1
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011
Mã số: B 11 - 05
ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HỆ THỐNG TỔ
CHỨC ĐẢNG TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
CHỐNG THỰC DÂN PHÁP
(1945- 1954) Cơ quan chủ trì: VIỆN LỊCH SỬ ĐẢNG
Chủ nhiệm đề tài: TS NGUYỄN BÌNH
Thư ký đề tài: TS DƯƠNG THỊ HUỆ 9108
HÀ NỘI - 2011
2
12
1.2. Quá trình xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng 32
Chương II: Xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng trong giai đoạn từ
Đại hội đại biểu lần thứ II đến kháng chiến thắng lợi (3/1951 đến
7/1954)
66
2.1. Chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng hệ
thống tổ chức Đảng từ Đại hội II đến cuối cuộc kháng chiến
66
2.2. Xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong giai đoạn đẩy mạnh cuộc
kháng chiến đến thắng lợi
86
Chương III: Thành tựu, hạn chế về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – Một số kinh nghiệm
101
3.1. Kết quả xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp
101
3.2. Một số kinh nghiệm 108
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 134
xây dựng Đảng. Bối cảnh khốc liệt của cuộc kháng chiến cùng với những phức
tạp, nhạy cảm của công tác xây dựng Đảng làm cho chúng ta nhiều khi không
đủ tư li
ệu để nghiên cứu và có được những kết luận thấu đáo.
5
Đảng Cộng sản Việt Nam mới chỉ có điều kiện tổng kết công tác xây dựng
Đảng trong giai đoạn 1975-1995 qua công trình Báo cáo tổng kết công tác xây
dựng Đảng 1975-1995 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Nxb CTQG,
H.1995. Trong khi đó, lịch sử công tác xây dựng Đảng trong kháng chiến
chống thực dân Pháp, nhân tố quyết định dẫn tới thắng lợi của cuộc kháng
chiến vẫn chưa được nghiên cứu đầ
y đủ. Hàng loạt vấn đề về chính tri, tư tưởng
và đặc biệt là tổ chức cần được làm rõ như hệ thống tổ chức từ Ban Chấp hành
Trung ương, Trung ương Cục miền Nam, Xứ ủy Bắc Kỳ, Xứ ủy Trung Kỳ, Xứ
ủy Nam Bộ, các Liên khu ủy, các khu ủy, đặc khu uỷ….nhằm xây dựng một
bức tranh toàn cảnh về lịch sử Đảng Cộng sả
n Việt Nam quang vinh và tôn
vinh những tập thể và cá nhân có đóng góp to lớn cho sự nghiệp kháng chiến,
kiến quốc.
1.2. Công tác xây dựng Đảng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng từng là
nguồn gốc, là nguyên nhân thắng lợi trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và
chiến tranh giữ nước, ngày nay, nó vẫn là nguồn gốc, là yếu tố quyết định thắng
lợi của công cuộc đổi mới xây dựng đất nước.
Lịch sử xây dựng Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để
lại một số kinh nghiệm quý báu. Việc tổng kết công tác xây dựng Đảng thời kỳ
này là một yêu cầu khách quan phục vụ sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn
cách mạng hiện nay. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta xác định
nhiệm vụ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ
Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2000; Ban nghiên cứu lịch sử quân đội trực thuộc
Tổng cục chính trị và Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử quân đội nhân
dân Việt Nam, tập I, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994; Viện Lịch sử
quân sự Việt Nam: 60 năm Quân đội nhân dân Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2005; Bộ Công an: 60 năm công an nhân dân Việt Nam (1945-
2005), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2005. Năm 2008, sau khi nghiệm thu
đề tài cấp Nhà nước Lịch sử Đả
ng Cộng sản Việt Nam, tập 1 (1930-1954), Học
viện chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng đã xuất
bản Bộ Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, gồm 3 tập, trong đó tập 3
với tiêu đề Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc (1945-1954), Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2009. Đây là công trình tái hiện lịch sử xây dựng và lãnh
7
đạo của Đảng trong giai đoạn này, tuy nhiên, nhiều sự kiện về lịch sử xây dựng
Đảng vẫn chưa được phản ánh đầy đủ và khắc họa sâu sắc.
