” vai trò và ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế việt nam, giải pháp để các doanh nghiệp việt nam trước áp lực cạnh tranh của các công ty đa quốc gia - Pdf 13

Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
MỞ ĐẦU
Nền kinh tế ngày càng phát triển không ngừng và ngày càng đa dạng hóa. Quá
trình toàn cầu hóa, hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ hầu hết tất cả quốc gia trên toàn thế
giới cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật làm xuất hiện nhiều loại hình kinh
doanh mới như là các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia; nhóm công ty; franchise…
trong đó, các công ty đa quốc gia là lực lượng chủ chốt trong truyền tải khoa học, kĩ
thuật và công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế thế giới và là mẫu hình thực hiện kiểu tổ
chức sản xuất hàng hóa hiện đại.Các công ty đa quốc gia tác động mạnh mẽ đến nền
kinh tế của các nước, trong đó có Việt Nam. Sự thâm nhập ngày càng nhiều vào nền
kinh tế Việt Nam nhất là từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức
thương mại thế giới WTO. Điều này góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển
nền kinh tế của nước nhà đồng thời cũng đặt nền kinh tế Việt Nam trước những thách
thức. Với các câu hỏi đặt ra như vai trò của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế
Việt Nam là gì? Các ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia tới nền kinh tế Việt Nam?
Phải làm gì để doanh nghiệp Viêt nam có thể tồn tại và phát triển trước áp lực cạnh
tranh mà các công ty đa quốc gia mang lại? Làm rõ những vấn đề này là rất quan
trọng và cấp thiết trong công cuộc mở rộng và phát triển nền kinh tế Việt Nam trong
xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Chính vì điều này mà tôi chọn đề tài nghiên cứu:”
Vai trò và ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế Việt Nam, giải
pháp để các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh của các công ty đa quốc
gia.”
SVTH: Đinh Thị Hiểu
1
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
I. Những vấn đề chung và hoạt động thực tiễn của các công ty đa quốc gia
1. Khái niệm
Trong các tài liệu về công ty đa quốc gia, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như:
công ty quốc tế (International Enterprise/Firm), công ty đa quốc gia
(Multinational Corporations/Enterprises – MNCs/MNEs), công ty xuyên quốc gia
(Transnational Corporations -TNCs), gần đây lại xuất hiện thuật ngữ công ty toàn cầu

•Có mạng lưới phân phối rộng rãi.
5. Một số đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam hiện nay
•Việt Nam là quốc gia nền kinh tế nhiều thành phần.bao gồm:
 Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ sở hữu và cá
nhân chủ sở hữu đó chỉ được làm chủ sở hữu một doanh nghiệp tư nhân; không được
đồng thời làm chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân khác hoặc chủ sở hữu hộ kinh
doanh và thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
 Công ty hợp danh: là doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên là cá nhân, trong
đó phải có ít nhất một thành viên hợp danh; ngoài thành viên hơp danh có thể có thành
viên góp vốn; thành viên hợp danh phải là cá nhân, còn thành viên góp vốn có thể là cá
nhân, tổ chức; thành viên hợp danh chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn bằng toàn bộ
tài sản của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ khác của doanh nghiệp; còn thành
viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi giá trị số vốn góp vào công ty.
 Công ty TNHH: được chia thành 02 loại: Công ty TNHH 1 thành viên và công
ty TNHH 2 thành viên trở lên.
Công ty TNHH 1 thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân
làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều
lệ của công ty.
Công ty TNHH 2 thành viên là doanh nghiệp trong đó thành viên có thể là tổ
chức hoặc cá nhân, số lượng không được vượt quá 50.
 Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều
phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông
tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp quy định của Luật doanh nghiệp 2005.
 Nhóm công ty: là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau
về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
SVTH: Đinh Thị Hiểu

