ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI PHƯƠNG ANH
QUAN NIỆM NHÂN SINH CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ QUA CÁC
SÁNG TÁC VĂN XUÔI THỜI KỲ ĐỔI MỚI QUA SÁNG TÁC CỦA
NGUYỄN THỊ THU HUỆ, VÕ THỊ HẢO, NGUYỄN NGỌC TƯ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC VĂN HỌC
Chương 1 : QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ CON NGƯỜI VÀ
CUỘC SỐNG 11
1. Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các dòng văn học 11
1.1. Tính đến trước 1975 11
1.2. Sau 1975 16
2. Quan niệm của người phụ nữ về con người và cuộc sống 22
2.1. Quan niệm của người phụ nữ về con người 24
2.1.1. Người phụ nữ với gia đình 29
2.1.2. Với người yêu 36
2.1.3. Với người xung quanh 40
2.2. Quan niệm của người phụ nữ về cuộc sống 43
2.2.1. Trân trọng cuộc sống tự nhiên 46
2.2.1.1.Sự hình thành và phát triển của lịch sử 46
2.2.1.2.Môi trường sống 49
2.2.1.3.Thành quả văn hoá 53
2.2.2. Cơ chế do con người đặt ra 55
2.2.2.1.Phương tiện đảm bảo cuộc sống 55
2.2.2.2.Nghệ thuật 60
2.2.2.3.Thế giới tâm linh 62
2
Chương 2: QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ BẢN THÂN MÌNH 65
1. Quan niệm của người con gái về bản thân mình 68
1.1. Khao khát tìm hiểu, khám phá cuộc sống, tình yêu. 69
1.2. Khao khát một tình yêu hạnh phúc 71
1.3. Khao khát được cuộc đời đón nhận 74
1.4. Khao khát một mái ấm gia đình. 75
2. Quan niệm của người đàn bà về bản thân 77
2.1. Khao khát một hạnh phúc gia đình trọn vẹn 79
2.2. Chung thuỷ, giàu đức hy sinh: 82
phát hiện một nét bản chẩt trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của
con người”… Bùi Việt Thắng khẳng định, truyện ngắn là một thể tài gắn với
báo chí, đã luôn có mặt kịp thời trước sự biến chuyển của đời sống. Truyện
ngắn rất thích hợp để nhà văn nhanh chóng tìm hiểu, phản ánh và nêu ý kiến
trước những vấn đề mới, nóng bỏng đang đặt ra trước xã hội. Có thể nói,
truyện ngắn là một thể tài “xung kích” giàu tính năng động, một người lính
trinh sát trên các bước chuyển của đời sống và văn học…
“Vài ba năm trở lại đây chúng ta được mùa truyện ngắn”. Nguyên
Ngọc đã nói như vậy khi bàn về truyện ngắn những năm sau chiến tranh. Sự
phát triển của truyện ngắn từ năm 1975 đến nay có thể coi là một hiện tượng
tất yếu của nền văn học. Đặc biệt hơn khi vào những nănm 1986, văn học nói
chung, truyện ngắn nói riêng có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của
công cuộc đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp với cách viết và lối tư duy độc đáo
trong hàng loạt truyện ngắn: Chút thoáng Xuân Hương, Huyền thoại phố
4
phường, Những bài học nông thôn…đặc biệt Tướng về Hưu, được coi như
một hiện tượng lạ trên thi đàn văn học.
Mật độ các cuộc thi truyện ngắn tăng lên ngày càng nhiều đã tạo cơ hội
cho hàng loạt các tên tuổi mới xuất hiện trên thi đàn. Theo Nguyễn Huy Thiệp,
chúng ta quen dần với Phạm Thị Hoài, Y ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị
Vàng Anh, Nguyễn Quang Thiều, Lưu Sơn Minh,Võ Thị Hảo, Đỗ Hoàng Diệu,
Nguyễn Ngọc Tư … như những cây bút có khả năng làm nóng lên đời sống văn
học.
