Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
MỤC LỤC
Trang
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ra trong thời kỳ cực thịnh của triều Hậu Lê
nhưng lại trưởng thành ở thời kỳ rối ren nhất của lịch sử nước nhà. Những trang
lịch sử nữa thế kỷ XV-XVI đã ghi lại nhiều biến động về chính trị, nhiều bất công
trong xã hội và kéo theo đó là những suy đồi về đạo đức. Hầu như những nguyên
tắc đạo lý của Khổng giáo bị sa sút trầm trọng, thói đời đen bạc được phơi bày
làm cho những ai có tâm huyết với đời, có kỳ vọng trung hưng về một xã hội
phong kiến càng thêm ngao ngán chán chường.Toàn bộ bức tranh xã hội hiện
thực thời ấy đã tác động sâu sắc lên những trang đời và trang thơ của nhà thơ, ảnh
hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, đặc biệt là thái độ xuất xử của ông trước
thời cuộc. Ông nhập thế là để giúp nước cứu đời. Ông lui về ở ẩn là để giữ vững
khí tiết, thực hiện thú nhàn tản. Thế nhưng thái độ ẩn dật của tác giả không trầm
tư, mặc tưởng như những nhà Nho thời Lý - Trần mà chứa đựng một “nỗi đau
tình đời, vận nước” (Năm trăm năm Nguyễn Bỉnh Khiêm một nỗi đau tình đời,
vận nước, Nguyễn Phan Quang), thái độ nhàn của ông là thể hiện cái dũng khí “dỉ
bất biến ứng vạn biến” của những bậc chân Nho. Vì thế các nhà nghiên cứu cho
rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất hiện không chỉ là một cây đại thụ của nền thơ ca
mà còn là cây đời tỏa bóng đạo đức. Ông sống giữa cuộc đời đảo điên nhưng lại
là tấm gương sáng về nhân nghĩa. Tất cả những điều ấy đều xuất phát từ một quan
niệm nhân sinh với những triết lý vô cùng sắc sảo, thâm sâu vượt thời gian của
tác giả. Bình về những triết lý này là điều bao năm qua các nhà nghiên cứu, phê
bình đã làm và ngày nay là điều mà chúng tôi mong muốn đóng góp một chút gì
đó vào việc tìm hiểu thêm về nhà hiền triết.
1.2. Ngày nay, đất nước Việt Nam đang vận động trong thế kỷ XXI, tuy
không có những phong ba về mặt chính trị nhưng mấy ai dám khẳng định trong
cuộc sống hiện tại không có cảnh con người chạy theo vật chất mà quên đi nét
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
3
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
3.2. Phương pháp hệ thống
Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn tổng quan đối với
vấn đề đang nghiên cứu ở đây, quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh
khiêm được biểu hiện cụ thể qua cuộc đời, tư tưởng, cách sống và tình cảm trước
hiện thực khách quan.
3.3. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Trong quá trình khảo sát, sẽ đi tìm những yếu tố lặp đi lặp lại, xác định những
yếu tố nỗi bật làm nên quan niệm nhân sinh. Phân tích từng câu thơ, bài thơ nhằm
làm nỗi bật lên tư tưởng, tình cảm của tác giả.
4. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Bỉnh Khiêm được người đời xưng tụng là “cây đại thụ tỏa bóng gần
suốt cả thế kỷ XVI” . Cuộc đời và thơ văn của ông là đề tài khá hấp dẫn cho các
nhà nghiên cứu. Cho nên tính đến thời điểm ngày hôm nay, ngoài một số bài viết
lẻ tẻ trên Tạp chí Văn học, còn có nhiều công trình nghiên cứu về thời kỳ lịch sử
phức tạp và cuộc đời có nhiều mâu thuẫn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Nguyễn Bỉnh Khiêm về tác gia và tác phẩm (Trần Thị Thanh Băng - Vũ
Thanh tuyển chọn và giới thiệu) Gồm 67 bài viết tập trung nghiên cứu theo từng
phương diện : Nguyễn Bỉnh Khiêm giữa thế kỷ XVI đầy biến động ; Triết nhân
Nguyễn Bỉnh Khiêm - Tư tưởng và nhân cách ; Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ ;
Nguyễn Bỉnh Khiêm trong tâm thức thế nhân xưa và nay.
Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc (Viện khoa học
xã hội - Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm) đóng góp 28 bài viết có chiều sâu, với
nhiều tư liệu có giá trị về Nguyễn Bỉnh Khiêm : Thân thế và hoàn cảnh lịch sử ;
Tư tưởng và thơ văn ; Một số vấn đề khác có liên quan đến Trạng Trình.
Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập (Nguyễn Khuê). Đây là một
công trình nghiên cứu có giá trị mới mẻ. Công trình gồm bốn phần. Phần thứ
nhất, tác giả đã trình bày những nét đại cương về hoàn cảnh lịch sử, về cuộc đời,
định : “Lại nữa cụ có chủ trương là chủ trương vô sự, nghĩa là không để có sự gì
rắc rối, chớ đâu phải là chủ trương vô vi nghĩa là không làm gì hết, cứ việc phó
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
5
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
mặc cho con tạo xoay vần… Có thể nói sự lánh đời, nhưng còn khuyên đời, còn
mong ước đời và vẫn không quên ơn vua chúa, không phụ tình nước non”
CHƯƠNG I
NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA QUAN NIỆM NHÂN SINH
TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM
1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa
Ra đời vào thập niên cuối thế kỷ XV, Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn cả
thế kỷ XVI. Cuộc đời cũng như thơ văn của ông mang dấu ấn thời cuộc khá sâu
đậm, vì thế muốn hiểu rõ ông trước hết người ta không thể không biết qua tình
trạng xã hội Việt Nam nữa sau thế kỷ XV và thế kỷ XVI mà nó đã ảnh hưởng
mạnh mẽ đến tình cảm, tư tưởng và thái độ xuất xử của ông.
Sau hơn một thế kỷ trị vì, đem lại sự hưng thịnh cho đất nước Đại Việt, ở thế
kỷ XV, chuyển sang thế kỷ XVI, triều Lê nhanh chóng rơi vào tình trạng suy
thoái. Chế độ phong kiến Việt Nam trong sự tranh chấp quyền lực căng thẳng,
khốc liệt, giữa các tập đoàn phong kiến, vận hành phát triển với tất cả sự phức tạp
không thể tránh khỏi của thiết chế chính trị này. Trở lại thế kỷ XV, triều Lê với
sự xác lập tối đa quan hệ sản xuất phong kiến sau một thời gian phát triển thịnh
đạt, trước những yêu cầu mới của nền sản xuất, đã dần bộc lộ sự trì trệ và thoái
hóa. Tầng lớp phong kiến thống trị dần đánh mất vai trò tích cực, sa đọa vào cuộc
sống hưởng lạc, xa hoa. Đời sống mọi tầng lớp nhân dân ngày càng thêm khó
khăn bởi sự bóc lột tô, thuế. Nguy hiểm hơn là sự suy thoái trầm trọng của triều
Lê đã khoét sâu thêm mâu thuẫn nội bộ của giai cấp phong kiến thống trị, mâu
thuẫn giữa nhà nước phong kiến với mọi tầng lớp nhân dân.
Thế kỷ XVI chứng kiến sự bùng nổ của nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổi
dậy. Nạn tranh chấp quyền lực giữa các phe phái, gây ra những cuộc nội chiến
cũng được khai thông mở mang. Từ thế kỷ XVI, ngoài quan hệ buôn bán với các
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
7
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
nước trong khu vực (Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan…), thường xuyên lui tới
buôn bán với Đại Việt còn có các thương nhân các nước phương Tây (Bồ Đào
Nha, Hà Lan, Pháp…). Sự phát triển của kinh tế thương nghiệp tác động sâu sắc
đến đời sống xã hội, làm thay đổi lối sống, suy nghỉ, tư duy của con người. Lĩnh
vực kinh tế thương nghiệp, tức kinh tế hàng hóa sẽ tấn công và phủ định nền kinh
tế tự cung tự cấp của chế đội phong kiến, dẫn đến sự suy thoái của chế độ này.
