty và cá nhân người lao động .
Quản lý nguồn nhân lực phải đảm bảo các công ty QLNT và toàn bộ các bộ
phận trong công ty ( các quy trình, các phòng ban, cán bộ nhân viên v v….) cùng
phối hợp trong công việc dể đật được những kết quả đã xác định trong kế hoạch
phát triển công ty. Để có được điều này, ban lãnh đạo các công ty tham gia dự án
QLNT cần liên tục thực hiện các hoạt động định kỳ sau:
Xác định và sắp xếp ưu tiên cho các kết quả mong muốn đạt được của
công ty.
Theo dõi và đánh giá tiến độ đạt được để thực hiện đánh giá
Trao đổi ý kiến phản hồi giữa các cán bộ chủ chốt liên quan
Đưa ra các biện pháp thúc đẩy tiến độ thực hiện công việc khi cần thiết
(hay nói cách khác là “các hoạt động chấn chỉnh”)
4. Nội dung của quản lý nguồn nhân lực:
4.1. Lập chiến lược nguồn nhân lực :
4.1.1. Khái niệm về chiến lược nguồn nhân lực:
Chiến lược nguồn nhân lực là một kế hoạch tổng thể được tổ chức lựa chọn
và theo đuổi để đảm bảo thu hút và sử dụng con người có hiệu quả nhằm hoàn thành
sứ mệnh của tổ chức.
Lập chiến lược nguồn nhân lực là một quá trình thiết lập hoặc lựa chọn chiến
lược nguồn nhân lực và các chương trình hoặc các nguồn lực để thực hiện chiến
lược đã đề ra.
này thì mới có thể giúp cho các nhà quản lý nguồn nhân lực có được đội ngũ lao
động tốt nhất, có hiệu quả nhất, trong đó công tác định biên trong quản lý nguồn
nhân lực bao gồm các công việc sau: Công tác tuyển mộ lao động, lựa chọn lao
động, làm hòa nhập lao động, lưu chuyển lao động trong tổ chức.
4.2.1. Công tác tuyển mộ nguồn nhân lực:
Tuyển mộ nhân lực là một tiến trình nhằm thu hút những người có khả năng
từ nhiều nguồn khác nhau đến nộp đơn xin việc và tìm việc làm tại tổ chức của
mình. Để có hiệu quả, quá trình tuyển mộ lao động nên theo sát các chiến lược và
các kế hoạch nguồn nhân lực chỉ ra số lượng nhân lực còn thiếu để đáp ứng kế
hoạch mở rộng của tổ chức. Nguồn thông tin này đóng vai trò quan trọng trong việc
xác định mức tuyển mộ của tổ chức đó. Để tiết kiệm thời gian và chi phí, các nỗ lực
tuyển mộ chỉ nên tập trung vào những người nộp đơn xin việc có những điều kiện
cơ bản tối thiểu. Các điều kiện cơ bản tối thiểu. Các điều kiện cơ bản tối thiểu này
phải được xác định nhờ kỹ thuật phân tích xác định yêu cầu và đặc điểm của công
việc cần tuyển mộ. Thông tin tuyển mộ nên được thông báo một cách rộng rãi nhằm
thu hút được những người có khả năng do một số người có năng lực thực sự nhưng
họ không biết về thông tin tuyển mộ hoặc không có điều kiện để nộp đơn.
Các nhân tố ảnh hưởng tới việc tuyển mộ nguồn nhân lực:
* Yếu tố bên trong:
- Uy tín của công ty
- Quảng cáo và các mối quan hệ xã hội
- Các chính sách nhân sự, bầu không khí văn hóa của công ty
- Chi phí tuyển mộ
* Yếu tố bên ngoài:
- Các điều kiện về thị trường lao động
- Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp khác
- Các xu hướng kinh tế
- Thái độ của xã hội đối với một số ngành nghề nhất định.
4.2.2. Công tác hòa nhập người lao động:
Làm hòa nhập người lao động là một quá trình được thiết kế để giúp đỡ
lương cao hơn và cấp bậc của họ trong công ty. Đồng thời góp phần giảm bớt sự
xáo trộn lao động do thuê nhân lực mới từ ngoài tổ chức.