Đáng chú ý là nếu như trước kia, ta quen với các tác giả nam thì nay
trên thi đàn văn học đã xuất hiện một cách đông đảo các tác giả nữ. Theo như
nhà phê bình Vũ Ngọc Phan, thì nếu như đầu thế kỷ XX chỉ có 2/79 tác giả
nữ, thì đến 1997 đã có 92/720 hội viên hội nhà văn là nữ giới. Đến nay, số
lượng nữ văn sĩ đứng trong hội nhà văn đã có sự gia tăng đáng kể.
Sống trong không khí dân chủ, cởi mở của thời đổi mới, các nhà văn
quang mất mát và hi sinh, về người trí thức cách mạng với lòng yêu nước và
những ngộ nhận ngây thơ, với niềm tâm huyết, say mê và bao điều dằn vặt, về
người phụ nữ với bao trăn trở, dằn vặt và khao khát hạnh phúc đến cháy
bỏng Các nhà văn ngày nay phải trả món nợ ấy cho đời.
Trong giai đoạn 1930-1945 văn học đã từng đề cập tới những vấn đề
của đời thường, những số phận riêng. Song theo Lê Ngọc Trà trong cuốn Văn
chương thẩm mĩ và văn hóa nhận định: “Trong những năm tháng chiến tranh
kéo dài, văn học cách mạng chủ yếu nói về cái chung, chỉ xem xét cái riêng xuất
phát từ quyền lợi chung của giai cấp, của dân tộc khiến cho vấn đề đời thường,
số phận riêng của con người bị chìm đi, bị xem nhẹ, thậm chí, đôi khi còn bị xem
như một cái gì xa lạ với một nền văn học lành mạnh” [20, tr 75]. Tác giả nhấn
mạnh, chính điều này khiến cho văn học từ sau những năm 1975, đặc biệt là sau
6
công cuộc đổi mới của Đảng (1986), khi quay trở lại vấn đề đời thường với
những số phận riêng đã thực sự được coi là một hành động đổi mới. Sự quay trở
lại này cũng làm cho nền văn học nhiều năm qua thiên về cái chung, cái cao cả
trở lại trạng thái cân bằng. Nền tảng của sự đổi mới trong văn học thời này là bắt
nguồn từ sự tự ý thức của văn học, sự giác ngộ của văn học về vai trò của nó
trong xã hội, quan hệ giữa văn học và chính trị, ý nghĩa của nó đối với con
người.
Lê Ngọc Trà cũng viết: “Sau bao nhiêu năm cách mạng và chiến tranh,
tập cho con người quen với cuộc sống bình thường cũng bổ ích như giúp họ
nhận ra vẻ đẹp của những cái đơn giản ở xung quanh, một công việc mà hình
như chỉ riêng nghệ thuật là được giao cho chức phận để thực hiện. Cùng với
điều đó việc đi sâu vào thế giới tinh thần của con người, vào quá trình tự ý
thức của nó đã góp phần củng cố thêm sự hình thành con người cá nhân
trong xã hội Việt Nam, làm cho văn học thời kỳ nay đứng cao hơn văn học
trước 1945, khi mà ở đó vấn đề tự do cá nhân chủ yếu chỉ mới đặt ra trong
phạm vi tự do tình cảm của con người” [20, tr 45]
đông đảo cuả các nhà văn nữ và các nhân vật nữ trong các tác phẩm. Điều đó
khiến cho văn học thời kỳ đổi mới được coi là một nền văn học mang tính nữ.
Tuy nhiên tính nữ không nhất thiết được tạo ra bởi các nhà văn nữ bởi những
nhà văn nam cũng có những tác giả viết rất hay về giới nữ, như Nguyễn Minh
Châu, Nguyễn Huy Thiệp. Hơn nữa, thiên tính nữ là tinh thần của cái đẹp, mà
tất cả các nhân vật nữ đều đẹp.
