BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
TRẦN VIỆT ANH
TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
CỦA ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ
TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành : KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. VŨ SỸ TUẤN
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐỘI TÀU
BUÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 38
2.1. KHÁI QUÁT 38
2.1.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN 38 2
2.1.2. CƠ CẤU VÀ TÌNH TRẠNG KỸ THUẬT CỦA ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT
NAM HIỆN NAY 39
2.1.3. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA ĐỘI TÀU
BUÔN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 48
2.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA ĐỘI TÀU
BUÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ 52 2.2.2. ĐÁNH GIÁ NHỮNG THUẬN LỢI CỦA ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT
NAM 52
2.2.3. NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT NAM 54
2.3. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN GÂY TÌNH TRẠNG TỤT HẬU
CỦA ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT NAM SO VỚI KHU VỰC VÀ THẾ GIỚI . 59
2.3.2. NGUYÊN NHÂN CỤ THỂ 59
CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ 68
3.1. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT NAM68
3.1.1. DỰ BÁO NHU CẦU VẬN TẢI BIỂN VÀ THỊ TRƢỜNG VẬN
TẢI 68
3.1.2. ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI TÀU BUÔN VIỆT NAM
ĐẾN NĂM 2020 68
mọi hoạt động đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi
trƣờng, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển và tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp nói
riêng, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi
Nhà nƣớc bảo đảm sự bình đẳng trƣớc pháp luật của chủ thể thuộc mọi thành
phần kinh tế.
Ở Việt Nam, việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng bắt đầu từ
năm 1986. Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi chính sách kinh tế nhiều
thành phần đi vào cuộc sống, tƣ tƣởng cạnh tranh giữa các đơn vị, giữa các
thành phần kinh tế đƣợc thừa nhận thì một số doanh nghiệp và ngành hàng
của Việt Nam đã từng bƣớc giành đƣợc thị trƣờng trong nƣớc và từng bƣớc
vƣơn ra cạnh tranh đƣợc trên thị trƣờng nƣớc ngoài. Tuy nhiên, sức cạnh
tranh của phần lớn các doanh nghiệp và ngành hàng của Việt Nam còn yếu
kém cả về chất lƣợng, mẫu mã và giá cả; tốc độ hội nhập của Việt nam còn ở
mức trung bình. Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam qua các năm
còn thấp, năm 2000 xếp thứ 65/80, năm 2003 xếp thứ 60/102, năm 2004 xếp
thứ 77/102 nƣớc so sánh. Chính vì vậy, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc
tế và khu vực”, “phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành và các doanh
nghiệp; nâng cap năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh
tế”.
5
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trƣớc bối cảnh đó, ngành hàng hải Việt Nam nói chung và đội tàu buôn
Việt Nam nói riêng đứng trƣớc sức ép cạnh tranh rất lớn từ các nƣớc trong
khu vực và trên thế giới. Với năng lực còn yếu, kinh nghiệm kinh doanh non
để đúc kết kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp vi mô từ góc độ doanh nghiệp và kiến nghị vĩ
mô từ cấp quản lý nhà nƣớc để tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của đội
tàu buôn Việt Nam
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Từ mục đích cụ thể nêu tại mục 3, đề tài sẽ đề cập tới các vấn đề sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh nói
chung và của đội tàu buôn nói riêng trong điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế.
- Nghiên cứu thực trạng đội tàu buôn Việt Nam. Từ đó phân tích các
nguyên nhân tụt hậu của đội tàu buôn Việt Nam.
- Nghiên cứu kinh nghiệm tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của một số
nƣớc trong khu vực từ đó đƣa ra một số giải pháp vĩ mô từ phía nhà
nƣớc và vi mô từ phía doanh nghiệp nhằm tăng cƣờng năng lực cạnh
tranh cho đội tàu buôn Việt Nam.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là Tăng cường năng lực cạnh tranh
của đội tàu buôn Việt Nam mà thực chất là tăng cƣờng năng lực cạnh tranh
của đội tàu buôn tại các cơ quan quản lý lớn về vận tải biển Việt Nam nhƣ
Tổng Công ty hàng hải Việt Nam, Tổng Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt
Nam. Đội tàu buôn của các chủ tàu khác chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu đội
tàu buôn Việt Nam và chỉ đóng góp một phần nhỏ trong năng lực vận tải của
đội tàu buôn nƣớc nhà. Trong khuôn khổ luận văn này, sẽ không đi sâu phân
tích các biện pháp riêng nhằm tăng cƣờng năng lực cạnh tranh của đội tàu
thuộc các đối tƣợng này. 7
Phạm vi nghiên cứu của đề tài nằm trong lĩnh vực kinh tế thế giới và
quan hệ kinh tế quốc tế. Đƣa ra các so sánh giữa đội tàu buôn Việt Nam và
Cạnh tranh là một hiện tƣợng kinh tế xã hội phức tạp, do cách tiếp cận
khác nhau, nên có các quan điểm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm vi
của thuật ngữ này. Có thể dẫn ra nhƣ sau:
Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà tƣ bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu
thụ hàng hóa để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch” [7].
Cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự
ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm giành
cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía
mình” [1].
Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động nganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các
thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi
quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có
lợi nhất” [22]. 9
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế OECD đã định nghĩa về cạnh tranh nhƣ sau: "Cạnh tranh là
khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra
việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế" [5].
Trong cuốn Kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình
địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị
trƣờng” [14].
Theo tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: ”Cạnh tranh có thể đƣợc
hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố
sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng, để
đạt đƣợc mục tiêu kinh doanh cụ thể” [24].
Cạnh tranh đƣợc chia làm nhiều loại với các tiêu thức khác nhau:
- Dƣới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trƣờng, có cạnh tranh
giữa những ngƣời sản xuất (ngƣời bán) với nhau, giữa những ngƣời mua và
ngƣời bán, ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng, và giữa những ngƣời mua với
nhau. Ở đây cạnh tranh xoay quanh vấn đề: chất lƣợng hàng hóa, giá cả và
điều kiện dịch vụ.
- Xét theo quy mô của cạnh tranh có: cạnh tranh của sản phẩm, cạnh
tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của quốc gia.
- Xét theo tính chất của phƣơng thức cạnh tranh có: Cạnh tranh hợp
pháp hay cạnh tranh lành mạnh (biện pháp cạnh tranh phù hợp với luật pháp,
tập quán, đạo đức kinh doanh) và cạnh tranh bất hợp pháp hay cạnh tranh
không lành mạnh (biện pháp cạnh tranh bằng những thủ đoạn chứ không phải
vƣơn lên bằng nỗ lực của chính mình).
- Xét theo hình thái của cạnh tranh có: cạnh tranh hoàn hảo hay thuần
túy - đây là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hóa là 11
không thay đổi trong toàn bộ thị trƣờng, bởi vì ngƣời mua, ngƣời bán đều biết
tƣờng tận về các điều kiện của thị trƣờng; và cạnh tranh không hoàn hảo - đây
là hình thức cạnh tranh chiếm ƣu thế trong các ngành sản xuất mà ở đó ngƣời
bán hàng hoặc sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối đƣợc giá cả
sản phẩm của mình trên thị trƣờng.
- Dƣới góc độ các công đoạn của sản xuất – kinh doanh, ngƣời ta cho
rằng có ba loại: cạnh tranh trƣớc khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và
sau khi bán hàng. Cạnh tranh này đƣợc thực hiện bằng phƣơng thức thanh
toán và dịch vụ.
- Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh
tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Cạnh tranh trong nội
bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ
của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì đƣợc mức tăng trƣởng cao trên cơ sở
các chính sách, thể chế vững bền tƣơng đối và các đặc trƣng kinh tế khác [24].