- Vấn đề lưu chuyển nội bộ: Lưu chuyển nội bộ là quá trình thuyên chuyển
lao động từ một bộ phận, một công việc sang một bộ phận hoặc một công việc khác.
Lưu chuyển nội bộ phải được các nhà quản lý phân tích kỹ trước khi đưa ra quyết
định nhằm thu được kết quả cao nhất mà cá nhân đó có thể cống hiến.
- Nghỉ hưu: Nghỉ hưu là hình thức mà người lao động rời khỏi tổ chức do đã
đến tuổi nghỉ theo quy định của pháp luật, nó cho phép người lao động có thể nghỉ
ngơi hoặc theo đuổi những sở thích của mình để vui chơi giải trí. Nghỉ hưu có nhiều
hình thức khác nhau trong đó gồm: Nghỉ hưu tự nguyện/nghỉ hưu không tự nguyện;
nghỉ hưu hoàn toàn/nghỉ hưu không hoàn toàn; nghỉ hưu đúng tuổi/nghỉ hưu sớm.
Nghỉ hưu có thể là một tác động tích cực cho phép tổ chức thuê nhân lực mới thay
thế những nhân lực cũ đã lão hóa kỹ năng.
- Nghỉ việc: Nghỉ việc là hình thức người lao động thôi việc tại nơi mà mình
đang công tác. Nghỉ việc có thể do vấn đề cơ bản như giảm số lượng người lao
động do cắt giảm quy mô sản xuất kinh doanh, sa thải lao động hay xin thôi việc.
4.3. Công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực:
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một hoạt động nhằm duy trì, nâng
cao năng lực cho người lao động trong việc đóng góp vào hoạt động của tổ chức.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện giúp cho doanh nghiệp có được
đội ngũ lao động có chất lượng, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm
… Giúp cho tổ chức có điều kiện cạnh tranh trên thị trường trong môi trường cạnh
tranh đang diễn ra hết sức gay gắt và phức tạp. Chỉ có những tổ chức có đội ngũ lao
động tốt tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao với giá thành hạ thì mới có thể
cạnh tranh và phát triển trên thị trường hiện nay. Do đó vấn đề đào tạo và phát triển
nguồn nhân lực liên quan đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Chính vì vậy, các
tổ chức cần phải có mục tiêu, chiến lược và kế hoạch đề đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực cho mình một cách cụ thể và hợp lý.
“Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức tiến
hành trong những khoảng thời gian nhất định, nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi ngành
Đó là quá trình tiến hành đào tạo cho người lao động trong tổ chức làm cho người
lao động nắm vững hơn về công việc mình đang làm từ đó góp phần thúc đẩy hoạt
động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng suất lao động.
• Phát triển là một khái niệm khác hẳn với đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân
lực, khái niệm này có phạm vi rộng lớn hơn nhiều và thực hiện trong thời gian dài
hơn. Phát triển nguồn nhân lực là quá trình học tập vượt ra khỏi phạm vi trước mắt
của công việc hiện tại mà họ đang công tác nhằm tạo cho họ những ngành nghề,
công việc mới dựa trên những cơ sở và định hướng tương lai của tổ chức.
Mục tiêu của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tuy khác nhau nhưng đều
có chung mục đích chính đó là nhằm sử dụng tối đa nguồn lực lao động hiện có của
tổ chức và nâng cao năng suất lao động, tính hiệu quả trong hoạt động của người lao
động. Thông qua đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp cho người lao động hiểu
rõ hơn về công việc của mình đồng thời vững vàng hơn, thành thạo hơn với nghề
nghiệp của mình. Đó chính là căn cứ để thực hiện chức năng của mình một cách tốt
nhất và tự giác nhất, thích ứng với công việc của mình.
