Phát triển bảo lãnh ngân hàng đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu tại ngân hàng công thương Việt Nam - Pdf 13

TRƯờNG ĐạI HọC NGOạI THƯƠNG
Khoa kinh tế THế GiớI Và QUAN Hệ KINH Tế QuốC Tế


LUậN VĂN THạC Sỹ
Đề tài
:
PHT TRIN BO LNH NGN HNG I VI HOT
NG KINH DOANH XUT NHP KHU TI NGN
HNG CễNG THNG VIT NAM
Giáo viên hớng dẫn :
TS. HONG VIT TRUNG
Sinh viên thực hiện : TNG HI YN
Lớp : Cao học 12
2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của NHCTVN. 342.1.3. Các dịch vụ đối với hoạt động XNK của NHCTVN. 36
2.2. Thực trạng hoạt động bảo lãnh của NHCTVN trong
lĩnh vực XNK. 39
2.2.1.Quy trình nghiệp vụ bảo lãnh của NHCTVN. 39
2.2.2. Hoạt động bảo lãnh của NHCTVN trong lĩnh vực XNK từ năm 2005-2007. 40
2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động bảo lãnh XNK của
NHCTVN. 49
2.3.1. Những kết quả đạt đ-ợc 49
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân. 52
Ch-ơng 3: Một số giải pháp phát triển bảo lãnh của
NHCTVN đối với hoạt động XNK 68
3.1. Định h-ớng phát triển bảo lãnh ngân hàng đối với
hoạt động XNK của NHCTVN. 68
3.1.1. Ph-ơng h-ớng phát triển hoạt động kinh doanh đối ngoại của NHCTVN đến
năm 2012. 68
3.1.2. Quan điểm định h-ớng về phát triển bảo lãnh đối với hoạt động XNK của
NHCTVN 69
3.2. Giải pháp đối với NHCTVN. 70
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản, quy chế, quy trình nghiệp vụ bảo lãnh. 70
3.2.2. Soạn thảo, hệ thống hoá và cung cấp các tài liệu chuyên sâu về nghiệp +vụ, các
tài liệu cảnh báo và hạn chế rủi ro đối với bộ phận thanh toán quốc tế. 71
3.2.3. Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý. 75
3.2.4. Xây dựng và thực hiện chiến l-ợc khách hàng. 77
3.2.4.Làm tốt công tác nguồn nhân lực. 78
3.2.5. Tăng c-ờng đầu t- và cải tiến công nghệ ngân hàng. 80
3.2.7. Tăng c-ờng công tác kiểm tra, kiểm soát. 83
3.3 Giải pháp đối với các doanh nghiệp XNK. 83

EEC
: Cộng đồng kinh tế Châu Âu
EU
: Cộng đồng chung Châu Âu
HSBC
: Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải
ICC
: Phòng Thương mại quốc tế
ISP
: Quy tắc thực hành thư tín đụng dự phòng
L/C
: Thư tín dụng
NHCTVN
: Ngân hàng Công thương Việt Nam
NHNN
: Ngân hàng Nhà nước
OECD
: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
SWIFT
: Hiệp hội viễn thông liên ngân hàng toàn cầu
TECHCOMBANK
: Ngân hàng kỹ thương Việt Nam
TF
: Tài trợ thương mại
TSC
: Trụ sở chính
URCB
: Quy tắc thống nhất về bảo chứng
URCG
: Quy tắc thống nhất về bảo lãnh hợp đồng

2.2
Bảo lãnh do NHCTVN phát hành từ năm 2005- 2007
37
2.3
Tỷ trọng phát hành thư bảo lãnh nước ngoài theo thị
trường tại NHCTVN từ 2005-2007
38
2.4
Doanh số phát hành thư bảo lãnh XNK trong nước theo
đối tượng bảo lãnh tại NHCTVN từ 2005-2007
40
2.5
Bảo lãnh nước ngoài do NHCTVN thông báo từ 2005-
2007
43
1

