phân tích điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến sự phát triển của cây cao su huyện hương khê- hà tĩnh - Pdf 13

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cây cao su là một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, khả năng thích ứng
rộng, chống chịu được với điều kiện bất lợi cao,và là cây bảo vệ môi trường nên được
nhiều nước quan tâm phát triển với quy mô và diện tích lớn. Sản phẩm chính của cây
là mủ cao su là nguyên liệu đầu vào quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp đặc biệt
là ngành giao thông vận tải. Bên cạnh đó sản phẩm phụ như hạt cao su còn cho tinh
dầu quý, gỗ cao su làm nguyên liệu giấy, làm hàng mộc phục vụ nhu cầu tiêu dùng và
xuất khẩu, cây cao su còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và môi trường
sinh thái.Từ khi cây cao su được du nhập vào nước ta từ năm 1897,trải qua hơn 100
năm cùng với những điều kiện tự nhiên thuận lơi và chính sách phát triển đúng đắn
cao su đã trở thành cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao và được trồng ở rất nhiều địa
phương trên khắp cả nước.
Hương Khê là một huyện nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hà Tĩnh có lợi thế về
điều kiện tự nhiên, có tiềm năng quỹ đất to lớn cho phép phát triển mạnh cây cao su.
Trong những năm qua theo định hướng phát triển kinh tế của tỉnh, diện tích trồng cao
su trên địa bàn huyện đã phát triển nhanh chóng, góp phần không nhỏ trong việc cải
thiện đời sống của người dân cũng như thay đổi diện mạo nơi đây. Nhưng để có cơ sở
khoa học nhằm quy hoạch, phát triển cây cao su thì việc phân tích, đánh giá các điều
kiện tự nhiên là hết sức cần thiết.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó và mong muốn góp phần vào sự phát triển kinh
tế- xã hội của huyện nhà nên tôi chọn đề tài “Phân tích các điều kiện tự nhiên phục vụ
phát triển cây cao su ở huyện Hương Khê –Hà Tĩnh.Một số ý kiến đề xuất”.
2.Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài.
2.1 Mục tiêu.
- Phân tích các điều kiện tự nhiên của huyện Hương Khê, từ đó sơ bộ đánh giá
mức độ thích nghi của cây cao su với điều kiện tự nhiên ở đây.
- Trên cơ sở khoa học và thực tiễn lựa chọn một số giải pháp và biện pháp nhằm
tối ưu hóa việc quy hoạch và canh tác cây cao su ở địa phương.
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu đặc điểm và nhu cầu sinh thái của cây cao su

5. Quan điểm nghiên cứu
5.1 Quan điểm tổng hợp
Tự nhiên là một địa tổng thể có cấu tạo phức tạp sự trao đổi vật chất và năng
lượng xảy ra liên tục giữa các bộ phận cấu tạo riêng biệt của vỏ địa lý nơi mà các
quyển đá, quyển nước,quyển khí, tiếp xúc nhau và tích cực tác động lẫn nhau. Tất cả
những thành phần cấu tạo của địa tổng thể phát triển như các bộ phận của hệ thống
nhất.Vì thế tính toàn vẹn của từng địa tổng thể lớn hay nhỏ cũng có cùng bản chấ t như
2
tính toàn vẹn của lớp vỏ địa lý. Do đó khi nghiên cứu địa lý tự nhiên của một huyện
còn phải xét đến tính tổng thể của nó trong một thể thống nhất hoàn chỉnh.
5.2 Quan điểm hệ thống
Quan điểm này giúp tôi xem xét đối tượng một cách toàn diện, nhiều mặt, nhiều
mối quan hệ khác nhau. Tìm hiểu các nhân tố tự nhiên cũng dựa trên mô hình hệ thống
gồm nhiều thành phần vì vậy khi nghiên cứu cần đặt nó trong mối quan hệ chặt chẽ
của cả hệ thống.
5.3. Quan điểm sinh thái
Đây là quan điểm có ý nghĩa đặc thù trong nghiên cứu địa lý và ứng dụng ngày
càng nhiều trong nghiên cứu ảnh hưởng của tự nhiên, mối quan hệ tác động qua lại
giữa con người và tự nhiên, đặc biệt là giữa con người với việc sử dụng , khai thác và
tái tạo hệ địa lý tự nhiên.Việc phân tích các điều kiện tự nhiên trên địa bàn huyện
nhằm đề xuất phương hướng sử dụng hợp lý và lâu dài cho nông nghiệp chúng ta cần
phải tính đến tác động của nó đến toàn bộ hệ sinh thái của huyện.
5.4. Quan điểm lịch sử
Một đối tượng nào cũng có quá trình phát sinh và phát triển đó chính là lịch sử
vận động và phát triển của chúng. Từ quan điểm lịch sử có thể xác định được sự phân
hóa của đối tượng như thế nào trong không gian và thời gian.Đồng thời nắm được mối
quan hệ của đối tượng nghiên cứu và trình độ phát triển khoa học ,lực lượng sản xuất
và môi trường xung quanh, là cơ sở để xem xét giải quyết và đưa ra những giải pháp
thích hợp.
6. Phương pháp nghiên cứu