4.4. Công tác về tiền lương cho người lao động:
Trả công cho người lao động là đề cập đề cập đến tất cả những phần thưởng
mà một cá nhân nhận được để đổi lấy sức lao động của mình. Trong đó người lao
động đã làm việc được nhận tiền công đó có thể dưới dạng tài chính và phi tài
chính. Trả công dưới dạng tài chính và phi tài chính. Trả công dưới dạng tài chính
gồm có hình thức để trả công cho người lao động đó là trả công trực tiếp và trả công
gián tiếp. Trả công trực tiếp là những khoản mà cá nhân nhận được dưới dạng tiền
lương, tiền công, tiền hoa hồng hay là tiền thưởng. Còn trả công gián tiếp bao gồm
các khoản tiền được trả dưới dạng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, các khoản nợ cấp
xã hội, về hưu, an ninh xã hội, đền bù… Trả công phi tài chính bao gồm hình thức
làm cho người lao động thỏa mãn từ công việc hoặc từ môi trường tâm lý và môi
trường vật chất do họ làm việc. Tiền công cho người lao động được trả căn cứ vào
các yếu tố như: Văn hóa tổ chức, thị trường lao động, các yếu tố phụ thuộc vào
công việc, các yếu tố phụ thuộc về người lao động.
Các hình thức trả công cho người lao động: Có rất nhiều hình thức trả công
1. Khái quát chung về công ty cổ phần sữa vinamilk
1.1. Giới thiệu về công ty Cổ Phần Sữa ViNaMilk
Tiền thân là công ty sữa, café Miền Nam thuộc tổng công ty thực phẩm, với
6 đơn vị trực thuộc là:
+ Nhà máy sữa thống nhất
+ Nhà máy sữa trường thọ
+ Nhà máy café biên hòa
+ Nhà máy Bột Bích Chi và Lubico
Một năm sau đó (1978) công ty được chuyển cho Bộ công nghiệp thực phẩm
quản lý và công ty đổi tên thành Xí nghiệp liên hợp sữa café và bánh kẹo I và đến
năm 1992 được đổi tên thành công ty sữa Việt Nam thuộc sự quản lý trực tiếp của
Bộ Công Nghiệp nhẹ.
Năm 1996, liên doanh với Công Ty Cổ Phần Đông Lạnh Quy Nhơn để thành
lập xí nghiệp Liên Doanh Sữa Bình Định. Liên doanh này tạo điều kiện cho công ty
thâm nhập thành công thị trường miền trung Việt Nam.
Tháng 11 năm 2003, đánh dấu mốc quan trọng là chính thức đổi thành Công
Ty Cổ Phần đổi tên thành “ Công Ty Cổ Phần Sữa Việt Nam”. Sau đó, công ty thực
hiện việc thâu tóm Công Ty Cổ Phần Sữa Việt Nam và công Ty Cổ Phần Sữa Sài
Gòn, tăng vốn điều lệ đăng ký của công ty lên con số 1.590 tỷ đồng.
Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam được thành lập trên cơ sở
quyết định số 155/2003QĐ-BCN ngày 01 tháng 10 năm 2003 của Bộ
Công nghiệp về việc chuyển Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Sữa
Việt Nam thành Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam. Giấy Chứng nhận
đăng ký kinh doanh Công ty số 4103001932 do Sở Kế hoạch và Đầu
tư TP Hồ Chí Minh cấp ngày 20/11/2003. Trước ngày 1 tháng 12
năm 2003, Công ty là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Bộ Công
nghiệp.
Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam
Tên viết tắt: VINAMILK
Trụ sở: 36 - 38 Ngô Đức Kế, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh
sữa đậu nành, nước giải khát và các sản phẩm từ sữa khác;
- Kinh doanh thực phẩm công nghệ, thiết bị phụ tùng, vật tư, hoá chất và
nguyên liệu.
- Kinh doanh nhà, môi giới cho thuê bất động sản; Kinh doanh kho bãi, bến
bãi; Kinh doanh vận tải hàng bằng ô tô; Bốc xếp hàng hoá;
- Sản xuất mua bán rượu, bia, đồ uống, thực phẩm chế biến, chè uống, café
rang– xay– phin – hòa tan;
- Sản xuất và mua bán bao bì, in trên bao bì;
- Sản xuất, mua bán sản phẩm nhựa.