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2006, việc mở rộng cửa thị trường tài
chính ngân hàng sẽ tạo điều kiện để nhiều ngân hàng lớn trên thế giới thiết lập
hoạt động tại Việt Nam cùng hàng loạt các ngân hàng cổ phần, các tổ chức tài
chính phi ngân hàng tại Việt Nam được thành lập. Xu hướng này đặt các ngân
hàng thương mại trước một áp lực cạnh tranh gay gắt hơn. Một trong những biện
pháp cần thiết để các ngân hàng thương mại nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng
cường sức cạnh tranh là đầu tư phát triển các loại hình dịch vụ.
Tại NHCTVN, các dịch vụ cung cấp cho hoạt động XNK như tín dụng XNK,

hạn chế đó.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ bảo lãnh đối với hoạt
động XNK tại NHCTVN.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Bảo lãnh ngân hàng đối với hoạt động XNK
- Phạm vi nghiên cứu: Dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đối với hoạt động
XNK tại NHCTVN
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
để khảo sát thực trạng về dịch vụ bảo lãnh ngân hàng đối với hoạt động XNK tại
NHCTVN.
6. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mục lục, lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm ba chương:
Chương I: Các vấn đề lý luận chung về bảo lãnh ngân hàng
Chương II: Thực trạng bảo lãnh đối với hoạt động xuất nhập khẩu tại
NHCTVN
Chương III: Một số giải pháp phát triển bảo lãnh của NHCTVN đối với hoạt
động kinh doanh XNK.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Việt Trung- người đã tận
tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này. Tôi
xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn 3

động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành tốt luận
văn.
3 (gọi là Người bảo lãnh) cam kết với người có quyền ( gọi là Người nhận bảo 5

lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là Người được bảo
lãnh) nếu khi đến thời hạn mà Người được bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ
hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.
Với định nghĩa như vậy thì bản chất của bảo lãnh là sự cam kết của
Người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ của người được bảo lãnh trong trường hợp
người này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đó. Trong mỗi
giao dịch, bảo lãnh thường bao gồm 3 bên: bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và
bên được bảo lãnh. Người bảo lãnh có thể là các doanh ngiệp, các cá nhân hay
các tổ chức tài chính tín dụng. Hiện nay, do uy tín và khả năng tài chính cũng
như vai trò trong việc cung cấp các dịch vụ cho nền kinh tế, người bảo lãnh chủ
yếu là các tổ chức tín dụng. Bảo lãnh do các tổ chức tín dụng phát hành gọi là
bảo lãnh ngân hàng.
Để điều chỉnh hoạt động bảo lãnh của các tổ chức tín dụng vói khách
hàng, trong quy chế “Bảo lãnh ngân hàng” ban hành kèm theo Quyết định số
26/2006/QĐ- NHNN ngày 26/06/2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam, bảo lãnh ngân hàng được định nghĩa: “ Bảo lãnh ngân hàng là cam kết
bằng văn bản của tổ chức tín dụng (Bên bảo lãnh) với bên có quyền ( Bên nhận
bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được
bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ
chức tín dụng số tiền đã được trả thay.”
1.1.3. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng.
1.1.3.1.Cam kết bảo lãnh là sự thoả thuận của 3 bên.
Theo định nghĩa về bảo lãnh, giao dịch bảo lãnh ngân hàng thưởng bao
gồm 3 bên: người được bảo lãnh, ngân hàng bảo lãnh (ngân hàng phát hành cam

hiện đầy đủ nếu các hợp đồng còn lại không có hiệu lực. Tuy nhiên, quyền và
nghĩa vụ của các bên trong từng hợp đồng lại không ràng buộc hay phụ thuộc
lẫn nhau.
Ngân hàng, người cung cấp dịch vụ và cam kết thanh toán có hai mối
quan hệ với 2 đối tượng khác nhau và phải hành động mang tính độc lập trên cơ
sở quyền và nghĩa vụ của từng hợp đồng: ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện cam 7