Sức cạnh tranh của quốc gia đƣợc xác định bởi các nhóm nhân tố: Mức độ mở
cửa của nền kinh tế, bao gồm mở cửa thƣơng mại và đầu tƣ (thuế quan và
hàng rào phi thuế quan, chính sách xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, đầu tƣ trực
tiếp nƣớc ngoài); vai trò của Chính phủ (mức độ can thiệp của Nhà nƣớc,
năng lực của Chính phủ, quy mô của Chính phủ, chính sách tài khóa, hệ thống
thuế, lạm phát); Tài chính (tỷ lệ tín dụng, rủi ro tài chính, đầu tƣ, tiết kiệm);
Công nghệ (năng lực công nghệ nội sinh, công nghệ chuyển giao, mức độ đầu
tƣ cho nghiên cứu và triển khai); Cơ sở hạ tầng (chất lƣợng hệ thống giao
thông vận tải, mạng viễn thông, điện, nƣớc, kho tàng và các phƣơng tiện vật
chất); Quản lý kinh doanh, quản lý nhân lực; Lao động (số lƣợng lao động,
hiệu quả và tính linh hoạt của thị trƣờng lao động);Thể chế (chất lƣợng của
các thể chế pháp lý) Khái niệm này cho thấy sức cạnh tranh của quốc gia 13
đƣợc xác định trƣớc hết bằng mức độ tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân,
và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố quy định khả năng tăng trƣởng kinh
tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã thực hiện. Tuy nhiên, khái niệm này
lại không bao hàm đƣợc tất cả các khía cạnh về giá trị gia tăng, chẳng hạn sự
tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ những vấn đề đƣợc coi là quan
trọng đối với tiềm năng tăng trƣởng dài hạn của một quốc gia. Đồng thời, nó
cũng không phản ánh đƣợc nguyên nhân tạo ra sức cạnh tranh và kết quả của
cạnh tranh.
Một số nhà kinh tế khác lại đƣa ra khái niệm sức cạnh tranh của quốc
gia dựa trên năng suất lao động. M. Porter cho rằng: “Khái niệm có ý nghĩa
nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động”. Mở rộng
khái niệm này thì sức cnạh tranh của quốc gia gần hơn với lý thuyết về lợi thế
so sánh. Ngay trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ricacdo, một quốc gia có
đƣợc hiểu là tích hợp khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị
phần, lợi nhuận và định vị những ƣu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó trong
mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trƣờng
mục tiêu xác định“ [12].
Tuy tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về sức cạnh tranh của doanh
nghiệp, song tựu chung lại khi tiếp cận sức cạnh tranh doanh nghiệp, cần chú
ý tới 4 vấn đề cơ bản:
Một là, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, phải lấy yêu cầu của khách
hàng là chuẩn mực đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Bởi lẽ, yêu cầu
của khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sản xuất, kinh doanh.
Cùng một loại sản phẩm các nhóm khách hàng khác nhau có những nhu cầu
rất khác nhau.
Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng
phải là thực lực của doanh nghiệp. Thực lực này chủ yếu đƣợc tạo thành từ 15
những yếu tố nội tại của doanh nghiệp và đƣợc thể hiện ở uy tín của doanh
nghiệp.
Ba là, khi nói đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh
với doanh nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị
trƣờng. Muốn tạo nên sức cạnh tranh thực thụ, thực lực của doanh nghiệp
phải tạo nên lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Chính nhờ lợi thế này
doanh nghiệp có thể giữ đƣợc khách hàng của mình và lôi kéo khách hàng của
các đối thủ cạnh tranh.
Bốn là, các biểu hiện sức cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng
buộc nhau. Một doanh nghiệp có sức cạnh tranh khi nó có khả năng thỏa mãn
đầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng. Song khó có doanh nghiệp
nào có đƣợc điều này, thƣờng thì có lợi thế về mặt này lại có yếu thế về mặt
khác.
một yếu tố quan trọng, vì trong cùng một môi trƣờng kinh doanh có doanh
nghiệp rất thành công trong khi doanh nghiệp khác lại thất bại. Năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
đƣợc đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến
lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp, là tế bào của nền kinh tế, sức cạnh tranh
của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua
năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm và dịch vụ có năng
lực cạnh tranh.
Nhƣ vậy, có thể khẳng định, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp, của sản phẩm vừa là bộ phận cấu thành, vừa là một trong những mục
tiêu của nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. 17
1.1.1. Tàu buôn - Kinh doanh khai thác tàu buôn: Khái niệm, đặc điểm,
phân loại và nội dung nghiên cứu
Theo Viện Kinh tế Hàng hải và Logistics, Bremen thì tàu buôn
(Merchant Ship) là những tàu chở hàng và chở khách vì mục đích thương mại
[21]. Nhƣ vậy, tàu buôn chỉ bao gồm các tàu chở hàng và chở khách vì mục
đích kiếm lời. Trong khuôn khổ của kinh tế quốc tế, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu và phân tích nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tàu buôn chở
hàng mà thôi.