- Phòng khám đa khoa
1.3. Cơ cấu bộ máy công ty
1.3.1. Mô hình tổ chức công ty
Bảng 2.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức và quản lý của Công Ty Cổ Phần Sữa Việt Nam
ViNa Milk
1.3.2. Nhiệm vụ của phòng nhân sự
Điều hành và quản lý các hoạt động hành chính và nhân sự của toàn bộ
công ty.
Thiết lập và đề ra các kế hoạch và chiến lược để phát triển nguồn nhân lực.
Tư vấn cho ban giám đốc điều hành các hoạt động hành chính nhân sự.
Làm việc chặt chẽ với bộ phận hành chính và nhân sự của các chi nhánh,
nhà máy nhằm hộ trợ họ về các vấn đề hành chính nhân sự một cách tốt nhất.
Xây dựng nội quy, chính sách về hành chính và nhân sự cho toàn bộ công ty.
Tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện các quy chế, chính sách về
hành chính, nhân sự phù hợp với thực tế của Công ty và với chế độ hiện hành của
nhà nước.
Tư vấn cho nhân viên trong Công Ty về các vấn đề liên quan đến quyền
lợi và nghĩa vụ của nhân viên trong Công Ty.
1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây:
Tổng lợi nhuận trước thuế theo báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất quý 1/2010
tăng 383,4 tỷ ( tương ứng với tỉ lệ tăng là 65,63%) so với quý 1/2009 là do ảnh
Vinamilk đã ký hợp đồng dài hạn với trường Đại Học Công Nghệ sinh học ứng dụng
Moscow thuộc Liên Bang Nga để gửi con em cán bộ, công nhân viên sang học ở các
ngành: công nghệ sữa và các sản phẩm từ sữa; tự động hóa quy trình công nghệ và
sản xuất; máy móc thiết bị sản xuất sản phẩm; quản lý trong ngành sữa.
Vinamilk có đội ngũ quản lý hùng mạnh, nhiệt tình và giàu kinh nghiệm đã
gắn bó với Công Ty từ khi Vinamilk còn là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Nhờ
sự dẫn dắt của đội ngũ quản lý này, Vinamilk đã được nhiều thành công như lọt vào
danh sách một trong 10 công ty đạt giải hàng Việt Nam chất lượng cao liên tục từ
năm 1995 đến 2007, đạt giải thưởng công nghệ sáng tạo của Tổ Chức Sở Hữu Trí
Tuệ Thế Giới năm 2000 và 2004 cũng như nhiều giải thưởng khác của chính phủ Việt
Nam. Chủ tịch Mai Kiều Liên có 30 năm kinh nghiệm trong ngành sữa và giữ vai trò
chủ chốt trong quá trình phát triển của công ty cho đến hôm nay. Các thành viên quản
lý cấp cao khác có trung bình 25 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất, phân phối
và bán sản phẩm sữa. Đối với các doanh nghiệp nước ngoài coi đầu tư về con người
là một trong những chiến lược hàng đầu mang lại thành công, phát triển cho doanh
nghiệp. Thấy được hiệu quả đó, ViNaMilk đã mạnh dạn chọn hướng phát triển này và
đã thực sự thành công do có nguồn nhân lực giỏi, năng động.
2.2. Thực trạng hoạt động định biên trong Công Ty Sữa Vinamilk
Mục tiêu của Vinamilk là hướng tới một tập đoàn đa ngành, một thương hiệu
toàn cầu với đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, nhiệt huyết, đầy năng lực, cùng chí
hướng phát triển sự nghiệp lâu dài, gắn với Vinamilk. Chính sách tuyển dụng Công
Ty luôn hướng đến việc đa dạng hóa nguồn ứng viên đối với cấp lãnh đạo, cấp quản
trị và nhân viên. Từ các ứng cử viên có khả năng thích hợp với kinh nghiệm, trình
độ chuyên môn cao, phù hợp với yêu cầu công việc đến các bạn sinh viên có thành
tích tốt. Công tác tuyển dụng này được xem xét trên quan điểm không phân biệt
chủng tộc, tôn giáo, giới tính và tuổi tác.