kết của mình khi bị người hưởng đòi tiền nếu người hưởng đã thoả mãn đầy đủ
những quy định của cam kết bảo lãnh cho dù người uỷ nhiệm phá sản, mất khả
năng thanh toán hay đang có tranh chấp giữa người được bảo lãnh và người
hưởng. Sau đó ngân hàng có quyền đòi thanh toán từ người được bảo lãnh.
Người được bảo lãnh phải thực hiện nguyên tắc: “ Thanh toán trước,
khiếu kiện sau” tức là họ có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng bảo lãnh (trong
trường hợp bị người hưỏng đòi tiền) và sau đó có quyền khiếu nại người hưởng
nếu bị người hưởng lạm dụng.
Người hưởng có quyền đòi tiền ngân hàng bảo lãnh dựa vào các điều kiện
của bảo lãnh nhưng họ cũng có nghĩa vụ trả lời khiếu nại của đối tác nếu có
tranh chấp phát sinh trong mối quan hệ của hợp đồng cơ sở.
Tính độc lập của bảo lãnh cũng được nêu thành quy tắc trong các điều
luật quốc tế như công ước Uncitral, URDG 458, ISP 98…
Tuy nhiên, mức độ độc lập của bảo lãnh chỉ là tương đối, nó phụ thuộc
vào chính các điều khoản của cam kết bảo lãnh, đặc biệt là điều khoản quy định
các chứng từ mà người hưởng phải xuất trình cho ngân hàng bảo lãnh khi đòi
tiền. Nếu bảo lãnh quy định xuất trình chứng từ của phía thứ 3 như văn bản
chứng thực của cơ quan độc lập về sự vi phạm của người được bảo lãnh, phán
quyết của toà án hay quyết định của trọng tài…thì tính độc lập của bảo lãnh sẽ
giảm đi.

trả phát sinh giữa các đối tác theo hợp đồng cơ sở. Ngân hàng coi việc phát hành
bảo lãnh như một hình thức cấp tín dụng cho người được bảo lãnh và người
được bảo lãnh phải có tài sản thế chấp cho khoản tín dụng này. Điều này tạo ra
sự tin tưởng cao cho người thụ hưởng vào khả năng thanh toán của ngân hàng.
Ngân hàng còn là nơi cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Do vậy, ngân
hàng phải có một bộ máy tổ chức tốt, phù hợp đảm bảo chất lượng dịch vụ về
nhân sự, về kỹ thuật chuyên môn. Quan trọng hơn, các ngân hàng thương mại
luôn phải đề cao uy tín của mình nên khả năng ngân hàng từ chối nghĩa vụ trả nợ
theo bảo lãnh là rất thấp. Đây là ưu thế vượt trội của ngân hàng thương mại so
với các doanh nghiệp. 9

Ngân hàng không phải là người trung gian hoà giải hoặc là người xem xét
giao dịch thực tế của hợp đồng cơ sở. Ngân hàng chỉ làm dịch vụ theo yêu cầu
của 2 phía và thể hiện bằng những cam kết độc lập trong bảo lãnh.
1.1.3.5. Tính tương đối của cam kết vô điều kiện trong bảo lãnh độc lập.
Bảo lãnh ngân hàng thường là bảo lãnh vô điều kiện. Trong thư bảo lãnh,
ngân hàng phát hành cam kết thanh toán vô điều kiện khi nhận được thư đòi tiền
và tuyên bố vi phạm của người hưởng và không thể viện dẫn bất kỳ lý do nào
ngoài nội dung thư bảo lãnh để từ chối thanh toán trừ khi ngân hàng phát hiện
được người hưởng lạm dụng, gian lận hay lừa đảo. Tuy nhiên, cam kết thanh
toán vô điều kiện của ngân hàng chỉ là tương đối.
Trước hết, người hưởng chỉ được thanh toán vô điều kiện với điều kiện
nếu họ thực hiện đúng các điều khoản trong bảo lãnh: xuất trình chứng từ hoàn
hảo, trong thời kỳ hiệu lực của bảo lãnh, số tiền không vượt giá trị bảo lãnh
Nếu không đáp ứng đúng các yêu cầu của thư bảo lãnh thì người hưởng không
thể được thanh toán ngay cả khi thực tế người được bảo lãnh có vi phạm hợp
đồng cơ sở.