•Nguồn vốn chủ yếu huy động từ nguồn vốn ODA, FDI, đầu tư của các công ty
đa quốc gia.
•…………
SVTH: Đinh Thị Hiểu
4
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
II. Vai trò của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế Việt Nam
1. Thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển
Trong quá trình hoạt động của mình các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy hoạt
động xuất nhập khẩu giữa các quốc gia và gia công quốc tế. Hay nói cách khác là các
công ty đa quốc gia thúc đẩy thương mại phát triển với ba dòng lưu thông hàng hoá cơ
bản là: hàng hoá xuất nhập khẩu từ công ty mẹ, hàng hoá bán ra từ các chi nhánh ở
nước ngoài và hàng hoá trao đổi giữa các công ty trong cùng một tập đoàn. Các công
ty đa quốc gia chi phối hầu hết chu chuyển hàng hoá giữa các quốc gia bởi các kênh
lưu thông xuyên quốc gia của mình.
Thật vậy, Sau khi chính phủ mở cửa hội nhập với các nước trên thế giới, nhất là
sau khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO vào ngày
11/01/2007 đánh dấu một mốc phát triển trong lĩnh vực ngoại thương của Việt
Nam.Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan ghi nhận tổng giá trị xuất nhập
khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2007 đã tăng mạnh 31,3%, mức tăng về số tương
đối cao nhất trong giai đoạn 2003-2012, tương đương tăng 26,52 tỷ USD so với năm
2006. Sau 6 năm là thành viên của WTO, thương mại hàng hóa của Việt Nam trong
năm 2012 đã đạt 228,31 tỷ USD, cao gấp hơn 2 lần so với kết quả thực hiện của năm
2007. Trước đó xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đã cán mốc 200 tỷ USD
vào những ngày cuối cùng của năm 2011.
SVTH: Đinh Thị Hiểu
5
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
2. Làm thay đổi cơ cấu thương mại
Như chúng ta đã biết, Sự gia nhập của các công ty đa quốc gia vào nước ta nhằm

GDP. Xét về tương đối, nếu như tỷ lệ nhập siêu năm 2000 chỉ ở mức khá khiêm tốn
7,97% thì năm 2004 đã tăng vọt lên 20,71%; còn năm 2008 đạt kỷ lục 28,76%. Cho nên
các mục tiêu sớm cân bằng cán cân thương mại và chuyển sang xuất siêu đã được hoạch
định vào năm nay hoặc một hai năm tới đều bị tréo ngoe so với thực tế.
Nguyên nhân dẫn đến nhập siêu tăng vọt không phải do tăng cường nhập khẩu
máy móc, thiết bị để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giống như hàng loạt các
quốc gia đi trước chúng ta, mà là do phụ thuộc ngày càng nặng nề vào thị trường
nguyên, nhiên, vật liệu thế giới. Điều này thể hiện cực kỳ rõ ở tình trạng “vỏ ta, ruột
ASEAN + 3”, rất phổ biến không chỉ trong hàng loạt hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong
nước, mà cả trong các hàng hóa “Made in Vietnam” xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Như vậy, trong cơ cấu của hàng loạt ngành kinh tế nước ta hiện nay, thay vì đầu
tư phát triển đồng bộ trong khuôn khổ có thể các công đoạn sản xuất, như trồng bông,
kéo sợi, dệt vải, nhuộm và sản xuất các phụ liệu khác, rồi đến công đoạn sau cùng là
may mặc phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, thì khâu duy nhất mà chúng ta
phát triển rất mạnh chính là khâu cuối nguồn. Thực tế này đã quyết định thương mại,
không những chỉ ở phía đầu vào, mà cả ở phía đầu ra đều phải tăng bùng nổ, nhưng
nhịp độ tăng trưởng kinh tế không thể đạt mức như chúng ta mong muốn trong hàng
chục năm qua. Thêm vào đó, ở đầu ra xuất khẩu, dù tỷ trọng hàng chế biến và tinh chế
SVTH: Đinh Thị Hiểu
7
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
đã tăng từ 44,17% năm 2000, lên 53,33% năm 2008 là hết sức đáng mừng, nhưng việc
hàng thô và sơ chế vẫn còn chiếm tỷ trọng 46,6% hàng xuất khẩu vẫn là một bất cập
rất lớn nhất.
Nói cách khác, không ít nguồn nguyên liệu sẵn có hoặc sản xuất được thì chúng
ta lại xuất thô, tức là mới chú trọng phát triển khâu đầu nguồn, nên giá trị gia tăng quá
thấp. Còn hàng loạt ngành sản xuất của chúng ta lại chỉ phát triển mạnh ở khâu cuối
nguồn. Do vậy, thương mại ở cả đầu ra và đầu vào đều phát triển bùng nổ, nhưng nền
kinh tế từ nhiều năm qua không thể phát triển nhanh như mong muốn, mặc dù chúng ta
vẫn còn ở trình độ phát triển rất thấp. Rõ ràng, trong điều kiện nguyên liệu ngày càng