Mục tiêu của tuyển chọn nhân viên là tìm ra được người có đủ năng lực làm
việc, phẩm chất làm việc thông qua quá trình tuyển chọn công bằng, khách quan.
Các chương trình tuyển dụng của Vinamilk như chương trình tập sự viên
kinh doanh 2008. Chương trình tập sự viên kinh doanh 2008 là một trong các
cả nước và đưa đi du học ở nước ngoài.
Những cán bộ công nhân viên có yêu cầu học tập cũng được Công Ty hỗ
trợ 50% chi phí cho các khóa học nâng cao trình độ và nghiệp vụ.
Và ngoài ra còn có các chương trình đào tạo ngắn hạn nhằm nâng cao
trình độ và nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên trong công ty
Tổ chức những buổi học, giao lưu chia sẽ kinh nghiệm giữa các cán bộ
công nhân viên giúp cho mọi người học tập và tiếp thu được những sáng tạo mới
trong công việc.
2.4. Chính sách đãi ngộ đối với người lao động
Với chiến lược phát triển hiện nay, Vinamilk xác định yếu tố con người là
quan trọng nhất sẽ quyết định sự thành công hay thất bại cho công ty. Nên công ty
đã có các chính sách đối với đãi ngộ đối với người lao động như sau:
Đảm bảo công việc đầy đủ cho người lao động, thu nhập của người lao
động ngày càng cải thiện. Ngoài thu nhập từ lương, người lao động còn có thêm thu
nhập từ lợi nhuận được chia theo tỷ lệ sở hữu của họ trong Công Ty nếu Công Ty
làm ăn có lãi.
Thực hiện đầy đủ, quyền lợi và nghĩa vụ đối với người lao động theo
đúng với quy định của pháp luật.
Có chính sách khen thưởng kịp thời đối với cá nhân và tập thể có công
lao đóng góp cho Công Ty, có biện pháp kỷ luật đối với những cá nhân có hành
động ảnh hưởng xấu đến quyền lợi và uy tín cho Công Ty.
Hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để người lao động tham gia các
khóa đào tạo trong và ngoài nước nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ.
Đào tạo và sắp xếp nguồn nhân lực phù hợp với tình hình phát triển.
Công ty nhằm gia tăng về chất lượng.
2.5. Chính sách tiền lương của Công Ty Sữa ViNaMilk
Tiểu ban đãi ngộ xem xét và đề xuất với HĐQT chính sách tiền lương phù
hợp và cạnh tranh. Việc quyết định thù lao cho từng thành viên HĐQT và lương cho
ban điều hành phải được phê chuẩn thông qua một quy trình chính thức và minh
bạch. Không thành viên nào được tự quyết định mức lương của mình.
3. Đánh giá chung về công tác Quản lý nguồn nhân lực tại công ty
sửa Vinamilk:
3.1 Những ưu điểm:
- Trong công tác tuyển dụng công ty áp dụng phương pháp xét duyệt hồ sơ;
phỏng vấn và thử việc khá chặt chẽ vì vậy chất lượng lao động đầu vào khá tốt.
- Thực hiện tốt việc đánh giá sự thực hiện của mỗi cá nhân sau mỗi quý; mỗi
năm nhờ áp dụng phương pháp thang điểm lấy ý kiến từ toàn bộ các nguồn xung
quanh mỗi nhân viên.
- Công tác đào tạo và bồi dưỡng tay nghề cho công nhân viên được thực hiện
khá tốt.
- Công ty cũng tập trung thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo sự tin cậy,
ổn định và thoải mái cho tất cả các nhân viên, cho họ phát huy các khả năng của
mình; đảm bảo quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ về BHYT, BHXH cũng như các
quĩ khen thưởng kỉ luật phân minh rõ ràng xứng đáng.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các công nhân viên yên tâm làm ăn: gửi con
em cán bộ, công nhân viên sang học ở các ngành công nghệ sữa và các sản phẩm từ
sữa, tự động hóa quy trình công nghệ và sản xuất, máy móc thiết bị sản xuất thực
phẩm, quản lý trong ngành sữa.