có phán quyết của toà án hay quyết định của trọng tài về việc vi phạm của người
được bảo lãnh.
Bảo lãnh này còn được gọi là bảo lãnh dự phòng (accessory guarantee),
bảo lãnh có tính chất bảo hiểm (suretyship guarantee) hoặc bảo chứng (bond).
Việc trả tiền trong bảo lãnh này gắn liền với những điều kiện chứng minh
sự vi phạm của người được bảo lãnh do vậy đảm bảo quyền lợi cho người được
bảo lãnh nhưng phức tạp và chậm trong việc đòi tiền nên người thụ hưởng ít
chấp nhận.
1.1.4.2. Phân loại bảo lãnh theo mối quan hệ giao dịch.
Bảo lãnh trực tiếp.
Bảo lãnh trực tiếp là loại bảo lãnh mà ngân hàng phục vụ người được bảo
lãnh cam kết trực tiếp trả tiền cho người hưởng. Nếu phát sinh thanh toán, người
hưởng lập chứng từ đòi tiền theo quy định và xuất trình cho ngân hàng bảo lãnh.
(Việc thông báo thư bảo lãnh và xuất trình chứng từ đòi tiền có thể thông qua
ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng phục vụ người hưởng- việc thông báo và
làm dịch vụ đòi tiền không ảnh hưởng đến cam kết trực tiếp của ngân hàng bảo 11

lãnh). Thông thường, loại bảo lãnh này chịu sự điều chỉnh bởi luật pháp nước
nơi phát hành. Khi sử dụng bảo lãnh trực tiếp, ngân hàng phát hành dễ gặp rủi ro
do khó kiểm tra tư cách pháp lý của người hưởng cũng như chứng từ đòi tiền.
Người hưởng có thể gặp rủi ro trong việc đòi tiền do không xác định được năng
lực tài chính của ngân hàng bảo lãnh và sự khác biệt về luật pháp mỗi nước.
Bảo lãnh gián tiếp.
Là lọai bảo lãnh mà theo yêu cầu của người được bảo lãnh, ngân hàng
trong nước uỷ nhiệm cho một ngân hàng đại lý ở nước người hưởng phát hành
bảo lãnh với cam kết sẽ hoàn trả số tiền ngân hàng phát hành thanh toán cho
người hưởng.

sau ngày đáo hạn trả nợ/ngày giao hàng cuối cùng một thời gian đủ để người
mua hoặc người cho vay lập thủ tục đòi tiền nếu người đi vay không trả nợ hoặc
người bán không giao hàng.
Theo hợp đồng cơ sở, việc trả nợ hoặc giao hàng có thể được thực hiện
làm nhiều lần, do vậy, giá trị thư bảo lãnh sẽ tự động giảm thiểu tương ứng với
từng lần trả nợ hay từng lần giao hàng và nghĩa vụ của ngân hàng bảo lãnh sẽ kết
thúc khi giá trị của bảo lãnh bằng không.
Theo nhiều quan điểm, có thể phân loại chi tiết bảo lãnh hoàn trả thành
bảo lãnh tín dụng (letter of guarantee for loan) và bảo lãnh tiền ứng trước
(advance payment guarantee). Bảo lãnh tín dụng thường bảo lãnh cho toàn bộ
giá trị hợp đồng tín dụng còn bảo lãnh tiền ứng trước thường bảo lãnh cho số
tiền ứng trước bằng khoảng 5% đến 20% giá trị hợp đồng.
Bảo lãnh thanh toán.
Là cam kết sẽ thanh toán của ngân hàng bảo lãnh với người bán mà người
mua phải trả (tiền thi công công trình, tiền thuê máy móc, tiền bán hàng hoá…)
nếu người mua không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ.
Đối tượng trong bảo lãnh này là các hợp đồng xây dựng, hợp đồng
thương mại. Đặc biệt nó thường được sử dụng khi các tổ chức, doanh nghiệp
phát hành các loại chứng từ có giá như thương phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, trái
phiếu…Sự đảm bảo mua lại của các ngân hàng thương mại có uy tín sẽ khiến
người mua yên tâm và tin tưởng hơn. 13