2.2. Một số công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng và tổ chức của
Đảng như Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
1930-2000 của Ban Tư tưởng- Vă
n hoá Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 2000; Ban Tư tưởng –Văn hóa Trung ương: Lịch sử biên niên công tác
tư tưởng- văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1925-1954), Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005. Các cuốn sách trên chuyên nghiên cứu lịch sử công
tác tư tưởng của Đảng nhưng có trình bày một số vấn đề liên quan đến công tác
tổ chức của Đảng.
Cuốn Lịch sử công tác tổ chức củ
a Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000)
của Trung tâm nghiên cứu về tổ chức- Ban Tổ chức Trung ương, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2005, trình bày về chủ trương, đường lối của Đảng đối với
quân và dân Liên khu IV, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Đảng ủy-Bộ
Tư lệnh Quân Khu V: Công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ
trang quân khu V, 1945-2000, biên niên, tập 1 (1945-1954), Nxb. Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 2006….Bên cạnh việc trình bày lịch sử
kháng chiến là chủ
yếu, các cuốn sách trên cũng phần nào phản ánh công tác xây dựng đảng bộ ở
các địa phương.
2.3. Các bài nói, bài viết, hồi ký, biên bản tọa đàm về lịch sử Đảng của các
đồng chí đã từng là cán bộ các cơ quan lãnh đạo của Đảng các cấp từ Trung
ương đến cấp liên khu, khu, liên tỉnh…như Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Phạm
Văn Xô, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà, Võ Chí Công, Trương Chí C
ương và
các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về các lãnh tụ của Đảng. Có thể kể đến
các cuốn Trương Chí Cương - trọn đời tiến công, Nxb CTQG, H. 2005 ; Võ
Chí Công, Trên những chặng đường cách mạng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2001 ; Hồi ức Mai Chí Thọ, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh ; Miền
Nam-Thành đồng Tổ quốc đi trước về sau, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000…. Các tác phẩm nói trên là hồi ký của các đồng chí cán bộ
lão thành
cách mạng, nhân chứng lịch sử, từng tham gia lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Các tác phẩm: Trường Chinh -một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt
xuất của cách mạng Việt Nam, Hồi ký, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002;
9
Lê Duẩn - một nhà lãnh đạo lỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng
Việt Nam, Hồi ký, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, Nguyễn Văn Linh -
hành trình cùng lịch sử, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1999; Đồng chí
Nguyễn Văn Linh và cách mạng Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001; Nguyễn Chánh, con người và sự nghiệp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
10
và đoạn trích dẫn từ các bài viết khác trong toàn bộ di sản của Người về xây
dựng Đảng nói chung, về xây dựng tổ chức Đảng nói riêng.
Một số nhà khoa học đã nghiên cứu, biên soạn những công trình khoa
học trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng. Tiêu biểu là một
số tác phẩm như Trần Đình Huỳnh (Chủ biên), Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh
về xây dựng
Đảng, Nxb, Chính trị quốc gia.,Hà Nội, 1993; Trần Đình Huỳnh –
Mạch Quang Thắng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng của chúng ta, Nxb. Lao
động, Hà Nội, 1993; Nguyễn Quốc Bảo, Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng
Đảng, Nxb. Lao động, Hà Nội, 2001. đề cập đến quan điểm, chủ trương của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có xây dựng
Đảng trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Từ năm 1998, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản bộ Văn kiện
Đảng toàn tập, trong đó từ tập 7 đến tập 15, xuất bản năm 2001, phản ánh về
hoạt động của Đảng trong giai đoạn 1945-1954. Đây là nguồn tài liệu gốc phản
ánh về hoạt động lãnh đạo và xây dựng tổ chức c
ủa Trung ương Đảng và một
số đảng bộ địa phương, cung cấp nhiều tư liệu quý cho công tác nghiên cứu
lịch Đảng. Những năm gần đây, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng
thực hiện chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước và
trên cơ sở đó, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia đã xuất bản một số cuốn sách
nh
ư: Nguyễn Văn Linh tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006; Lê Duẩn
tiểu sử, Trường Chinh tiểu sử, Phạm Văn Đồng tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2007….Các tác phẩm trên phản ánh cuộc đời hoạt động và những
đóng góp của các đồng chí trong các cương vị chủ chốt của Đảng đối với sự
nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, trong đ
ó có quãng thời gian 9 năm
kháng chiến và kiến quốc (1945-1954).