dân và của các nhà đầu tư trong việc mua cổ phiếu của các công ty này.
Thứ hai: Ngoài việc vốn ban đầu để đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh các công ty đa quốc gia còn thực hiện các biện pháp huy động thêm vốn từ
Công ty mẹ, từ các chi nhánh thành viên của tập đoàn, từ các đối tác, các tổ chức tài
chính và tín dụng thế giới… Đây chính là hình thức thu hút đầu tư của các nước đang
phát triển hiện nay.
Thứ ba: Các công ty đa quốc gia góp phần cải thiện cán cân thanh toán của các
nước thông qua việc tích luỹ ngoại hối nhờ các hoạt động xuất khẩu. Như đã phân tích
ở trên. Hoạt động xuất khẩu của các công ty đa quốc gia chiếm một tỷ trọng đáng kể
trong tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước. Điều đó không chỉ thể hiện ở vai trò thúc
đẩy thương mại thế giới của các công ty đa quốc gia mà còn đem lại một nguồn ngoại
tệ quan trọng, góp phần tạo thế cân bằng cho cán cân thanh toán của nước chủ nhà.
5. Góp phần phát triển và chuyển giao công nghệ
Công ty đa quốc gia là chủ thể chính trong phát triển công nghệ trên thế giới.
Nắm giữ hơn 80% số bằng phát minh sáng chế, với năng lực tài chính và khoa học
mạnh, công ty đa quốc gia luôn dùng vốn, công nghệ mới…để giảm thiểu chi phí,
chuyển giao những công nghệ cũ, với chi phí cao sang các nước đang phát triển.
Nhưng với các nước đang phát triển, những công nghệ này vẫn là cần thiết trong quá
trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong chiến lược cạnh tranh, các công ty xuyên quốc gia luôn coi công nghệ là
yếu tố quan trọng, giữ vị trí hàng đầu. Do đó, thúc đẩy đổi mới công nghệ bằng hoạt
động nghiên cứu và phát triển (R&D) là nhiệm vụ sống còn của các công ty. Đi đầu
trong đổi mới công nghệ đồng nghĩa với nâng cao năng lực cạnh tranh, chiếm lĩnh thị
trường và giữ vị trí độc quyền.
Ngày nay, nhận thức của các công ty đa quốc gia về khoa học công nghệ đã
chuyển biến. Nếu như trước đây, các công ty đa quốc gia thường đầu tư lớn cho các
SVTH: Đinh Thị Hiểu
9
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
phòng thí nghiệm, các viện nghiên cứu để các cơ sở này tạo ra các phát minh sáng chế

10
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
III. Ảnh hưởng của các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế Việt Nam
Như chúng ta đã biết, Việt Nam là một trong những quốc gia có nền chính trị ổn
định, đây là điều kiện quan trọng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam. Bởi đây là điều làm cho các nhà đầu tư yên tâm việc phát triển hoạt động kinh
doanh của mình.Đồng thời đường lối mở rộng hội nhập của Đảng và nhà nước ta đa
phương hoá, đa dạng hoá; là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc
tế. Năm 1990 đã bình thường hóa quan hệ với EU (ngày 22-10-1990); 28/7/1995 là
thành viên chính thức của ASEAN; 3/1996 tham gia ASEM với tư cách là thành viên
sáng lập; 11/1998 là thành viên của APEC; năm 2000 ký hiệp định thương mại Việt -
Mỹ; 7/11/2006 chính thức là thành viên thứ 150 của WTO. Chính vì vậy càng ngày
càng có nhiều công ty đa quốc gia đầu tư mở rộng chi nhành, thị trường tại Việt Nam
dưới nhiều hình thức. Một số công ty đa quốc gia như: Unilever của Mỹ, Toyota của
Nhật, sam sung của Hàn quốc, Mabuchi của Nhật… Sự gia nhập vào Việt Nam của
các công ty đa quốc gia đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nước nhà.
1. Tích cực
•Cung cấp nguồn vốn quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của đất nước
Nguồn vốn của các công ty đa quốc gia là một nguồn lực quan trọng trong việc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế nước ta. Việt Nam tiến hành công nghiệp
hóa trong điều kiện tích lũy còn thấp, nhu cầu về vốn lớn đòi hỏi phải khai thác cả
trong và ngoài nước. Nhưng điều quan trọng hơn của nguồn vốn này đó là nhờ có nó,
nhiều nguồn lực trong nước ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tổng đầu tư xã hội:
vốn đầu tư nước ngoài, vốn của các doanh nghiệp trong nước có thể khơi dậy để đầu
tư nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa. Nhờ nguồn vốn này, nhiều
ngành mới đã được hình thành và phát triển đồng thời nguồn vốn công nghệ cũng đã
giúp chúng ta tiếp cận được với một số lĩnh vực hiện đại.
SVTH: Đinh Thị Hiểu
11

ngoặt trong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Bảng cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm, đơn vị %
Năm 1985 1995 1997 2000 2001 2002 2003 2004 2011
GDP 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0 100,0
Nông - lâm - thủy sản 40,2% 27,18 25,77 24,53 23,24 23,03 22,54 21,8 22,02%
Công nghiệp và xây dựng 27,4% 28,76 32,08 36,73 38,13 38,49 39,47 40,2 40,79%
Dịch vụ 32,4% 44,06 42,15 38,73 38,63 38,48 37,99 38,0 37,19%
Nguồn: Tổng hợp số liệu của Tổng cục Thống kê
•Phát triển nguồn nhân lực, tạo việc làm
Các công ty xuyên quốc gia đã tác động đến việc phát triển nguồn nhân lực và tạo
việc làm theo cả hai cách trực tiếp và gián tiếp. Thông qua các dự án đầu tư, các công ty
xuyên quốc gia đã tạo ra nhiều việc làm cho lao động địa phương đồng thời đào tạo lực
lượng lao động địa phương để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của công ty mình.
Bên cạnh đó, sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia đã tạo ra rất nhiều cơ
hội, động lực cho sự phát triển của lực lượng lao động theo đuổi mục tiêu có thu nhập
cao. Đặc biệt các nước đang phát triển như Việt Nam thì vai trò của các công ty xuyên
quốc gia lại càng trở nên quan trọng hơn, nó giúp chúng ta phát triển nguồn lực lao
động, nhất là đội ngũ có trình độ chuyên môn kĩ thuật và quản lý, từ đó tạo tiền đề
quan trọng để nâng cao năng suất lao động.
Ngoài ra các công ty xuyên quốc gia thường có các hoạt động trợ giúp tài chính
cho các chương trình nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực, cung cấp các thiết bị khoa
học phục vụ cho việc đào tạo.
SVTH: Đinh Thị Hiểu
13
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
•Thúc đẩy tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế
Để có thể hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cần có một nền kinh tế ổn định, tăng
trưởng đều. Các công ty đa quốc gia đã giúp chúng ta giải quyết được các vấn đề này.
Bên cạnh đó các công ty đa quốc gia cũng giúp tăng trưởng xuất khẩu, từ đó nhanh
chóng hội nhập vào thị trường quốc tế. Các công ty đa quốc gia, làm cho các doanh