Về phương diện tư tưởng, Nho giáo vẫn khẳng định vị trí hàng đầu trong đời
sống xã hội. Hệ tư tưởng này là phương tiện đắc dụng nhất phục vụ sự thiết lập và
bảo vệ trật tự phong kiến, chỉ đạo tình cảm, đạo đức, tư duy và hoạt động của con
người. Gắn liền với địa vị to lớn của Nho giáo, là sự phát triển của nền giáo dục
theo Nho giáo. Việc học hành thi cử vẫn được duy trì, mở rộng trong điều kiện
chính trị mất ổn định. Các kỳ thi Hương, thi Hội vẫn được nhà Mạc, nhà Lê đều
đặn tổ chức. Nhà nước phong kiến vốn chú ý trọng dụng tầng lớp trí thức Nho
học trong xây dựng và bảo vệ chế độ. Tuy nhiên sự bất ổn về chính trị có thể nói
là hơn hai thế kỷ đã tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần, tư tưởng và hành vi
của con người. Giáo dục Nho học đứng trước thử thách lớn của thời đại, dù được
mở rộng nhưng chất lượng giảm sút, tiêu cực trong học hành thi cử xuất hiện.
Tầng lớp trí thức Nho học phân hóa ( kẻ tham chính, người ẩn dật trốn đời hoặc
đơn thuần hành nghề dạy học, bốc thuốc…) Cuộc sống đất nước nhiễu nhương,
nội chiến liên miên gây nhiều đau thương cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến
cuộc đời nhà nho Nguyễn Bỉnh Khiêm.
2. Cuộc đời, sự nghiệp văn chương và tư tưởng chính trị của Nguyễn
Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585), tự là Hạnh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ,
người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, tĩnh Hải Dương (nay là xã Lý Học, huyện
Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Sinh trưởng trong một gia trí thức Nho học. Cha là
Giang phu tử. Các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Nguyễn… đều tôn kính ông, sai
người tham bác ý kiến ông mỗi khi có việc hệ trọng. Các truyền thuyết về ông
liên quan đến vận mệnh các phe phái lúc bấy giờ là xuất phát từ uy tín, đức độ
hiếm có của chính ông.
Sự gắn bó với thời cuộc là ngọn nguồn cho sự nghiệp văn thơ sáng giá của
Hạnh Phủ. Tác phẩm chính của ông còn lại đến nay có : Bạch Vân quốc ngữ thi
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
9
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
(Thơ Nôm còn lại độ 170 bài), Bạch Vân am thi tập (Thơ chữ Hán còn lại độ 600
bài) cùng một số bài văn chữ Hán như Trung Tân quán bi ký, Thạch khánh ký.
Ngoài ra, một vài tập sấm ký Nôm như Trình quốc công sấm ký, Trình tiên sinh
quốc ngữ tương truyền là của ông nhưng điều này đến nay vẫn chưa được xác
định chắc chắn. Nghiên cứu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu vẫn là trên cơ
sở những bài thơ còn lại của hai thi tập trên.
CHƯƠNG II
CÁC KHÍA CẠNH CỦA QUAN NIỆM NHÂN SINH
TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Để đi vào vấn đề chúng ta cần hiểu : Nhân sinh quan là gì?
Nhân : Người
Sinh : Sự sống
Quan : Quan niệm
Nhân sinh quan : Quan niệm về sự sống con người.
Vậy “Nhân sinh quan” là sự xem sét, suy nghĩ về sự sống của con người,
hoặc nói văn vẻ hơn, “Nhân sinh quan” là quan niệm của chúng ta về những định
luật diễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người.
1. Cái nhìn hiện thực
Chiến tranh xảy ra liên miên, tàn khốc, nhân dân li tán, đói khổ, chết chóc.
Xót xa trước thảm họa chiến tranh. Trước thế kỷ XVI có nhiều giặc giả biến
loạn. Thời Lê trung suy (1505-1527), trong triều thì rối ren lục đục, các quyền
Vì giặc giả ly loạn mà dân chúng phải từ bỏ ruộng vườn thôn xôn xóm, lưu
lạc tha phương. Họ thiết tha mong mỏi chiến tranh chấm dứt để quay về quê cũ.
Cảm thông nỗi cơ cực của người dân lưu ly thất sở và sự gian hiểm của quân sĩ
vào sinh ra tử, tác giả đã nhiều lần nói lên khát vọng hòa bình :
Bao giờ lại thấy đời Nghiêu Thuấn,
Như cũ nơi nơi được thái hòa.