Ngoài yêu cầu đòi tiền và tuyên bố vi phạm như các bảo lãnh vô điều kiện
khác, bảo lãnh thanh toán thường yêu cầu người hưởng phải xuất trình chứng từ
chứng minh người bán đã giao hàng như hoá đơn thương mại (có hoặc không có
xác thực cuả hải quan) hoặc biên bản nghiệm thu công trình nếu đối tượng bảo
lãnh là hợp đồng xây dựng.

thư bảo lãnh thường bằng 5% đến 10% giá trị hợp đồng và số tiền có thể giảm
thiểu theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh kết thúc khi người được bảo lãnh thực
hiện xong nghĩa vụ của mình trong hợp đồng cơ sở.
Bảo lãnh bảo hành.
Bảo lãnh bảo hành là cam kết của ngân hàng bảo lãnh sẽ thanh toán cho
người thụ hưởng nếu người nhận bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ bảo hành
máy móc thiết bị hoặc công trình đã được quy định trong hợp đồng.
Trị giá thư bảo lãnh thường bằng 5% đến 10% giá trị hợp đồng. Thời hạn
của bảo lãnh thường chấm dứt sau khi nghĩa vụ bảo hành chấm dứt một thời gian
ngắn.
Hình thức bảo lãnh này đòi hỏi người bán phải quan tâm đến chất lượng
hàng hoá đã cung cấp vì họ còn có trách nhiệm trong khoảng thời gian vận hành,
chạy thử máy móc thiết bị, kiểm nghiệm công trình xây lắp. Bảo lãnh này
thường được áp dụng trong hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
1.1.4.4. Các loại bảo lãnh khác.
Thư tín dụng dự phòng.
Theo định nghĩa của ICC, thư tín dụng dự phòng là cam kết của ngân
hàng phát hành đối với người thụ hưởng sẽ thanh toán cho họ một khoản tiền nợ
hoặc ứng trước của người mở L/C hoặc bồi hoàn những thiệt hại do người mở
không thực hiện nghĩa vụ của mình.
Sự hình thành của thư tín dụng dự phòng xuất phát từ việc đạo luật ngân
hàng nội địa của Mỹ ban hành ngày 03/06/1864 không cho phép các ngân hàng
thương mại phát hành bảo lãnh đảm bảo nợ cho người khác. Các ngân hàng Mỹ
phải tìm kiếm các phương tiện tài trợ khác trong đó có loại hình thư tín dụng 15

nhưng mục đích và tính chất giống như bảo lãnh đảm bảo nợ và được gọi là thư


được xuất trình theo L/C. Vì vậy, trong yêu cầu bảo lãnh nhận hàng, người nhập
khẩu cần có cam kết sẽ thanh toán L/C ngay cả khi bộ chứng từ có sai sót.
Bảo lãnh thuế quan.
Là cam kết cuả ngân hàng phát hành với cơ quan thuế vụ sẽ thực hiện
trách nhiệm của người nộp thuế nếu đến hạn mà người nộp thuế không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế. Loại bảo lãnh này được sử dụng
khi doanh nghiệp chưa có tiền nộp hoặc chưa muốn nộp vì khoản thuế đang có
khiếu nại; doanh nghiệp tạm nhập tái xuất không muốn tạm nộp khoản thuế nhập
khẩu.
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ ĐIỀU CHỈNH BẢO LÃNH NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG XNK.
1.2.1. Những quy tắc về bảo lãnh của ICC.
Sự phát triển mạnh của các giao dịch bảo lãnh, đặc biệt là trong thương
mại quốc tế buộc các tổ chức tài chính, thương mại quốc tế nghĩ đến việc hình
thành một hành lang pháp lý cho loại hình đảm bảo này. Trong đó, sự đóng góp
lớn nhất là của phòng thương mại quốc tế (ICC) với việc ban hành các quy tắc:
Quy tắc thống nhất về bảo lãnh thực hiện hợp đồng, Quy tắc thống nhất về bảo
lãnh theo yêu cầu, quy tắc thống nhất về bảo chứng, quy tắc thực hành L/C dự
phòng. Các quy tắc này song song tồn tại và có hiệu lực thi hành với tính chất
pháp lý không bắt buộc. Nó chỉ có hiệu lực khi được dẫn chiếu trong cam kết
bảo lãnh.
1.2.1.1. Quy tắc thống nhất về bảo lãnh thực hiện hợp đồng - URCG
325,1978.
Quy tắc thống nhất về bảo lãnh thực hiện hợp đồng được ICC ban hành
vào năm 1978, số xuất bản 325. Mục đích của quy tắc này là làm giảm bớt các
tranh chấp phát sinh trong hoạt động bảo lãnh bằng việc đưa ra các quy tắc đảm
bảo sự công bằng về quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.
Mặc dù được hy vọng là một chuẩn mực của thực hành bảo lãnh và tạo đà
phát triển cho giao dịch thương mại, tài chính toàn cầu nhưng thực tế URCG lại