c mềm dẻo và tài
thao lược của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa cách mạng Việt Nam vượt
qua những năm tháng khó khăn của tình thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Trong khi
đó, những luận văn, luận án nghiên cứu có liên quan đến công tác xây dựng hệ
thống tổ chức Đảng trong giai đoạn từ tháng 12-1946 đến tháng 7 năm 1954
chưa nhiều. Có thể kể đến luận án phó tiến sĩ của tác giả Ngô Đăng Tri (
Đại
học khoa học xã hội và nhân văn) và luận án phó tiến sĩ của tác giả Đào Trọng
Cảng (Viện Lịch sử Đảng thuộc Viện nghiên cứu Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư
12
tưởng Hồ Chí Minh). Trên cơ sở luận án của mình, tác giả Ngô Đăng Tri xuất
bản cuốn Vùng tự do Thanh -Nghệ-Tĩnh trong kháng chiến chống Pháp (1946-
1954), Nxb,Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách nói về công cuộc xây
dựng và bảo vệ, phân tích vai trò của vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh trong kháng
chiến chống Pháp, trong đó từ trang 50 đến trang 78, tác giả đề cập đến công
tác xây dựng Đảng, xây dựng các đoàn thể quần chúng trên địa bàn này.
T
ất cả những công trình nêu trên là nguồn tài liệu quan trọng, phong phú
để tác giả tham khảo và kế thừa trong việc thu thập, xử lý nguồn sử liệu và
phương pháp luận vào quá trình thực hiện đề tài.
Tuy vậy, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống
và toàn diện về công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong kháng chiến
chống thực dân Pháp (1945- 1954) và vận dụng kinh nghiệm trong sự nghiệp
đổi mới hiện nay.
3.
Mục tiêu của đề tài
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Chủ tịch Hồ
Chí Minh đối với công tác xây dựng hệ thống tổ chức Đảng.
- Tái hiện quá xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng để đáp ứng yêu cầu
đạo sáng tạo của Đảng trong quá trình xây dựng hệ thống tổ chức Đảng trong
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Đề tài chú trọng sử dung phương pháp đặc trưng của khoa học Lịch sử
Đảng là lấy các chỉ thị, nghị quyết của Đảng làm cơ sở để soi rọi, đánh giá về
công tác tổ chức, nhân sự của Đảng từ năm 1945 đến năm 1954.
7. Lực lượng nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu đề ra, chủ nhiệm đề tài đã tập hợp một số cán bộ
nghiên cứu của Viện Lịch sử Đảng là lực lượng nghiên cứu chính. Ngoài ra, đề
tài một số nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu thời kỳ 1945 - 1954 tham gia
viết chuyên đề và góp ý bản thảo.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
14
- Đề tài góp phần hệ thống hóa quan điểm, chủ trương của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy Đảng về xây
dựng hệ thống tổ chức của Đảng và tái hiện quá trình xây dựng hệ thống tổ
chức của Đảng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), góp
phần tổng kết công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ cách mạng dân t
ộc đồng
chí nhân dân.
- Kết quả nghiên cứu góp phần gợi mở một số kinh nghiệm trong công
tác xây dựng Đảng về mặt tổ chức, cung cấp thêm những luận cứ bổ sung lý
luận về xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay.
- Sản phẩm của đề tài góp phần vào việc nghiên cứu, tuyên truyền và
giảng dạy Lịch sử Đảng toàn diện và sâu sắc hơn.
9. Sản phẩm của đề
tài
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài, 156 trang.
- Bản kiến nghị của đề tài, 9 trang.
- Kỷ yếu khoa học của đề tài, 212 trang.
đầu chuyển mình trong cuộc sống mới độc lập, tự do. Nhân dân phấn khởi, tin
tưởng bước vào xây dựng chế độ mới. Bên cạnh những thuận lợi do thắng lợi
của Cách mạng Tháng Tám đem lại, nhân dân ta và Nhà nước Việt Nam Dân
chủ cộng hoà trẻ tuổi phải đương đầu với những khó khăn, thách thức.
Chế
độ mới tiếp quản một di sản kinh tế - xã hội hết sức nghèo nàn, lạc
hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Kinh tế kiệt quệ, tài chính trống rỗng, nguy
cơ một nạn đói mới đe doạ. Sự thất học của nhân dân đã trở thành một thứ
“giặc dốt”. Các tệ nạn xã hội, hủ tục do chế độ thực dân, phong kiến để lại là
gánh nặng cho nhà nước cách mạng non trẻ.