(Ngụ hứng, bài 2)
Bao giờ lại gặp đời Nghiêu Thuấn,
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
11
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Chúa thánh dân lành thỏa ý ta.
(Tân niên hí tác)
Đời Nghiêu Thuấn mà Nguyễn Bỉnh Khiêm mơ ước chính là cảnh thái bình
thịnh trị trên đất nước ta thời Lê Thánh Tông và đời Mạc Đăng Doanh.
Đạo đức xã hội suy đồi, thế lực đồng tiền chi phối cuộc sống và những mối
quan hệ gia đình- xã hội
Một thực tế làm khuấy động tâm hồn nhà thơ : sự đen bạc của cảnh đời. Con
người tham lam hám tiền, trọng lợi hơn nghĩa, coi rẻ tình nghĩa, kể cả tình cha
con, anh em, vợ chồng, bà con :
Còn bạc còn tiền còn đệ tử,
Hết cơm hết rượu hết ông tôi.
(Thơ Nôm, bài 71)
Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười,
Có của thời hơn hết mọi lời.
(Thơ Nôm, bài 74)
Giàu sang người trọng khó ai nhìn,
Mấy dạ yêu vì kẻ lở hèn.
Thủa khó dẫu chào, chào cũng lặng,
Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thì quen.
lạc nhân dân bị cực khổ. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tin ở lẻ trời, tin ở sự báo ứng.
Ông đã nêu lên quan niệm “Thiên nhân tương dữ”:
Trời người nào có khác xa đâu.
(Ngẩu thành, bài 5)
Ông tin rằng thiên lý sẳn có nơi lòng người và dù có bị lu mờ vì tư dục thì
cũng không bao giờ bị mất hẳn. Mặt khác do quan niệm “Vật ngã đồng nhất”
Nguyễn Bỉnh Khiêm có một cái nhìn về vạn vật giống như cái nhìn của Trang Tử.
Con người và muôn vật tuy hình chất không giống nhau, nhưng tính và phận vẫn
bình đẳng, vì không có vật nào là không có Đạo ở trong cả. Mỗi vật nếu biết
thuận theo cái tính tự nhiên và cái phận của mình mà sống thì sẽ có hạnh phúc
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
13
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
ngay, không cần tìm đâu xa. Bởi vậy ta không nên xen vào làm trở ngại cuộc
sống tự nhiên của một vật nào mà hãy để nó tự do sống theo bản tính của nó. Tóm
lại Nguyễn Bỉnh Khiêm cho rằng con người sinh ra trong vũ trụ, có thể hòa hợp
cùng trời đất, cảm thông với muôn vật, và bình đẳng với nhau về tính và phận,
tức là đồng nhau ở chổ được tự do sống đời sống của mình.
2. Cách lý giải những vấn đề cuộc sống
Triết lý về qui luật xoay vần của cuộc sống.
Quan niệm về cuộc đời. Đời ngắn ngủi, nhân sinh chỉ là một hiện tượng trong
vũ trụ. Mọi sự vật trong vũ trụ đều biến dịch và vô thường, thì con người cố nhiên
không thể thoát ra ngoài công lệ ấy. Sinh, lão, bệnh, tử chỉ là một hệ luận hay một
sự suy diễn rút ra từ định luật “sinh, trụ, dị, diệt”.
Theo nhà Phật, thể xác con người chỉ là huyễn thân, do các chất, nước,và gió
kết hợp giả tạm mà thành, không phải là thực, nên còn đấy rồi mất đấy. Con
người cũng như cỏ cây và hết thảy sự vật trên thế gian, phàm có sinh tất phải có
diệt, không vật nào thường còn. Người ta dù sống đến trăm năm, thì quảng đời đó
so với dòng thời gian vô thủy vô chung cũng chẳng có nghĩa lý gì cả :
Vô cùng mọc lặn kia vầng nguyệt;
Được mất cùng thông nối tiếp nhau.
(Ngẫu thành, bài 5)
Những sự được mất cùng thông ấy đều do mệnh trời :
Cùng thông được mất đều do số.