Cây cao su có tên khoa học là Hévéa brasiliensis thuộc họ Euphorbiaceae (Họ
thầu dầu). Cây Hévéa brasiliensis được tìm thấy trong tình trạng hoang dại tại vùng
châu thổ sông Amazone ( Nam Mỹ) trong một vùng rộng lớn bao gồm các nước:
Brazil, Bolivia, Peru, Colombia, Ecuador, Venezuela, …nói chung là ở khu vực vĩ độ
5
0
Bắc và Nam. Cây cao su được phát hiện vào cuối thế kỷ XV nhưng đến cuối thế kỷ
XIX cao su mới thực sự trở thành hàng hóa.
1.1.2 Đặc điểm thực vật và đặc tính sinh học của cây cao su
a. Rễ: Rễ cây cao su bao gồm 3 loại rễ chính là rễ cọc, rễ bàng và rễ tơ.
- Rễ cọc (rễ cái, rễ trụ): Dài từ 3-5 m xuất phát từ rễ mầm, rễ cọc đảm bảo cho cây cắm
sâu vào đất, giúp cây chống đỗ ngã và đồng thời hút nước và muối khoáng từ các lớp đất sâu.
Rễ cọc cây cao su phát triển rất sâu, nhất là khi gặp đất có cấu trúc tốt: sâu trên 10m.
- Rễ bàng ( rễ hấp thụ): Hệ thỗng rễ bàng cao su phát triển rất rộng, phần lớn rễ
bàng cây cao su nằm trên lớp đất mặt cụ thể là:
- 50% ở lớp đất sâu 0- 7,5 cm, đặc biệt ở các loại đất nghèo, kém tơi xốp 70% rễ
tập trung ở chiều sâu này, trong đó:
+ 80- 85% số lượng rễ bàng tập trung ở lớp đất sâu từ 0- 30 cm.
+10- 15% số lượng rễ bàng tập trung ở lớp đất sâu từ 30-40 cm.
- Cây từ 1- 3 tuổi: hệ thống rễ bàng tập trung gần gốc cây, khi cây trên 3 tuổi hệ
thống rễ bàng phát triển vào giữa hàng cây và khi cây được trên 7 tuổi mật độ rễ
bàng tập trung ở giữa hàng cao su nhiều hơn xung quanh gốc cây.
- Trên đất tốt khi cây được 3 tuổi: rễ cọc dài 1,5m, rễ bàng dài 6-9m.
- Khi cây được trên 9 tuổi : rễ cọc dài 2,4m, rễ bàng dài > 9m
Trong các giống cây sinh trưởng mạnh, trọng lượng rễ bàng nhiều hơn trên các
giống cây sinh trưởng yếu.
Hệ thống rễ bàng phát triển theo mùa, tối đa vào thời gian cây ra lá non sau thời
gian cây rụng lá qua đông và ở mức tối thiểu vào giai đoạn lá già trước khi rụng.
- Rễ tơ: Là loại rễ đóng vai trò chủ yếu trong việc hút nước và muối khoáng cho
cây ở tầng đất mặt. Khả năng tái sinh của rễ là rất tốt.

quả già vỏ quả khô có màu nâu nhạt. Vỏ quả được cấu tạo bằng nhiều lớp tế bào trong
đó có 3 lớp ligin cơ học, lúc quả chín các lớp ligin cơ học này vỡ mạnh theo đường
giữa của mỗi ngăn và phóng hạt đi xa có khi đến 15m. Quả cao su vỡ mạnh vào lúc
thời tiết khô hạn .
Hạt cao su hơi dài hình hơi dài hoặc hình bầu dục, có kích thước thay đổi từ 2,5-
3.5 cm dài, trọng lượng hạt 3,5- 6.0 g. Hạt có 2 mặt rõ rệt : mặt bụng thường phẳng,
mặt lưng hạt cong lồi lên. Kích thước, hình dạng, màu sắc của hạt thay đổi nhiều giữa
các giống cây.
6
Cao su là một cây trồng lâu năm vì thế nó thường phải trải qua tất cả những ảnh
hưởng về điều kiện tự nhiên trong nhiều năm, vì thế phải có sự xem xét cẩn thận các
yếu tố nhiên trước khi trồng cây cao su.
Những yêu cầu sinh thái:
1.2 Đặc điểm sinh thái của cây cao su
1.2.1 Yêu cầu về địa hình
a. Độ cao địa hình
Cao su thích hợp với các vùng đất có độ cao tương đối thấp: dưới 500m. Ở độ
cao trên 1000 m cao su thường cho năng suất rất kém. Càng lên cao càng bất lợi do độ
cao của đất có tương quan tới nhiệt độ thấp và gió mạnh.
Độ cao lý tưởng được khuyến cáo để trồng cao su là:
+ Ở vùng xích đạo có thể trồng đến độ cao 500-600m
+ Ở vị trí 5-6
0
bên mỗi vĩ tuyến có thể trồng đến độ cao 400m
b. Độ dốc địa hình
Độ dốc có liên quan đến độ phì của đất. Đất càng dốc, xói mòn càng mạnh khiến
các chất dinh dưỡng trong đất nhất là trong các lớp đất mặt bị mất đi nhanh chóng .
Khi trồng cao su ở các vùng đất dốc cần phải thiết lập hệ thống bảo vệ đất chống xói
mòn rất tốn kém như: đê mương, đường đồng mức… Hơn nữa nếu trồng cao su ở độ
dốc lớn sẽ gây khó khăn trong công tác cạo mủ, thu mủ và vận chuyển mủ về nhà máy

hợp cho việc trồng cao su lâu dài thường quy định ít nhất là 2m.
- Hóa thổ nhưỡng
Cũng như nhiều loại cây trồng khác cây cao su cần các chất khoáng: N, P, K, Ca,
Mn, S và chúng có mặt trong tất cả các bộ phận của cây với thành phần và hàm lượng
khác nhau.
+ Đạm: Đạm cần thiết trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. N có
thể làm tăng chu vi thân (vành), tăng mật độ lá và lá có màu xanh đậm. Đạm là chất
điều tiết dinh dưỡng của các nguyên tố khác như lân và kali. Đạm còn tham gia tích
cực trong việc tổng hợp nên mủ cao su.Tuy nhiên nếu hàm lượng đạm quá nhiều sẽ
làm gỗ kém phát triển, dễ gây đổ ngã, cây đề kháng kém với sâu bệnh. Ngược lại khi
cây thiếu đạm sẽ sinh trưởng kém, tán lá bị thu hẹp, lá có biểu hiện vàng. Hàm lượng
đạm cần thiết trong đất : có từ 0,15-0,25% là loại đất tốt cho việc trồng cao su.
Bảng 1.1: Hàm lượng N, P, K trong mủ nước ở các năng suất khác nhau
Năng suất(kg/ha) 1500 2000 3000
N(kg/ha) 9.5 12.6 18.9
P(kg/ha) 1.9 2.6 3.8
K( kg/ ha) 6.5 8.6 12.9
+ Kali ( K
2
0): Là chất cần thiết trong qúa trình trao đổi chất góp phần quan trọng
trong các phản ứng hóa sinh của tế bào như tổng hợp nên các amino axit, protein, hô
8
hấp, quang hợp và các phản ứng chuyển hóa khác. Cao su có ảnh hưởng đến dòng
chảy mủ. Cây thiếu kali cũng làm giảm chu vi thân, độ cao và số lượng lá. Bón kali
hạn chế được bệnh khô cành, tăng tính chống chịu gió bão, khắc phục được một phần
bệnh khô mặt cạo. Hàm lượng kali trong đất có từ 0,1-0,18% là loại đất tốt cho việc
trồng cao su.
+ Lân( P
2
0

Kon Tum, Pleicu và Phú Bổn (Ayunba). Tính chất chung của đất xám là đất phù sa cổ
tạo thành các thềm đất có độ cao từ 0-100m ở các tỉnh Đông Nam Bộ và có những
thềm cao hơn từ 100-200m tại khu vực Tây Nguyên.
Đó là những loại đất có cấu trúc thô và rời rạc, tương đối nghèo dinh dưỡng vì đã
bị rửa trôi lâu ngày. Độ phì của đất biến thiên rất nhiều tùy thuộc chính yếu vào độ sâu
hay cạn của mức thủy cấp. Có thể chia đất xám thành 2 nhóm chính như sau:
* Nhóm 1: Dày, sâu, bằng phẳng và có mức thủy cấp sâu. Thấy nhiều ở sông
Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn và trong khoảng giữa hai tỉnh Biên Hòa - Thủ Dầu
Một, Kon Tum. Loại đất này rất thuận lợi cho việc trồng cao su.
* Nhóm 2: Mấp mô, lồi lên lỏm xuống, có dạng gò đống, đất cạn, tính chất thay
đổi rất nhiều, nơi thì đất cao khô ráo, nơi thì đất thấp trũng nước. Thường thấy ở hai
bên bờ Sông Bé, khoảng giữa sông Sài Gòn và Đồng Nai khu vực gần tiếp giáp với đất
đỏ, một ít cũng thấy ở Kon Tum.
Trắc diện thường thấy ở đất xám là có các tầng đất không được chuyển hóa rõ
rệt. Ở lớp mặt có màu nâu xám vì có chứa ít mùn, lớp dưới sâu vàng nhạt hoặc xám
nhạt vì đã bị rửa trôi mất đi một phần chất màu mỡ. Ở sâu hơn 4-5m có lớp bồi tích
oxit sắt nhôm tạo thành một lớp laterite mềm, khi bị oxit hóa nó trở nên cứng chắc. Ở
thành phần lớp mặt có đến 80-90% cát, lớp sâu hơn có cấu trúc pha bùn (limon) hoặc
pha sét.
Về đặc tính hóa lý, đất xám có tính acid, độ pH khoảng 4-5, nghèo chất hữu cơ C
% =490,6%, hàm lượng hữu cơ khoảng 1% đất khô. Nhìn chung đất xám thường
nghèo mùn, N, P, K, Mg, Ca Tuy nhiên nó dể cày bừa, xới xáo, nhưng cần phải bón
nhiều phân hữu cơ và vô cơ. Ở đất này lúc qui hoạch trồng cao su nên chú ý đến tầng
laterite (kết von) và mực thủy cấp nông.
- Đất sa phiến thạch (đất đỏ vàng trên đá sét và phiến thạch):
Đất này thường thấy tại các vùng Lam Sơn, Yên Mỹ (Thanh Hoá), 19/5 (Nghệ
An), Việt Trung, Lệ Ninh (Quảng Bình), và Quyết Thắng (Quảng Trị). Đất có thành
phần cơ giới từ trung bình đến nặng, pH từ 4-4,6, N tổng số nghèo (0,04%), K tổng số
trung bình (0,1-0,13), nghèo P và K dễ tiêu.
Ngoài hai loại đất chính kể trên còn có loại đất nâu vàng trên phù sa cổ thấy