nhanh chóng nhận được tiền bồi thường với lợi ích của người được bảo lãnh là
hạn chế việc gian lận trong đòi tiền bảo lãnh. Những mặt tích cực của URDG
được thể hiện ở các điểm sau: 18

1. Sự độc lập của bảo lãnh với hợp đồng cơ sở.
2. Sự độc lập trong mối quan hệ với người thụ hưởng của người được bảo
lãnh và ngân hàng phát hành bảo lãnh.
3. Giao dịch bảo lãnh dựa trên chứng từ. Chứng từ xuất trình thanh toán có
thể chỉ là chứng từ có tính chất thủ tục như yêu cầu đòi tiền, tuyên bố vi
phạm nhưng cũng không loại trừ các chứng từ chứng minh sự vi phạm
hợp đồng của người được bảo lãnh.
4. Việc thanh toán được thực hiện khi chứng từ được xuất trình phù hợp với
yêu cầu của bảo lãnh.
5. Ngân hàng phát hành chỉ có trách nhiệm kiểm tra bề mặt của chứng từ
xuất trình
Ngoài ra, URDG còn đề cập đến các giao dịch của bảo lãnh đối ứng, sự độc
lập của bảo lãnh đối ứng với bảo lãnh chính, quan hệ giữa các bên tham gia bảo
lãnh đối ứng cũng như các nguyên tắc: “ gia hạn hoặc thanh toán” , “luật áp
dụng”… Tuy nhiên, cũng có một số quan điểm cho rằng URDG 458 chưa thực
sự đảm bảo quyền lợi cho người được bảo lãnh, đặc biệt là trong các lĩnh vực
như xây dựng, bảo hiểm và một số ngành công nghiệp khác thì sự vi phạm của
người được bảo lãnh không thể chắc chắn nếu chỉ dựa vào tuyên bố của người
thụ hưởng.
1.2.1.3.Quy tắc thống nhất về bảo chứng - URCB, 1993
Mục đích ra đời của bản quy tắc này là nhằm tạo ra một khung pháp lý
cho những công cụ bảo đảm trong lĩnh vực xây dựng, bảo hiểm và một số ngành
công nghiệp khác. Ra đời vào năm 1993 - sau URDG một thời gian ngắn, URCB

dung cấu trúc của thư tín dụng dự phòng khác với thư tín dụng thương mại do
mục đích của nó là dự phòng khi có vi phạm hoặc người mở thư tín dụng không
có khả năng thanh toán. Vì vậy, ISP cũng khác với UCP về hình thức và cách
tiếp cận do nó phải được chấp nhận không chỉ bởi các ngân hàng, các doanh
nghiệp mà còn có các bên liên quan đến cam kết dự phòng như các nhà quản lý
tài chính, tín dụng, kiểm toán, các cơ quan chức năng và tư pháp của chính
phủ…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status