Các nhà văn nữ khi lựa chọn nhân vật nữ cho sáng tác của mình đều cố
gắng thể hiện rõ khả năng cảm thụ và quan sát cuộc sống, con người một cách
đa dạng, đa chiều trong tính toàn vẹn của nó. Trước chiến tranh, con người
chỉ mải nghĩ đến hoà bình, độc lập, tự do và họ sẵn sàng hy sinh, dâng hiến
8
hạnh phúc riêng tư cho lý tưởng. Sau chiến tranh, trong điều kiện sống bình
ổn hơn, con người cũng có nhiều thời gian, nhiều điều kiện quan tâm đến bản
thân, đến những nhu cầu tự nhiên, những khao khát đời thường. Nhạy cảm, vị
tha, yêu thương, hướng thiện, song trái tim người đàn bà cũng mềm yếu, dễ
rung động, xao xuyến trước những điều hạnh phúc giản dị và cả những điều
trái ngang của cuộc sống. Rất đáng chú ý khi những người phụ nữ hôm nay đã
dám bộc bạch nỗi lòng mình trên trang giấy, điều mà bấy lâu nay bị bao phủ
bởi những quan niệm khắt khe về người phụ nữ.
Từ tất cả những điều trên đây, chúng tôi muốn khẳng định, người phụ
nữ đã thực sự trở thành một hình tượng trung tâm của văn học thời đổi mới
Bằng việc thống kê, phân tích, tham khảo ý kiến về tác phẩm của ba
nhà văn nữ, chúng tôi muốn bước đầu nghiên cứu quan niệm nhân sinh của
người phụ nữ được thể hiện qua các sáng tác văn xuôi (truyện ngắn) nhằm
làm sáng tỏ chủ nghĩa nhân văn mà các nhà văn muốn chia sẻ, gửi gắm…
3. Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Bằng một tâm hồn nhạy cảm, với thiên tính nữ đặc biệt các nhà văn nữ
đã dần chiếm lĩnh được thi đàn văn học ở thời kỳ đổi mới. Thông qua các
hệ thống được quan niệm nhân sinh cụ thể sao cho phù hợp với hệ thống luận điểm
Phương pháp tổng hợp, phân tích cũng rất quan trọng. Thông qua quan
niệm nhân sinh của mỗi nhân vật sẽ giúp ta có cái nhìn khái quát, toàn diện
Phương pháp so sánh, đối chiếu sẽ giúp ta nhận ra sự khác biệt, tương
đồng trong quan niệm nhân sinh ở các nhân vật nữ trong các truyện ngắn ở
thời kỳ đổi mới nói chung, ở các truyện ngắn của ba nhà văn nữ nói riêng.
10
5. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của luận văn
được triển khai thành ba chương:
Chương 1: Quan điểm của người phụ nữ về cuộc sống và con người.
Chương 2: Quan điểm của người phụ nữ về bản thân mình
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện.
Và cuối cùng là mục tài liệu tham khảo.
11
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : QUAN NIỆM CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VỀ CON NGƯỜI VÀ
CUỘC SỐNG
1. Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ trong các dòng văn học
1.1. Tính đến trước 1975
Trong tiến trình văn học dân tộc, văn học dân gian được ra đời từ rất
sớm, bao gồm người sáng tác tập thể truyền miệng, lưu truyền trong nhân dân.
Những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ… là những
giá trị tinh thần cao quý của phần lớn nhân dân lao động, mà chủ yếu thuộc về
tầng lớp dưới trong xã hội và một số ít trí thức tham gia sáng tạo văn học dân
gian.