(Tân quán ngụ hứng, bài 36)
Nhân sinh chỉ là ảo mộng đường đời lại lắm cùng thông, vậy thì thân phận
con người, dù nghèo hèn hay giàu sang, cũng đều bi đát như nhau. Người nghèo
khổ phải chịu bao nỗi đắng cay thì thở than một kiếp sống cũng đã là quá nhiều,
trong khi kẻ giàu sang lại thấy cuộc đời quá ngắn, không đủ để tận hưởng lạc thú.
Không ai bằng lòng cuộc sống của mình :
Nghèo khó một thân than đã lắm;
Giàu sang ngàn thuở sợ mau qua!
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
15
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
(Độc Phật kinh hữu cảm)
Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng như những bậc chân nhân khác, nhận định thực
chất của cuộc đời không phải bi quan yếm thế, thở ngắn than dài hoặc buông lung
trong dục vọng, mà để bình thản chấp nhận sự biến chuyển vô thường theo quy
luật tự nhiên, không tham luyến và bám víu vào những gì có tính cách nhất thời
và mộng huyễn, đồng thời biết tìm ra một thái độ sống thích hợp với ý nghĩa đích
thực của cuộc đời.
Triết lý Vô sự, tư tưởng bất tranh, thái độ dĩ hòa vi quí.
Thản nhiên trước sự sống chết được mất cùng thông. Nhận thức cuộc đời là
ảo mộng vô thường, kiếp người ngắn ngủi phù du, sự được mất cùng thông ở thế
gian đều do số mệnh và theo lẻ tuần hoàn mà xoay vần không phải để đi đến thái
độ bi quan yếm thế hay vội vả tận hưởng khoái lạc như phần đông người đời. Là
một triết nhân, một chân nhân, Nguyễn Bỉnh Khiêm nhận định lẽ thật của nhân
sinh để không bám víu vào cái không thể bám víu được, không lấy cái tương đối
làm cái tuyệt đối và để biết điềm tỉnh thản nhiên trước những đổi thay của cuộc
“Nhàn” là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát
tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hưởng nhàn
của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với
bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.
Cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị :
Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào.
(Thơ Nôm)
Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã
trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách
chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh,
mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khác, nhằm khẳng định
ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ thẩn
được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
17
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc,
cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi.
Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của
cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đằng sau những liệt kê của nhà thơ,
ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một
con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn
thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân
sinh vững bền. Đó cũng là cơ sở giúp nhà thơ khẳng định một thái độ sống khác
người đầy bản lĩnh :
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao.
(Thơ Nôm)
Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những
Khiêm, hoà hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong
sạch của lòng mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn
mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử,
sống không hổ thẹn với lòng mình. Hoà hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang
phu tử đang sống đúng với thiên lương của mình. Quan niệm về chữ Nhàn của
nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định :
Rượu đến cội cây ta sẽ uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.
(Thơ Nôm)
Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ
sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với
đạo Lão - Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang
sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực.
Quan niệm về công danh, tinh thần “dĩ bất biến ứng vạn biến”
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
19
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Đối với bậc chân nho như Nguyễn Bỉnh Khiêm, làm quan là để hành đạo chứ
không phải là phương tiện để mưu cầu tước lộc, thế nên gặp khi đạo khó thực
hành, và công danh đã đến hồi bất trắc, ông nhận thấy ở lại với cảnh giàu sang
chẳng khác gì bước trên nguy hiểm. Bởi vậy tốt hơn là lui về ẩn dật để hưởng thú
thanh nhàn với tuổi già :
Giàu sang chẳng ở, hiểm nguy thôi,
Tuổi cả quay về sống thảnh thơi.
(Ngụ hứng, bài 12)
Ông xem phú quý chẳng qua là ảo mộng, cuộc sống ưu du phóng khoáng,
như đám mây trắng tự do lơ lửng bay, không chút buộc ràng câu thúc, còn hơn cả
tước hầu vạn mộ :
Kìa con thuyền thả, lưng vành nguyệt,
Nọ đám mây trôi, vạn hộ hầu.
Lúc cùng tạm xếp cánh thu vây.
(Tự thuật, bài 1)
Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét
và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình :
Ở thế mới hay người bạc ác,
Giàu thì tìm đến, khó thì lui.
(Thói đời)
Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của
bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột
lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ Tăng thử
(Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm
bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân.
Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý, đáng trọng vì
đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn đục trong
xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn
liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
21
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
Triết lý nhân sinh này khả dỉ giải thích sự ra làm quan và về ở ẩn của ông. Do
quan niệm tùy thời xuất xử, tùy ngộ nhi an mà vào thời Lê trung suy, ông ở ẩn
dạy học không chịu ra dự thi hai khoa Quý vị (1523) và Bính tuất (1526). Lúc
Mạc Đăng Doanh lên ngôi, trong nước tạm có cảnh thanh bình ông nghỉ rằng đó
là cơ hội có thể dùng sở học thực hiện những điều tốt đẹp, nên đã ra làm quan ;
đến khi dâng sớ hạch tội 18 tên lộng thần không có hiệu quả ông thác bệnh về ở
ẩn, không tham quyền cố vị. Như thế đủ thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm ra làm quan là
muốn giúp cho tự nhiên phát triển, mà rút lui cũng là để cho tự nhiên tự do biến
chuyển theo lẻ “cùng tắc biến, biến tắc thông”.
3. Những ý nghĩa tích cực và tiêu cực trong quan niệm nhân sinh của
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Bỉnh khiêm đã thấy được bản chất xấu xa, tính chất tha hóa của sức mạnh đồng
tiền, tuy nhiên ông chưa thấy được yếu tố tích cực và xây dựng xã hội mới của
đồng tiền. Cái đạo đức tha hóa tuy đã có triển vọng, nhưng chưa đến mức tạo nên
một giai cấp tư sản quan trọng và đưa vào ý thức hệ của nhân dân những quan
niệm mới về quy luật phát triển của xã hội dựa vào tiền bạc và hàng hóa. Ngày
nay tình thế đã đổi mới, tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm do đó có những chỗ
không thích hợp với xã hội Việt Nam hiện tại. Thái độ “nhàn” của ông chỉ có tác
dụng vào một thời đại nhất định mà thôi.
KẾT LUẬN
Như vậy là qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về xã hội cho đến cuộc đời,
sự nghiệp và đặc biệt đáng để tâm là những quan niệm về triết lý nhân sinh trong
thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông đã nói lên những lẽ sống trong cuộc đời,
những mối quan hệ nhân sinh mà còn ảnh hưởng và có giá trị cho hậu thế ngày
nay và mãi mãi sau này. Và chúng ta càng trân trọng ông hơn, khi ông về ở ẩn
nhưng ông không ngoảnh đi, mà ngược lại ông chăm chú nhìn vào đời, sẳn sàng
làm những gì đời cần đến. Chỉ miễn là không phải lao vào vòng danh lợi làm
hoen ố tấm lòng trung trinh của một nhà nho chí sĩ. Ông là một con người trung
chính, thanh khiết, không chịu bó buộc luồn cúi trước một xã hội luôn xâu xé lẫn
nhau làm cho cuộc sống con người bị đảo lộn. Trái lại ông hướng đến những tình
cảm cao đẹp, là tìm cách cải tạo con người, giúp họ gạt bỏ những thói xấu, tăng
thêm những phẩm chất tốt đẹp, sống đúng với chức phận của mình, giữ vững kỷ
cương, đạo lý trong quan hệ ứng xử giữa con người với con người. Khuyên răn
con người đừng nên tham lam, ham sắc, ham cờ bạc, cậy giàu sang mà kiêu ngạo,
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
23
Quan niệm nhân sinh trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
coi thường người nghèo… Đó là những bài học đạo đức giản dị nhưng sâu sắc và
gần gủi mà chúng ta cần phải học tập và xác định đúng đắn hơn nữa. Cái đáng
trân trọng và đánh giá cao nhất ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là dù xuất hay xử thì tấm
lòng ông luôn hướng về đất nước,về nhân dân. Tư tưởng và tình cảm cao đẹp đó
8. Nguyễn Phương Chi (1986), Nguyễn Bỉnh Khiêm - nhà thơ lớn thế kỷ XVI, Báo
văn nghệ, số 2.
9. Viện khoa học xã hội - Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm,(200), Trần Khuê, (chủ
biên), Nguyễn Bỉnh Khiêm trong lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, Nxb Đà
Nẵng.
10. Một số trang web: thivien.net, tailieu.vn
SVTH: Trần Văn Dương – MSSV: 0911507 Trang
25