Theo quan điểm hiện nay, vận tải nói chung, vận tải biển nói riêng là
một loại hình dịch vụ, là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Bao gồm: Kinh
doanh khai thác tàu, kinh doanh khai thác cảng và kinh doanh dịch vụ hàng
hải. Kinh doanh khai thác tàu buôn là việc một quốc gia có biển hay không có
biển xây dựng đội tàu buôn thuộc các loại hình sở hữu khác nhau để tiến
hành vận chuyển hàng hóa cho quốc gia mình hay đi chở thuê cho nước ngoài
năng lực kinh doanh và khai thác tàu biển Việt Nam.
1.1.2. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của đội tàu buôn
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, toàn cầu hóa mà trƣớc hết và về thực chất là toàn cầu hóa
kinh tế đang trở thành một xu thế khách quan của sự phát triển kinh tế thế
giới, đó là quá trình phát triển kinh tế của các nƣớc trên thế giới vƣợt qua khỏi
biên giới quốc gia, hƣớng tới phạm vi thoàn cầu trên cơ sở lực lƣợng sản xuất
cũng nhƣ trình độ khoa học kỹ thuật phát triên mạnh mẽ và sự phân công hợp
tác quốc tế ngày càng sâu rộng, tính xã hội hóa của sản xuất ngày càng tăng.
Toàn cầu hóa tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng đƣợc lợi thế so sánh
của mình, tăng trƣởng và làm ổn định kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế có tác 19
động to lơn đối với sự phát triển kinh tế nói chung của mỗi quốc gia, thể hiện
trên một số mặt sau:
- Hội nhập kinh tế quốc tế đó là sự đan xen, gắn bó và phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và nền kinh tế thế giới. Nó là quá
trình vừa hợp tác để phát triển, vừa đấu tranh rất phức tạp, đặc biệt là
đấu tranh của các nƣớc phát triển để bảo vệ lợi ích của mình, vì một trật
tự công bằng, chống lại những áp đặt phi lý của các cƣờng quốc kinh tế
và các công ty xuyên quốc gia;
- Hội nhập kinh tế là quá trình xóa bỏ từng bƣớc và từng phần các rào
cản về thƣơng mại và đầu tƣ giữa các quốc gia theo hƣớng tự do hóa
kinh tế;
- Hội nhập kinh tế quốc tế một mặt tạo điều kiện thuận lợi mới cho
doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh, mặt khác buộc các doanh
nghiệp phải có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thƣơng
trƣờng;
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi cho việc thực hiện các công cuộc
phƣơng thức cho thuê định hạn một phần hoặc toàn bộ đội tàu của mình để
tránh rủi ro do giá dầu tăng. Đó là chƣa kể tới các chủ tàu phải đối mặt với
tình trạng cƣớp biển có vũ trang và bắt cóc sỹ quan, thuyền viên các tàu để
tống tiền trên toàn cầu. Đến nay các vụ cƣớp biển tuy có xu hƣớng giảm về số
vụ nhƣng lại tăng lên về mức độ nghiêm trọng. Đặc biệt nhiều vụ cƣớp biển
và bắt cóc sỹ quan, thuyền viên để tống tiền xảy ra gần đây ở khu vực eo biển
Malacca đã làm cho các chủ tàu, các nhà khai thác tàu biển trong khu vực
quan tâm và hết sức lo ngại, thậm chí họ đã đề nghị đƣa một số vùng biển
thuộc eo Malacca, Philippine, Indonesia vào danh sách vùng có rủi ro cao để
tăng phí bảo hiểm đối với chủ tàu 21
Đối với các chủ tàu Việt Nam ngoài những thách thức nêu trên còn
phải đối mặt với nhiều thách thức phát sinh từ thực tế nền kinh tế Việt Nam.