Trong lúc đó, tình hình chính trị của đất nước diễn ra hết sức phức tạp.
Các thế lực phản động quốc tế và trong nước đã tìm đủ mọi cách câu kết, bao
vây hòng thủ tiêu mọi thành quả của nhân dân Việt Nam. Sau Cách mạng
Tháng Tám, các lực lượng đồng minh kéo vào nước ta. Theo thoả thuận tại Hội
nghị Pôxđam (7/1945), từ cuối tháng 8/1945, các đơn vị đầu tiên của quân độ
i
Trung Hoa dân quốc bắt đầu kéo quân vào miền Bắc Việt Nam với danh nghĩa
Đồng minh vào làm nhiệm vụ tiếp nhận sự đầu hàng của phát xít Nhật. Quân
16
đội Trung Hoa dân quốc vào Việt Nam với âm mưu “diệt cộng, cầm Hồ”, lật đổ
Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu, giúp lực lượng Việt Nam Quốc
dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội lật đổ chính quyền cách mạng,
lập nên một chính phủ thân Quốc dân đảng Trung Hoa ở Việt Nam.
Ở phía Nam vĩ tuyến 16, với danh nghĩa đồng minh vào giải giáp vũ khí
phát xít Nhật, quân đội Anh kéo vào nước ta.
Đi theo quân Anh còn có một đại
đội thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5 (5e RIC) là tiền trạm cho đạo quân
viễn chinh Pháp. Được sự che chở, dung túng của quân Anh, thực dân Pháp đã
đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc tái chiếm Việt Nam. Cuộc kháng chiến
tưởng và tổ
chức, đủ khả năng lãnh đạo một cuộc chiến tranh cách mạng, giải phóng dân
tộc và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước vượt qua thử thách, đánh thắng cuộc chiến
tranh xâm lược của thực dân Pháp. Trách nhiệm mới đó đặt ra cho Đảng phải
nâng cao trình độ mọi mặt, xây dựng và kiện toàn hệ thống tổ chức, xây dựng
đội ngũ cán bộ, thay
đổi phương thức lãnh đạo, xây dựng Đảng ngang tầm đòi
hỏi của sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đáp ứng nhu cầu của lịch sử.
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành chính quyền, vượt
qua sự khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp, sức sống mãnh liệt của Đảng đã
được khẳng định. Tuy đã nhiều lần hệ thống tổ chức của Đả
ng bị phá vỡ, nhất
là trong thời kỳ 1930-1931, nhưng Đảng đã nhanh chóng khôi phục được tổ
chức và phát huy vai trò lãnh đạo cách mạng. Từ vài trăm đảng viên ban đầu,
Đảng ta đã phát triển lên khoảng 3.000 đảng viên (tính đến tháng Tám năm
1945)
1
. Đảng đã xây dựng được hệ thống tổ chức rộng rãi từ Trung ương đến
cơ sở. Nắm được thời cơ, dưới sự chỉ đạo thống nhất của Trung ương, các
Đảng bộ đã lãnh đạo thành công cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở
phần lớn các địa phương trong cả nước.
Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền.
Nh
ưng sau cách mạng tháng Tám, tình hình chính trị, xã hội hết sức phức tạp.
Chính quyền non trẻ, thù trong giặc ngoài, vận mệnh cách mạng ở thế “nghìn
cân treo sợi tóc”. Muốn đưa sự nghiệp cách mạng tiếp tục tiến lên, Đảng ta phải
không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo về chính trị, tư tưởng và tổ chức. 1
- Dự bị v
ật liệu cơ quan và các điều kiện cần thiết để khi rút….”
1
.
Để tránh mũi nhọn của các thế lực đế quốc và phản động tập trung tiêu
diệt Đảng ta, ngày 11-11- 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương tuyên bố tự giải tán. Về công khai, thành lập Hội nghiên cứu Chủ 1
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2000, tr 12- 13
19
nghĩa Mác ở Đông Dương, cơ quan tuyên truyền của Đảng Báo Sự Thật thay
thế báo Cờ Giải phóng.