lớn nên dễ dàng chấp nhận lỗ ban đầu, còn các doanh nghiệp trong nước thì nhỏ bé cả
về tài chính và công nghệ lạc hậu nên không thể cạnh tranh nổi. Sau khi giành được thị
trường thì hai hãng này lập tức tăng giá.
•Một số công ty đa quốc gia lạm dụng ưu thế về vốn, công nghệ để thao túng và
gây hậu quả xấu, thậm chí gây sức ép với cơ quan quản lý nhà nước.
Trong một số liên doanh, các công ty đa quốc gia nước ngoài sử dụng các ưu thế
của mình để chèn ép các doanh nghiệp trong nước, hướng tới độc quyền trong nền
kinh tế tự do hóa hiện nay. Việc các mặt hàng của các công ty đa quốc gia độc chiếm
thị trường Việt Nam sẽ dẫn đến rất nhiều hệ quả, ví dụ trong trường hợp công ty xuyên
quốc gia đó lâm vào khủng hoảng thì nó sẽ làm ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam.
Sự khủng hoảng về kinh tế sẽ dẫn đến các bất ổn về chính trị. Vì vậy Việt Nam cần
phải cảnh giác với sự liên kết của các công ty đa quốc gia với các doanh nghiệp nhà
nước, tránh để xảy ra những tiêu cực.
Ví dụ: Trong thời gian vừa qua, việc công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi của Trung
Quốc là C.P Pokphand (CPP) mua và giành quyền kiểm soát Công ty Cổ phần Chăn
nuôi CP Việt Nam dẫn đến mối lo ngại thị trường chăn nuôi bị nước ngoài thao túng.
•Công nghệ lạc hậu
Với mục tiêu giảm tối thiểu chi phí sản xuất và chi phí chuyển giao công nghệ,
các công ty đa quốc gia mang đến Việt Nam những công nghệ đã lỗi thời hoặc không
còn sử dụng được ở nước sở tại. Việt Nam trở thành nơi tiêu thụ cho các công nghệ hết
hạn đó,nhiều khi tốn chi phí nhập máy moc thiết bị về để chúng nằm một chỗ trong
kho không sử dụng được. Đồng thời việc chuyển giao công nghệ quá nhanh sẽ dẫn đến
việc lao động Việt Nam không thích ứng nhanh chóng được. Điều này đã làm cho Việt
Nam trở thành bãi rác của thế giới.
Ví dụ: Năm 2011, một số công ty may mặc của Trung Quốc chuyển giao công
nghệ lạc hậu vào Việt Nam bằng việc vận chuyển các máy móc đã lỗi thời hoặc đã quá
hạn sử dụng, sau một thời gian bỏ không vì không còn sử dụng được.
Ví dụ: Nhà máy Thủy Tinh Hà Nội, trước đây cũng mua dây chuyền về sản xuất
thủy tinh pha lê, mua lò về sản xuất phôi. Tuy nhiên, mua thiết bị mà không mua công
SVTH: Đinh Thị Hiểu

dụng cơ hội kinh doanh, một khi cơ hội kinh doanh đến thì họ như hổ thêm cánh, càng
hùng mạnh, càng bay xa hơn, họ sẽ giành được thành công cao hơn. Còn các doanh
nghiệp Việt Nam hầu hết là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chẳng những quy mô nhỏ mà
SVTH: Đinh Thị Hiểu
16
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
cũng không đủ nguồn lực tài chính để cạnh tranh với các công ty đa quốc gia. Chính vì
vậy, chúng ta cần tìm giải pháp để các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh
của các công ty đa quốc gia. Một số giải pháp như sau:
•Tiếp tục cải tiến: tức là dựa trên những cái củ, cái đã có sẵn để tiếp tục cải tiến.
Phương pháp này không có quá tốn kém nhưng phù hợp với người phương đông. Bởi
chúng ta không có đủ nguồn lực về tài chính để đầu tư phát triển công nghệ, mở rộng
quy mô sản xuất. Chính vì thế, sử dụng phương pháp này sẽ giúp cho các doanh
nghiệp có thể cạnh tranh với các thế lực hùng mạnh của các công ty đa quốc gia.
Đây là quan điểm của người Nhật. Quan điểm cải tiến của người Nhật rất đáng
để học hỏi đó là: “Làm tốt nhất những điều nhỏ” và trở thành “Người đứng đầu trong
thị trường nhỏ” thay vì các điều lớn lao khác.
Như chúng ta đã thấy thị trường bột giặt rất sôi động với đủ chủng loại khác
nhau. Với uy tín và thương hiệu của mình trên thị trường thì các công ty đa quốc gia
như unilever hay p&g đều chiếm lĩnh thị trường bột giặt Việt Nam, mỗi khi người ta
nhắc đến bột giặt là người ta nghĩ ngay đến omo. Tuy nhiên, mặc dù lép vế về mặt
thương hiệu nhưng công ty TNHH VICO luôn luôn thực hiện cải tiến công nghệ nên
đã tạo được chỗ đứng trên thị trường dành cho khách hàng bình dân với những sản
phẩm đủ chủng loại với giá cả phải chăng, là doanh nghiệp chuyên sản xuất, kinh
doanh chất tẩy rửa và hoá mỹ phẩm, nước uống tinh lọc và xuất nhập khẩu hoá chất
chuyên ngành. Sản phẩm của VICO chiếm 20-25% thị trường của Việt Nam không kể
hàng xuất khẩu.Phân khúc thị trường cho nguời nghèo là chính (85%), phân khúc thị
trường cho tầng lớp thượng lưu (15%).Liên tục hoàn chỉnh công nghệ sản xuất, cải
tiến bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động để : "Đảm bảo chất lượng - thoả mãn khách
hàng "Với định hướng trên VICO tin tưởng sẽ đạt được mục tiêu đề ra.