hạnh phúc tự do, là cả một thái độ phản kháng quyết liệt đôi vối xã hội còn
nhiều áp bức bất công, là cả một niềm tin ở hiền gặp lành, ác giả ác báo
Điều gì chưa thực hiện được ở ngoài đời người phụ nữ nói riêng, con
người nói chung tìm cách thực hiện trong những giấc mơ cổ tích. Cô Tấm
trong truyện Tấm Cám là một nhân vật tiêu biểu cho những số phận bi thảm,
cho những phẩm chất tốt đẹp, đáng quý của người phụ nữ xưa. Nghèo khổ
nhưng hiền lành, nhân ái, vị tha ắt sẽ đươc bù đắp xứng đáng cho những thiệt
thòi, hi sinh, mất mát. Hay như Mị Châu trong Truyền thuyết Mị Châu -
Trọng Thuỷ dẫu cả tin, nhẹ dạ, ngây thơ nên vô tình gây lên nỗi đau nước
mất nhà tan vẫn khẳng định được mình là một tâm hồn trắng trong, tinh khiết
như châu ngọc …
Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX là giai đoạn của văn học trung đại. Được
hình thành trong lòng xã hội phong kiến nhiều áp bức bất công, các phong
13
trào đấu tranh đòi quyền lợi, chống áp bức của nhân dân cung liên tiếp nổ ra.
Tuy nhiên, chính trong bước đường thăng trầm của lịch sử, văn hoá dân tộc
lại vô cùng phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn. Đáng kể là sự xuất
hiện của chữ viết, với hai loại hình Hán, Nôm.
Với lực lượng sáng tác chính, chủ yếu là tri thức phong kiến có nhiều
năm tháng dùi mài kinh sử nơi cửa Khổng sân Trình, được đào tạo trong các
lò luyện Hán học, văn học trung đại chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của văn học
Trung Quốc nên mang tính quy phạm rõ nét. Bên cạnh đó là xu hướng đổi
mới phá vỡ tính quy phạm. Song song là sự tồn tại của khuynh hướng trang
nhã và xu hướng bình dân… Tất nhiên là trong quá trình tiếp thu chịu ảnh
hưởng của văn học nước ngoài, văn học trung đại Việt Nam vẫn không ngừng
sáng tạo, khẳng định bản sắc riêng của nền văn học dân tộc…
Như đã nói, người cầm bút chủ yếu là tri thức phong kiến. Lại cộng
thêm 1000 năm Bắc thuộc, tư duy con người lúc này là tư duy phong kiến.
Cách cảm, cách nghĩ còn giáo điều, rập khuôn, máy móc. Và khi đề cập đến
bút. Viết văn cũng trở thành một nghê nghiệp. Tất cả khiến cho nền văn học
Việt Nam có nhiều đổi mới theo hướng hiện đại hoá. Đồng thời hình thành
hai bộ phận (công khai, hợp pháp) và phân hoá thành nhiều xu hướng (lãng
mạn, hiện thực) vừa đấu tranh vừa bổ xung cho nhau để cùng phát triển. Nhà
văn Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại khẳng định: “Ở nước ta, một
năm có thể kể như ba mươi năm của người`” bởi văn học thời kì này đã phát
triển với tốc độ quá mau lẹ.
Tư duy con người dưới sự tác động của hoàn cảnh xã hội cũng có nhiều
đổi mới, thể hiện rõ tinh thần dân chủ. Cái tôi cá nhân dần được chú trọng, đề
cao. Hàng loạt truyện ngắn mang tinh thần phê phán đều cho thấy con người
là sản phẩm của hoàn cảnh. Bao người phụ nữ trong trang văn của Nam Cao,
15
Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan đều xuất hiện trong những hoàn cảnh nghèo
khó, nhiều thử thách nhưng cũng giàu sức chịu đựng, giàu yêu thương…
Trong không khí ngột ngạt, oi bức, giông bão vào mùa sưu thuế ở làng
Đông Xá, Ngô Tất Tố đã bắt gặp chị Dậu cũng như bao người phụ nữ Việt
Nam mang những nét đẹp truyền thống, đảm đang, tháo vát, chung thuỷ, giàu
đức hi sinh. Nhưng chị Dậu hơn họ bởi sức chiến đấu mạnh mẽ lạc quan và
tinh thần phản kháng gan dạ trước kẻ thù. Nhiều người phụ nữ khi bị rơi vào
tình cảnh quẫn bách như chị Dậu, nhà nghèo, không có tiền nộp sưu cho
chồng, phải bán con, bán chó, rất có thể đã buông xuôi nhưng chị thì không.
Ngay trong hoàn cảnh khó khăn nhất, chị lại trở thành chỗ dựa vững chắc cho
chồng con và trở thành đốm lửa toả sáng trong đêm Tắt đèn nói riêng và
trong lịch sử văn học đương thời nói chung. Qua tác phẩm, nhà văn Ngô Tất
Tố muốn đặt ra vấn đề giải phóng giai cấp, giải phóng phụ nữ…
Trên trang sách của Nam Cao, ta cũng bắt gặp những người phụ nữ
trong Một bữa no, Một đám cưới, Trẻ con không được ăn thịt chó…. Tất cả
đều được tái hiện theo một số phận nghèo khổ, đáng thương khiến cho người
đọc không khỏi xót xa, đồng cảm…. Song ta cũng khâm phục họ bởi một trái
1.2. Sau 1975
Năm 1975, chiến tranh chấm dứt, đất nước bước sang một thời kỳ mới,
thời kỳ độc lập, tự do và thống nhất đất nước. Song trong quãng thời gian từ
1975 đến 1985, đất nước gặp nhiều khó khăn về kinh tế do hậu quả của chiến
tranh. Vì vậy năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI yêu cầu phải đổi mới. Đó là
nhu cầu bức thiết, là vấn đề có ý nghĩa sống còn của dân tộc.
Trong điều kiện mới, lực lượng sáng tác đã có sự gia tăng cả về số
lượng và chất lượng. Sống trong không khí của thời đổi mới, đề cao tinh thần
nhân bản, dân chủ, văn học cũng đổi mới, vận động theo hướng dân chủ hoá.
17
Nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo là tinh thần nhân bản và sự thức tỉnh
ý thức cá nhân. Đời sống văn học phát triển hết sức sôi nổi, phong phú, đa
dạng nhưng cũng vô cùng phức tạp.
Văn học là sự thật. Sự thật trong văn học hôm nay là sự thật về con
người. Lê Ngọc Trà trong cuốn Văn chương thẩm mĩ và văn hóa khi bàn tới
vấn đề về con người trong văn học đã khẳng định: Vấn đề con người cần phải
trở thành một trong những vấn đề trung tâm của văn học. Tác phẩm có thể
không có nhân vật người nhưng nó phải là câu chuyện về cõi nhân sinh. Nhà
văn có thể viết về nhà máy, hợp tác xã, công trường nhưng mối quan tam
chính của anh ta ở đây không chỉ là năng suất lao động, chất lượng sản phẩm,
cơ chế quản lí mà còn là quan hệ con người, là hạnh phúc, tình yêu, nỗi đắng
cay hay sự hèn hạ của con người, là những giá trị nhân văn của cuộc sống.
Không nên tiếp tục mãi tình trạng “quá tải” của văn học do nó phải chuyên
chở quá nhiều nội dung khác gây ra. Tác giả nhấn mạnh, trong một ý nghĩ
giản dị, văn học là buồn vui đời người, là sự chiêm nghiệm về những gì được,
mất, là hồi ức về quá khứ, sự không thoả mãn với hiện tại và dự cảm về tương
lai, là trầm tư về lẽ tồn vong của con người trong mối quan hệ với xã hội, tự
nhiên và vũ trụ. Đó là những chủ đề cơ bản và lâu dài của văn học…. Con
người nói chung, người phụ nữ nói riêng trong cuộc sống hôm nay là con
một đứa con với người chú Nguyễn Vạn. Đứa trẻ chính là một lời khẳng đinh
cho Hạnh và phủ nhận những lời đồn thổi trách móc. Mấy năm sau, mang đứa
con trở về, Nguyễn Vạn đã khuyên cô mang con về ở với Nghĩa nhưng Hạnh
kiên quyết: «Không bao giờ. Cháu sẽ ở đây với chú suốt đời. Chú sợ à ?»