Những khó khăn do đội ngũ sỹ quan, thuyền viên vừa thiếu lại vừa yếu cả về
chuyên môn và ngoại ngữ, sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ tàu trong nƣớc
với nhau và giữa các chủ tàu trong nƣớc với các chủ tàu nƣớc ngoài. Đội tàu
biển Việt Nam đang thực hiện lộ trình mở cửa hội nhập với nền kinh tế thế
giới và khu vực của nƣớc ta trong đó có lộ trình cạnh tranh và hội nhập trong
ngành hàng hải ASEAN để đến năm 2015 thị trƣờng hàng hải ASEAN trở
thành thị trƣờng tự do, bình đẳng cho mọi chủ thể kinh doanh, khai thác hàng
hải. Các chủ tàu Việt Nam phải chịu những thách thức do trình độ quản lý còn
yếu kém; do thiếu vốn để đầu tƣ đổi mới đội tàu đặc biệt là đầu tƣ để phát
triển đội tàu chuyên dụng cỡ lớn, hiện đại; do tình trạng manh mún, kỹ thuật
lạc hậu của đội tàu Việt Nam. Theo số liệu của Cục Đăng kiểm Việt Nam, số
lƣợng và tỷ lệ tàu biển treo cờ Việt Nam bị lƣu giữ ở nƣớc ngoài trong năm
2003 và 2004 do vi phạm các qui định về an toàn và bảo vệ môi trƣờng đang
phát triển ở mức báo động. Hiện nay Việt Nam đang nằm trong danh sách đen
của Tổ chức Hợp tác kiểm tra Nhà nƣớc tại các cảng biển khu vực Châu Á -
thác tàu biển, có thể tổng hợp các khả năng tạo ra thế không ngừng vƣợt trội
trong tiến trình cạnh tranh của đội tàu buôn là: Lợi thế so sánh; Năng suất
khai thác; Quy định pháp luật; Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp;
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.1. Lợi thế so sánh
Những điều kiện cần thiết cho sự phát triển đội tàu buôn có thể kể
đến là điều kiện địa lý và tự nhiên; các yếu tố sản xuất nhƣ lao động, đất đai,
tài nguyên, vốn của mỗi quốc gia trên thế giới là khác nhau. Quốc gia nào có
đƣợc lợi thế so sánh trong việc phát triển đội tàu buôn sẽ có điều kiện phát
triển tốt hơn đối với ngành này. Việt Nam có điều kiện vị trí địa lý thuận lợi 23
để phát triển đội tàu buôn. Với hơn 3.000km bờ biển và nhiều cảng nƣớc sâu,
nằm ở trung tâm trung chuyển của khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng phát
triển năng động nhất trong một vài năm gần đây, Việt Nam có điều kiện phát
triển công nghiệp đóng tàu, khai thác tàu biển ở cả ba miền của đất nƣớc. Mặt
khác chúng ta lại có nguồn lao động dồi dào, đƣợc đào tạo qua các trƣờng lớp
nghiệp vụ hàng hải. Tuy nhiên chúng ta còn thiếu vốn để đầu tƣ cho đội tàu,
khấu hao đội tàu hiện tại chƣa đủ để đầu tƣ mới đội tàu, dẫn đến tình trạng kỹ
thuật của đội tàu ngày càng tụt hậu so với khu vực và thế giới nếu chúng ta
không có hƣớng phát triển đúng đắn.
1.2.1.2. Năng suất khai thác
Năng suất là chỉ tiêu quyết định sự tăng trƣởng kinh tế của một quốc
gia hay của một ngành sản xuất. Năng suất đƣợc đo bằng khối lƣợng hàng
hóa, dịch vụ sản xuất ra trên một đơn vị lao động, vốn và nguồn lực vật chất
của ngành. Năng suất là yếu tố quyết định sức mạnh cạnh tranh của đội tàu
buôn. Năng suất của đội tàu buôn có thể đƣợc tính cho ngƣời lao động trong
ngành, nhƣng quan trọng hơn là năng xuất tính cho phƣơng tiện kỹ thuật tham
gia vào quá trình sản xuất. Đối với đội tàu buôn, năng suất chính là tần suất sử
hành những biện pháp nhằm thiết lập củng cố và duy trì những cuộc trao đổi
có lợi với những khách hàng mục tiêu đã đƣợc lựa chọn để đạt đƣợc những
nhiệm vụ xác định của doanh nghiệp nhƣ thu lợi nhuận, tăng khối lƣợng hàng
tiêu thụ, mở rộng thị trƣờng
1.2.1.5. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp
Môi trƣờng kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc hiểu là tập hợp
những chủ thể nhất định, những lực lƣợng hoạt động ở bên ngoài doanh
nghiệp và có ảnh hƣởng đến khả năng chỉ đạo của công ty, thiết lập và duy trì
mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với các khách hàng mục tiêu.
Môi trƣờng kinh doanh bao gồm: