Chất triết học trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - Pdf 13

Chất triết học trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
PHẦN MỞ ĐẦU
Nhắc tới Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhắc tới một “nhà tư tưởng tỏa bóng suốt thế kỉ XVI”. Đó
là một bậc hiền triết, bậc chính khách, nhà tiên tri, người thầy được vua chúa và nhân dân
xem trọng coi là bậc phu tử - Tuyết Giang phu tử (cùng với Chu Văn An và Nguyễn
Thiếp). Cuộc đời Nguyễn Bỉnh Khiêm trải gần trọn thế kỉ XVI, ông là người đã chứng kiến
bao đau thương, tang tóc từ cuộc chiến “nồi da xáo thịt” của dân tộc. Với nhân cách của
bậc cao sĩ cùng với “tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi” ông đã trở thành một bậc thánh
nhân lập đức. Với nhân sinh quan sáng suốt, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là nhà lập ngôn
được người đời ngưỡng mộ. Lập đức và lập ngôn là hai lĩnh vực đan xen, hòa quyện lẫn
nhau tạo nên thành công của Nguyễn Bỉnh Khiêm – một danh nhân văn hóa lớn của dân
tộc.
Nguyễn Bỉnh Khiêm còn là nhà thơ tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVI.
Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã ghi một mốc lớn trên con đường phát triển của lịch
sử văn học Việt Nam, là một trong những chiếc cầu nối giữa hai thời đại văn học – thời đại
Nguyễn Trãi trước đó và thời đại Nguyễn Du sau này. Thơ ông như “cây thông chót vót
cao trăm thước” tỏa bóng rợp cả một giai đoạn văn học. Thơ ông là tiếng nói của tầng lớp
trí thức bất mãn với hiện thực xã hội lúc bấy giờ và tư tưởng an nhàn thoát tục nhưng vẫn
đau đáu một tấm lòng lo cho dân cho nước. Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ nên bức tranh
hiện thực khá sâu sắc về đất nước, xã hội và con người Việt Nam trong một giai đoạn lịch
sử đầy biến động – thế kỉ XVI.
Chất triết học là đặc điểm nổi bật trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chất triết học trong thơ
Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự kết hợp từ chiều sâu chất trí tuệ và thi ca. Những triết lí trong
thơ của ông có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến lối suy nghĩ, cách nhận thức của dân tộc ta
trong một thời gian khá dài. Bởi tìm hiểu “chất triết học trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm”
cũng chính là tìm về một giai đoạn văn học để khẳng định những giá trị thơ văn Nguyễn
Bỉnh Khiêm – một đỉnh cao của thi ca văn học trung đại.
PHẦN NỘI DUNG
I. NGUYỄN BỈNH KHIÊM – MỘT BẬC CAO SĨ TRONG THỜI LOẠN
1.1 Thế kỷ XVI – Một thời đại lịch sử đầy biến động
Thế kỷ XVI là một giai đoạn lịch sử đầy biến động, đất nước sống trong cảnh loạn lạc kéo

Lương Đắc Bằng khác nào như rồng gặp được mây, Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm trở thành
một tài năng kiệt xuất nổi tiếng.
Lớn lên trong một giai đoạn lịch sử nhà Lê suy thoái, các phe phái trong triều đó kị, chém
giết lẫn nhau.Năm 1572, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập ra một triều đại mới.Thế là
suốt cuộc đời thanh niên trai trẻ, Nguyễn Bỉnh Khiêm phải sống trong ẩn dật, không thi thố
tài năng. Mãi đến năm ông 44 tuổi mới đi thi. Ba lần thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều
đỗ đầu và đỗ Trạng Nguyên. Triều đình nhà Mạc rất coi trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông hi
vọng triều đại nhà Mạc có thể xây dựng lại đất nước. Lúc này Mạc Đăng Dung đã nhường
ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh và rút về làm Thái thượng hoàng.Doanh là người có chí
khí đảm lược. Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà học giả uyên thâm, một trí thức dân tộc đã
nhìn thấy điều đó. Và ông hi vọng với nhân vật này, triều đại mới có thể đưa đất nước
thoát khỏi tình trạng rối ren mà vua tôi nhà Lê và các tập đoàn phong kiến trước đó gây ra.
Nhưng niềm tin ấy không được đền đáp, chỉ được một thời gian ngắn (8 năm) ông đành
phải từ quan về ở ẩn. Cũng như Nguyễn Trãi trước kia, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã lánh đục
về trong bảo toàn danh tiết và chí khí.
Treo ấn từ quan, ông sống một cách lạc quan và hòa hợp với thiên nhiên. Giống như
Nguyễn Trãi, ông cũng bầu bạn với gió trăng,rượu ‘’ Đêm đợi trăng cài bong trúc / Ngày
chờ gió thổi tin hoa’’ (Thơ Nôm, bài 17). Ông lấy mừng vì thoát khỏi vòng danh lợi : ‘’
2
Thoát chân giữa chốn chốn giàu sang / Tuổi già mong được tuổi già thong dong / Hương
lan gồm từ thơ nồng / Tiếng chim gọi khách ngoài song ngọt ngào’’ (Ngụ hứng, bài 6).
Phải chăng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã chọn cách sống phóng khoáng như Nguyễn Công Trứ
‘’ ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp’’ ? Nhưng không, lúc ông lạc quan nhất với thiên
nhiên cũng chính là lúc ông phiền muộn nhất về việc dân, về việc nước. Có thể nói,
Nguyễn Bỉnh Khiêm ẩn nhưng không lánh mặt với đời. Ông lui về sống ở quê một thời
gian khá dài mà vẫn mang ước vọng về một xã hội vua sáng tôi hiền như thời vua Nghiêu,
vua Thuấn xưa:
Đã ngoài mọi việc chăng còn ước,
Ước một tôi hiền, chúa thánh minh.
(Thơ Nôm, bài 26)

tìm hiểu và xác minh thêm.
Theo Phả kí, Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có bài phú bằng quốc âm. Bài phú này hiện nay vẫn
chưa được tìm thấy.
3
Nguyễn Bỉnh Khiêm có phong cách thơ rất riêng không lẫn với các nhà thơ cùng thời mặc
dù vẫn tuân theo nguyên tắc sáng tác thơ văn trung đại. Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm
mang đậm chất triết học nhưng vẫn gần gũi và dễ tiếp nhận.
II. CHẤT TRIẾT HỌC TRONG THƠ BẠCH VÂN CƯ SĨ
2.1 Chất triết học trong thơ văn dân tộc
Trong văn học Việt Nam từ thời xưa, ngay những sáng tác dân gian, nhân dân lao động đã
đúc kết những kinh nghiệm có được trong cuộc sống lao động sản xuất và đấu tranh của
mình ‘’Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm’’, lý giải được
những hiện tượng thiên văn ‘’Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa’’… Nội dung của
các tư tưởng, triết lý đó cũng đề cập đến nhiều lĩnh vực, như nhận thức luận: “Trăm hay
không bằng tay quen”; mỹ học: “Cái nết đánh chết cái đẹp; Tốt gỗ hơn tốt nước sơn;
Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân”; biện chứng pháp: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”,
“Không ai giàu ba họ không ai khó ba đời”; đạo đức học: “Thương người như thể thương
thân”, “Dẫu xây chín đợt phù đồ/ Sao bằng làm phúc cứu cho một người”; xã hội học:
“Một người làm quan cả họ được nhờ”. “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”;
logic học: “Thịt chó ăn được, thịt cầy thì không”, “Đậu phụ làng cắn đậu phụ chùa”; tâm
lý học: “Cầm vàng mà lội qua sông/ Vàng rơi chẳng tiếc, tiếc công cầm vàng”; khẳng
định vai trò quyết định của lao động (lời trăng trối của người cha bảo các con thửa ruộng
nhà có vàng), tầm quan trọng của công cụ sản xuất (truyện “thần sắt”)...
Đến văn học cổ trung đại, các tác giả thời kì này thể hiện quan điểm của mình về lẽ sinh –
tử, tương sinh - tương khắc: ‘’Xuân qua trăm hoa rụng / Xuân tới trăm hoa nở / Trước mắt
việc đi mãi / Trên đầu già đến rồi / Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết / Đêm qua xuân
trước một nhành mai’’.
Chất triết học cũng được thể hiện trong thơ Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh
Khiêm…trong đó đa số đượm màu sắc Lão – Trang, tư tưởng yếm thế của Phật giáo và
thoát tục của đạo tiên. Như vậy, chất triết học cũng đã thể hiện một cách sâu sắc trong văn

Gốc rễ triết lý Nguyễn Bỉnh Khiêm là sự hiểu biết thấu đáo về con người và xã hội. Với
Nguyễn Bỉnh Khiêm, triết học vừa là công cụ để tư duy, để nhận thức vừa là công cụ để
giải quyết những vấn đề do tư duy, do nhận thức đặt ra. Nguyễn Bỉnh Khiêm dùng thơ để
triết lý cuộc sống, dùng thơ để tuyên truyền đạo đức.Bản chất lí học của Nguyễn Bỉnh
Khiêm là dựa vào nhận thức về logic cuộc sống (các quy luật tự nhiên và xã hội) áp dụng
vào nhữung trường hợp cụ thể. Mục tiêu lí học của ông là tạo nên sự cân bằng, hài hòa và
trung dung cho các sự vật, hiện tượng. Nhìn lại toàn bộ tiến trình lịch sử và con người
trong thế kỷ XVI, Nguyễn Bỉnh Khiêm xứng đáng là ‘’cây đại thụ’’, ‘’bậc sĩ phu tài
danh’’ của thế kỷ.
2.2.2 Biểu hiện của chất triết học trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
2.2.2.1 Chất triết học thể hiện trong ‘’Nhàn’’ của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm quan niệm ‘’vì con người để đáp ứng được lẽ biến dịch của tạo hóa
thì con người phải sống theo lẽ tự nhiên, đó là vui với đạo trời, biết số mệnh và ung dung
tự tại’’, triết lý nhàn, tiên, vô sự được thể hiện sâu sắc trong thơ ông. Đó là cuộc sống hòa
đồng với người dân nơi thôn dã và thiên nhiên…Nhàn với Nguyễn Bỉnh Khiêm là khép
cửa ải lợi danh ồn ào, phiền não lại, cái nhàn ở đây đã đạt đến sự cao đẹp. Chữ nhàn cũng
đã xuất hiện trong thơ Chu Văn An, Nguyễn Trãi và một số nhà thơ khác. Đây là một xu
hướng sáng tác văn chương của các sĩ phu ở nhiều thời kỳ, thể hiện sự bất hợp tác với
chính quyền phong kiến và sự phủ nhận hiện thực thối nát của xã hội đương thời. Vì thế,
giá trị khách quan của nó là tích cực. Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, chữ nhàn trở thành
một ám ảnh nghệ thuật, bởi nó không chỉ bộc lộ những tâm trạng riêng của ông, gắn liền
với thời cuộc, mà còn thể hiện một quan niệm triết học của ông, một cách ứng xử của ông
trước cuộc đời:
Phiền hiêu bế khước lợi danh quan
Liêu ngụ nhàn trung dưỡng đắc nhàn
(Thơ chữ Hán: Trung tân quán ngụ hứng)
Khép cửa ải lợi danh, ồn ào phiền não lại
Hãy gửi gắm vào trong cảnh nhàn để nuôi dưỡng thân nhàn)
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status