Thực hiện “giải tán” Đảng Cộng sản Đông Dương là hành động mang
tích sách lược của Đảng, chủ yếu nhằm tránh mũi nhọn của các thế lực phản
động đang tập trung công kích mối liên hệ giữa Đảng Cộng sản với Nhà nước
Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa mới thành lập. Thực chất, Đảng rút vào bí mật để
tiếp tục lãnh đạo cách mạng. Tuy nhiên, nội bộ Đảng không phải ai cũng tán
thành chủ trương này
2
. Mặt khác, một số Đảng bộ địa phương do chưa quán
triệt sâu sắc chủ trương của Trung ương, đã thực hiện giải tán tổ chức Đảng địa
phương, gây ảnh hưởng không tốt đến sự lãnh đạo của Đảng.
Thực dân Pháp quay trở lại xâm lược, để lãnh đạo cuộc kháng chiến,
kiến quốc, tháng 10-1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định
thành lậ
p các đơn vị hành chính-quân sự. Trên cơ sở đó, các chiến khu được
hoạt động công khai,
điều hoà hai sự hoạt động ấy, coi công tác bí mật vẫn là gốc, phân công giữa
các đồng chí bí mật và công khai cho rành mạch, dứt khoát, không để cho các cơ
quan bí mật trở thành xung đột hay đối lập với các cơ quan công khai. Các cơ quan
chấp hành các cấp phải năng ra thông cáo bí mật để báo cáo tình hình và chủ
trương chung của Đảng và chỉ thị công tác cho các cấp dưới; ra những sách nhỏ nói
về công tác và chủ nghĩa”
1
.
Trung ương Đảng chủ trương và chỉ đạo thống nhất hai hệ thống tổ chức
Đảng Tiền Phong và Giải Phóng, giải quyết vấn đề “Việt Minh cũ”, “Việt
Minh mới” ở Nam Bộ nhằm tập trung lực lượng cho cuộc kháng chiến chống
Pháp đang lan rộng và ngày càng quyết liệt.
Trước sự câu kết của Pháp – Trung Hoa dân quốc, cách mạng nước ta
đứng trước nhiều kẻ thù, Ban Thường v
ụ Trung ương ra Chỉ thị Tình hình và
chủ trương (3/3/1946), chủ trương “hoà với Pháp” để “gạt” quân đội Trung
Hoa dân quốc về nước. Ngày 6-3-1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa
ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ, đặt cơ sở cho việc đàm
phán nhằm đi đến một hiệp ước chính thức. Ngày 9-3-1946, Ban Thường vụ
Trung ương ra Chỉ thị Hoà để
tiến, nêu rõ lý do cần hoà với Pháp. Chỉ thị Hoà
để tiến chỉ rõ về nhiệm vụ công tác xây dựng Đảng của Đảng Cộng sản Đông
Dương lúc này là:
“d) Phát triển và kiện toàn các tổ chức của Đảng. Đề phòng bọn khiêu
khích tay sai chui vào Đảng để phá hoại. 1
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 28-29.
nghị
quân sự toàn quốc của Đảng họp, ra Nghị quyết về vấn đề thống nhất cơ
quan chỉ huy của lực lượng vũ trang, trong đó nêu rõ vấn đề Quân uỷ và Quốc
phòng; các cấp bộ của lực lượng vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của
Đảng. Hội nghị đề ra các nhiệm vụ cụ thể nhằm tăng c
ường đoàn kết, kỷ luật và
tính đảng trong quân đội, đồng thời quyết định: 2
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr 54 - 55
3
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 , Sđd, tr 56
22
“1. Tổ chức đơn vị: mỗi đại đội hay một cơ quan từ tiểu đoàn bộ trở lên
sẽ tổ chức một chi bộ.
2. Hệ thống dọc và ngang: hệ thống dọc l hệ thống chính, còn ngang là
để giải quyết vấn đề địa phương…
3. Kỳ hạn phát triển: trong hai tháng, những đại đội nào chưa có chi bộ
phải tổ chức xong, những đại
đội nào có chi bộ rồi phải phát triển tới các trung
đội, mỗi trung đội một tổ.
4. Hình thức phát triển: bí mật tổ chức những nhóm xung phong trong bộ
đội”
4
.