Khác với những phụ nữ trong xã hội phong kiến nhẫn nhịn, cam chịu, Hạnh
đã dám vượt mình ra khỏi khuôn khổ. Cô cũng không ngại nhưng lời dèm
pha, cốt làm sao mình được sống hạnh phúc. Bằng một thái độ sống tự tin, táo
19
bạo, đầy bản lĩnh cô muốn khẳng định mình đáng phải được đối xử tôn trọng,
bình đẳng với mọi người…
Câu chuyện của một người cũng là câu chuyện của bao người phụ nữ
đáng thương cùng thời. Là Hương của Thời xa vắng (Lê Lựu). Là Phương với
Thân phận tinh yêu (Bảo Ninh). Và cả Qùy, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành của Nguyễn Minh Châu. Quỳ tâm sự: “Trong một phút tôi hiểu được như
thế nào là những người đàn bà, tôi hiểu được chính tôi bây lâu nay. Tôi đã trông
thấy trong một phút tất cả cái phần sâu thẳm như một thứ thiên phú riêng của
tâm hôn những người đàn bà chúng tôi. Đó là thứ bản năng chăm lo bảo vệ lấy
sự sống của con người do chính chúng tôi mang nặng đẻ đau sinh ra. Đó là tình
thương bẩm sinh của nữ tính - sợi dây thần kinh đặc biệt nhạy cảm của người nữ
giới chúng tôi”…. Qùy là một nhân vật phụ nữ đặc biệt, một hình tượng chính
mới mẻ, độc đáo trong xu hướng xây dựng nhân vật phụ nữ làm trung tâm bởi
đó là một người đàn bà có cá tính mạnh, có ý thức rõ rệt về giá trị của mình, có
khả năng tự sắp xếp cuộc đời theo ý muốn riêng, cũng như có khả năng gây ảnh
hưởng lớn đến môi trường xung quanh… Rất nhiều nhân vật phụ nữ khác trong
tác phẩm của Nguyễn Minh Châu dù ở vị trí nào cho người đọc những ấn tượng
khó quên. Nết, Xiêm trong Dấu chân người lính; Lan, Cúc trong Miền Cháy;
Hạnh trong Bên Đường chiến tranh… đều xuất hiện thật đẹp, đều là những
nhân vật đáng yêu…. Tất cả đều là những người phụ nữ có ý thức cá nhân sâu
sắc, luôn khao khát khẳng định mình, không chùn bước trên hành trình kiếm tìm
nữ trong văn của chị cũng không nằm ngoài mạch cảm xúc của tình yêu. Đó
là những cô gái mới lớn trước ngưỡng cửa của tình yêu, là những đứa trẻ,
những người phụ nữ trong gia đình với những nỗi niềm, bi kịch trước sự rạn
nứt. Chị tâm sự “Khoảng trời gói gọn trong cuộc đời các nhân vật nữ, những
người con gái háo hức bước chân vào tình yêu, những người đàn bà sống với
21
ngổn ngang trăm mối tơ vò trong bi kịch tâm hồn không lối thoát, họ là những
con người của thời đại, của những năm tháng mà lối sống, bản năng, những
khát vọng hướng thiện, hạnh phúc, khổ đau đôi khi chỉ chênh nhau monh
manh như là sợi tóc” (Theo Vnexpress)
Võ Thị Hảo vừa là một nhà báo sắc sảo vừa là một nhà văn nổi tiếng.