Hiện Ford Việt Nam đã có một đội ngũ đông đảo nhưng người tham gia làm các
dự án 6-Sigma, bao gồm 2 chuyên gia cao cấp (Master Black Belt), 8 chuyên gia chính
(Black Belt), và 300 nhân viên công ty được đào tạo trở thành các thành viên (Green
Belt, Yellow Belt) tham gia vào các dự án 6-Sigma.
Ông Lê Tấn Đức, Trưởng phòng Chất lượng và hài lòng khách hàng, kiêm
Trưởng phòng Triển khai 6-Sigma của Ford Việt Nam chia sẻ: “Để triển khai thành
công 6-Sigma, điều quan trọng nhất là phải có được sự cam kết cao từ ban lãnh đạo
công ty và công tác đào tạo nâng cao nhận thức của từng thành viên trong công ty về
việc ứng dụng 6-Sigma”.
SVTH: Đinh Thị Hiểu
18
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
Toyota, tập đoàn hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất ô tô trên thế giới. Cho đến nay,
Toyota đã và đang chứng tỏ bản lĩnh của mình trong việc chinh phục đỉnh cao công
nghệ của nhân loại. Đây cũng chính là tiền đề đem lại sự phát triển vượt bậc thông qua
cắt giảm lãng phí, nâng cao hiệu quả sản xuất cũng như phát huy tối đa nguồn nhân lực
trong doanh nghiệp Nhật Bản. Từ triết lý sản xuất kiểu Toyota, nhiều công ty vừa và
nhỏ tại Nhật bản đã áp dụng thành công TPS, đem lại hiệu quả thiết thực như giảm hao
phí trong sản xuất, giảm thiểu sai lỗi trong quá trình, gia tăng giá trị và có lợi nhuận cao
hơn. Như chúng ta thấy, hiện nay việc quản lý nguyên liệu đầu vào của các doanh
nghiệp của chúng ta chưa hữu ích bởi còn lãng phí rất nhiều, nên tốn kém trong việc
mua nguyên liệu đầu vào làm tăng chi phí sản xuất làm giảm lợi nhuận của doanh
nghiệp. Matwtj khác, những lỗi trong sản xuất làm ảnh hưởng đến uy tín thương hiệu
của công ty. Đồng thời là nguyên nhân sụt giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. bài học từ
Toyota đã cho chúng ta thấy. Có thời gian, Toyota sản xuất ra các oto bị lỗi và bị khách
hàng phản ánh dự dội. Khi phát hiện ra lỗi, hãng buộc phải thu hồi lại tất cả các xe sản
xuất thời kì đó và phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng. Điều này gây thiệt hại trầm
trọng cho hãng. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, họ có nguồn lực bị hạn chế nên
quá trình sản xuất gặp lỗi gây lãng phí thì doanh nghiệp Việt Nam không thể có thể
đứng vững và gây dựng lại từ đầu như các công ty lớn của nước ngoài.

hồn của công ty. Bởi con người là những người lập ra mục tiêu và thực hiện mục tiêu
đó. Công ty phải có chính sách thu hút nguồn lực, đào tạo bài bản để họ thích ứng
ngày càng cao đối với sự thay đổi của công nghệ thông tin, của môi trường biến động.
Giả sử như ở Đà Nẵng khi người ta muốn mua máy tính người ta sẽ nghĩ ngay tới Phi
Long Bởi phong cách làm việc chuyên nghiệp thân thiện của nhân viên đối với khách
hàng và chế độ bảo hành tốt mặc dù giá cả ở Phi Long đắt đỏ hơn những nơi khác.
Như khi ta mua một cái máy tính ở Phi Long thì cái máy đó luôn đắt hơn nơi khác
khoảng 1 triệu đồng. Mặc dù người ta biết vậy nhưng người ta vẫn chấp nhận vì niềm
tin vào uy tín chất lượng bấy lâu của Phi Long.
•Nâng cao năng lực của người quản lý: Họ là những người có tầm nhìn xa trông
rộng, vạch ra đường đi cho doanh nghiệp, là người quyết định sự thành bại của một
doanh nghiệp., chỉ cần họ phạm sai lầm dù là nhỏ cũng làm cho doanh nghiệp đi chệch
hướng. Chính vì vậy, chúng ta cần phải quan tâm tới việc không ngừng nâng cao đào
tạo nâng cao năng lực của người quản lý. Một nhà quản trị giỏi phải tập trung đầy đủ
các yếu tố:
 Trí tuệ( phải có kiến thức sâu rộng): Là một lãnh đạo không thể không có kiến
thức chuyên môn. Ngoài những kiến thức nền tảng, người lãnh đạo cần có kiến thức
SVTH: Đinh Thị Hiểu
20
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
chuyên môn, dành thời gian để đầu tư và đi sâu hơn vào chuyên môn của mình, biết
học hỏi và tự tin để trở thành một lãnh đạo giỏi. Điều đó sẽ góp phần quan trọng giúp
các nhà lãnh đạo đạt tới đỉnh cao và men say của sự thành công thay vì chỉ ngồi và mơ
màng một điều gì đó tốt đẹp sẽ đến với mình. Bên cạnh đó còn phải có các kiến thức
khác như: tâm lý học, xã hội học, thiên văn…
 Bản lĩnh, quyết đoán: Người lãnh đạo giỏi luôn biết đánh giá vấn đề, phân
tích, phán đoán và đưa ra quyết định. Đánh giá rủi ro, thuận lợi và lựa chọn cách giải
quyết hợp lý nhất có thể cho mọi việc thay vì trông chờ vào quyết định của người
khác. Sự quyết định của chính bản thân người lãnh đạo mới là quan trọng nhất.
 Quan hệ_ giao tiếp: Giúp cho nhà quản trị tạo dựng mối quan hệ, để từ đó có

hoá các hình thức đào tạo nghề theo chủ trương xã hội hoá giáo dục đào tạo.
 Đơn giản hoá những quy định về thủ tục và điều kiện tham gia kinh doanh dịch
vụ giáo dục, đào tạo để đẩy nhanh một bước chất lượng của công tác đào tạo nghề và
kiến thức kinh doanh vốn đang còn nhiều hạn chế trong các doanh nghiệp Việt Nam.
 Đẩy nhanh quá trình ra quyết định chính sách, thông qua cơ chế tăng cường
mối liên hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như giữa các bộ, ngành với nhau.
 Các cơ quan quản lý nhà nước cần tăng cường áp dụng quy trình quản lý chất
lượng công việc và chất lượng cung cấp dịch vụ công, nhằm thường xuyên giám sát,
quản lý hiệu quả chất lượng các thủ tục hành chính cũng như dịch vụ công (ISO 9002,
quy chế cơ quan…). Bên cạnh đó, các hiệp hội ngành hàng cần nhanh chóng kiện toàn
bộ máy tổ chức, mô hình hoạt động theo hướng chuyên nghiệp hoá, thực hiện tốt vai
trò là người hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, nguồn nguyên liệu, giúp liên kết
các doanh nghiệp với nhau nhằm mở rộng năng lực sản xuất; là đại diện sở hữu để
phản ánh nhu cầu, yêu cầu của doanh nghiệp tới Chính phủ; cần tổ chức thu thập, phân
tích xử lý thông tin về thị trường, về yêu cầu của nhà nhập khẩu, về chính sách nhập
khẩu, về đối thủ cạnh tranh để tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp trong khâu tiếp cận thị
trường, tổ chức sản xuất và xuất khẩu.
SVTH: Đinh Thị Hiểu
22
Chuyên đề tổng hợp GVHD: PGS. TS Nguyễn Khắc Hoàn
KẾT LUẬN
Sự hình thành và phát triển của các công ty đa quốc gia là một tất yếu khách
quan trong xu thế phát triển kinh tế toàn cầu. Việc nghiên cứu vai trò và ảnh hưởng
của các công ty đa quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của nền kinh tế thế giới:
thúc đẩy thương mại, đầu tư, phát triển và chuyển giao công nghệ, phân công lao động
…trên phạm vi toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của chúng góp phần thúc đẩy phát
triển kinh tế của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Đối với Việt Nam, sự thâm nhập của các công ty có vai trò đặc biệt quan trọng.
Sự có mặt của các công ty đa quốc gia không chỉ là nguồn cung cấp vốn mà cả công
nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại…Hơn nữa, với khối lượng công việc mà các công ty

MỞ ĐẦU 1
SVTH: Đinh Thị Hiểu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status