Đến cuối năm 1946, toàn quân đã có gần 8.000 đảng viên chính thức và
dự bị. Hệ thống tổ chức Đảng được thành lập từ Quân uỷ Trung ương đến chi
bộ theo hướng tập trung, thống nhất. Hệ thống cơ quan công tác chính trị được
đề ra nhiệm vụ phát triển và củng cố đoàn thể (Đảng) với 14 nội dung. Trước
hết, tiếp tục phát triển Đảng theo khẩu hiệu “làm cho đoàn thể thành một đoàn
thể quần chúng”, nhưng tránh lối phát triển bừa bãi như ở Lạng Sơn, Nghệ An;
đặc biệt chú trọng phát triển Đảng trong bộ đội, dân quân, các trại và xí nghiệp
sản xuất, vùng địch chiếm đóng; b
ổ sung một số đồng chí vào Ban Chấp hành
Trung ương; chấn chỉnh các tiểu ban của Trung ương; chấn chỉnh các chi bộ;
sửa chữa khuyết điểm chủ quan, cô độc, hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa theo
thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tăng cường học tập trong Đảng; sửa đổi cách
làm việc cho phù hợp với thời chiến; tăng cường công tác kiểm tra của Đảng;
chú tr
ọng công tác đào tạo cán bộ, chấn chỉnh công tác Đảng đoàn; củng cố liên
lạc giữa Trung ương với Nam Bộ và Nam Trung Bộ; vấn đề Đảng phí; tăng
cường hệ thống giao thông liên lạc toàn quốc.
Ngày 28-7-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị Về việc tổ
chức “Lớp tháng Tám” nhằm đẩy mạnh đợt phát triển Đảng trong toàn quốc từ
ngày 19-8 đến ngày 2-9-1947. Trung ương Đảng kêu g
ọi các chi bộ Đảng, cán
bộ, đảng viên lựa chọn những quần chúng ưu tú để tổ chức vào lớp tháng Tám.
Tuy không bắt buộc, nhưng mỗi đảng viên cố gắng giới thiệu một quần chúng
ưu tú vào Đảng. Tiêu chuẩn kết nạp Đảng đợt này là những người hăng hái,
tích cực, trung thực, tán thành chủ nghĩa cộng sản. Trung ương Đảng cũng nhắc
các Đảng bộ địa phươ
ng rằng việc tăng nhanh số lượng đảng viên là cần thiết,
nhưng không vì thế mà phát triển Đảng một cách cẩu thả, chạy theo số lượng,
không coi trọng chất lượng đảng viên, làm cho thành phần của Đảng trở nên
phức tạp.
24
Ngày 31-8-1947, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Nghị quyết, ấn
25
4. Liên khu 4: Vùng Mường Thanh Hoá, đặc biệt là biên
giới Lào, thành phố Huế”
1
.
Đối với nhiệm vụ củng cố tổ chức, Trung ương Đảng coi trọng xây dựng
chi bộ, đề ra những nguyên tắc, kế hoạch củng cố chi bộ, nhất là chi bộ ở miền
núi, vùng dân tộc thiểu số. Nâng cao chất lượng đảng viên, quy định số lượng,
thành phần cấp ủy, chấn chỉnh Đảng đoàn các cấp, các Ban và tiểu ban của
Đảng
2
.
Từ tháng 6 năm 1948, hòa chung vào phong trào thi đua ái quốc đang
được phát động rộng rãi, Trung ương Đảng phát động phong trào thi đua phát
triển, củng cố Đảng. Ngày 1-6-1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ
thị Về việc thi đua xây dựng Hội, tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể như phát
triển Đảng rộng rãi, đều khắp các vùng, miền, trong các tôn giáo, trong đồng
bào dân tộc thiểu số, xây dựng chi bộ tự
động công tác, tổ chức huấn luyện
đảng viên, sửa đổi lối làm việc, đào tạo thêm cán bộ, tăng cường kỷ luật. Trung
ương Đảng cũng đề ra kế hoạch, tổ chức thực hiện phong trào thi đua. Riêng về
phát triển Đảng, trong vòng 5 tháng, mỗi huyện phải tăng gấp ba số lượng đảng
viên.
Đảng ta luôn chú ý tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội nhân dân.
Trong quá trình kháng chiến, hệ
thống tổ chức Đảng trong quân đội được thiết
lập từ Bộ Tổng chỉ huy đến các đại đội, trung đội, bảo đảm sự lãnh đạo trực
tiếp và tuyệt đối của Đảng.
Đến tháng 8 năm 1948, Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ năm của