Đánh giá về văn của chị, có một bài báo đã viết: “Ẩn sau từng câu chữ trau
chuốt là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời
và nhân tình thế thái. Đọc truyện của Võ Thị Hảo, người ta thường buồn. Một
nỗi buồn có lẫn ngọt ngào, cay đắng”. Văn chương như một nơi để chị trải
nghiệm lòng mình bởi người đàn bà viết văn này đã phải gánh trên vai số
mệnh đàn ông. Dẫu rất mạnh mẽ, tự tin nhưng cũng có khi mệt mỏi, chùn
bước nên trong khắc khoải chị vẫn “mong được là một “dây leo đẹp” bên một
“cây đại thụ””. Chị tâm sự, đến với văn chương “Tôi được sống nhiều kiếp,
được viết cho mình, được khóc, được cười, như thế tôi đã được quá nhiều,
nếu tính chuyện mất thì tôi mất đi ít nhiều khả năng làm lành với cuộc sống,
phải lĩnh nhận kiếp nạn của những kẻ không thể im lặng trước nỗi đau của
người khác” (Theo Vnexpress). Viết văn cho mình, cho những người đồng
giới, cho những số phận không may mắn để chia sẻ niềm vui, nỗi đau và thức
tỉnh lương tri, chị muốn thực hiện cho đúng nghĩa sứ mệnh của một nhà văn
chân chính.
“Trước khi viết truyện ngắn đầu tiên, tôi đơn thuần là một cô gái nông
dân, bỏ dở học hành, ở nhà nấu cơm nuôi ông ngoại, chăm sóc vườn rau,
chiều chiều cắt rau cho má đi bán chợ đêm”. Có người hỏi, điều gì đã thôi
một chị Dậu kiên cường, vì bất cứ một lí do nào cũng không đem rao bán
nhân cách, phẩm giá Nhân vật vừa là sản phẩm của đời sống, vừa là
23
phương tiện để nhà văn lên tiếng bênh vực, bảo vệ, đề cao cái đẹp. Đồng thời
tố cáo cái ác, cái xấu còn tồn tại, lẩn khuất trong xã hội.
Mỗi thời đại đều cố gắng khắc hoạ nên những nhân vật thể hiện rõ chân
ding tinh thần của thời đại. Vào những năm cuối của thập kỷ 80 và suốt thập
kỷ 90, văn đàn chứng kiến sự xuất hiện đông đảo của các nhà văn nữ. Cũng
như mọi giai đoạn văn học, văn học thời đổi mới cũng có những tác giả tiêu
biểu, định hình cho mình một phong cách, chứng tỏ rõ khả năng, sự đam mê
đối với nghệ thuật. Và lẽ đương nhiên cũng còn nhiều cây bút còn non kém,
mải chạy theo những nhu cầu của thời kinh tế thị trường, tác phẩm còn hời
hợt, chưa tạo được những ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả cũng như giới
văn nghiệp
Với sự dịu dàng của nữ tính, lại cộng thêm tính cách táo bạo, tư duy cởi
mở do tác động của thời đại, các cây bút nữ đã nhanh chóng lôi kéo, cuốn hút
người đọc vào trang viết của mình. Và cũng rất nhanh chóng, những người
phụ nữ cầm bút đón nhận được sự chia sẻ, cảm thông của con người và cuộc
đời khi viết về những khao khát, ước mơ, nỗi buồn khổ của con người nói
chung, người phụ nữ nói riêng trên trang sách Chúng ta cũng có thể nói,
nhân vật người phụ nũ đã thực sự trở thành những nhân vật trung tâm trong
các truyện ngắn của các nhà văn nữ thời đổi mới
Văn chương phái nữ với các nhân vật nữ đã làm cho văn học thời đổi
mới trở nên mềm mại thêm, dịu dàng hơn nhưng vẫn sắc bén, thiết tha với con
người xung quanh. Quá trình tự ý thức về thế giới chung quang và tự ý thức
về mình đã trở thành nền tảng cho những câu chuyện được kể ra. Cơ sở, tiền
đề chung khi xay dựng các nhân vật nữ là như vậy, song cách thức thể hiện ở
mỗi nhà văn lại có những nét khác nhau. Đỗ Hoàng Diệu mạnh mẽ, táo bạo
với hình ảnh những người đàn bà đam mê, khao khát nhục cảm, khác hẳn