0
C.
b. Lượng mưa
Cây cao su có thể trồng ở các vùng đất có lượng mưa từ 1500- 2000mm/ năm.
Tuy vậy đối với những nơi có lượng mưa thấp dưới 1500mm/ năm thì lượng mưa cần
phải được phân bố đều trong năm, đất phải có khả năng giữ nước tốt. Ở những nơi
không có điều kiện mưa thuận lợi cây cao su cần lượng mưa từ 1800-2500 mm/ năm.
Các trận mưa tốt nhất cho cây cao su là là 20-30 mm nước và mỗi tháng có
khoảng 150 mm nước mưa, dưới 100 mm không tốt cho cây cao su. Số ngày mưa tốt
nhất là 100- 150 ngày mưa mỗi năm. Mưa sáng, mưa tập trung lớn hoặc mưa dầm đều
cản trở cạo mủ, mủ lỏng chảy nhiều dễ kiệt cây, vết cạo ẩm ướt dẽ bị bị các bệnh loét
miệng cao.
c. Độ ẩm
Độ ẩm không khí bình quân thích hợp cho sinh trưởng của cây cao su là trên
75% độ ẩm cao sẽ làm cho tế bào cây cao su trương lên, đẩy mủ cao su ra ngoài, mủ
chậm đông, năng suất cao.
d. Ánh sáng
Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp của cây và như thế
là ảnh hưởng đến mức tăng trưởng và sản xuất mủ của cây. Ánh sáng đầy đủ giúp cây
ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao. Giờ chiếu sáng tốt nhất trong năm cho
cây cao su bình quân là 1800- 2800 giờ/năm. Thiếu ánh sáng cây sẽ mọc vống, nhỏ
yếu, vỏ mỏng, ít mủ, khó bóc vỏ khi ghép. Do đó khoảng cách trồng phải thích hợp.
11
e. Gió
Gió nhẹ 1-2m/s có lợi cho cây cao su, và gió giúp cho vườn cây thông thoáng,
hạn chế được bệnh và giúp cây mau khô sau khi mưa. Nếu gió có tốc độ từ 8-13,8m/s
làm cho lá cao su non bị xoắn lại, lá bị rách, phiến lá dầy lên và nhỏ lại từ đó làm ảnh
hưởng đến tốc độ tăng trưởng của cây. Nếu tốc độ > 17m/s cây cao su sẽ bị ngã đổ,
đứt rễ, gãy cành do đó làm giảm mật độ cây của vườn làm giảm năng suất mủ.
 Đặc điểm khí hậu một số vùng trồng cao su ở Việt Nam

giữa các vùng. Trái với Đông Nam Bộ mưa ở Tây Nguyên thường là mưa dầm, bình
quân mỗi năm có 35- 50 ngày mưa sáng gây trở ngại cho việc cạo mủ. Tổng số ngày
mưa trong năm bình quân 150-160 ngày. Mưa kéo dài tập trung gây xói mòn đất
nghiêm trọng.
12
Mùa khô kéo dài từ tháng 10- tháng 4 với lượng bốc hơi cao, bức xạ mặt trời
mạnh, độ ẩm không khí thấp, tốc độ gió cao gây nên hiện tượng mùa khô gay gắt làm
ảnh hưởng thiếu nước trầm trọng cho cây cao su.
Vận tốc gió trung bình của Tây Nguyên là 4- 6m / giây. Gió mạnh trên 25m /
giây thường xảy ra vào các tháng đầu hoặc cuối mùa khô.
Nhìn chung khí hậu Tây Nguyên có nhiều yếu tố không thuận lợi cho sự phát
triển và tăng trưởng của cây cao su như ở Đông Nam Bộ. Do đó cần có các biện pháp
hợp lý làm tăng trưởng sản lượng cây cao su của Tây Nguyên .
Vùng Duyên Hải Miền Trung
Vùng này bao gồm các tỉnh từ Thanh Hóa đến Bình Thuận,vùng này có khí hậu
mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa, do chịu ảnh hưởng của yếu tố địa hình nên diễn
biến khá phức tạp.
Có thể chia duyên hải miền Trung thành hai vùng khí hậu là: Bắc miền Trung từ
đèo Hải Vân trở ra và khí hậu Nam Miền Trung từ đèo Hải Vân trở vào.
Vùng Bắc Hải Vân hoàn toàn chịu ảnh hưởng của khí hậu chí tuyến có hai mùa
mưa và khô không rõ ràng. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc trong tháng 3 hay
tháng 4 năm sau. Vùng này thường xuyên có gió bão xảy ra tạo nên các cơn áp thấp
nhiệt đới.Vùng này còn chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng làm hạn chế đến
sinh trưởng và khai thác mủ cao su. Biên độ nhiệt hằng năm rất lớn trong khi biên độ
nhiệt ngày thấp đây cũng là bất lợi cho sinh trưởng cây cao su.
Khí hậu vùng Nam Trung Bộ có nhiều đặc điểm tương tự Bắc Trung Bộ tuy
nhiên vẫn có những thuận lợi hơn. Những ảnh hưởng của bão ít nghiêm trọng hơn,
nhiệt độ trung bình cao hơn và ít chịu ảnh hưởng của gió Lào.
Nhiệt độ trung bình năm là 23- 24
0

C), khô hạn, hay bị bệnh lá thì tốc độ tăng trưởng chiều cao, số tầng
lá và đường kính thân bị chậm lại rất nhiều. Đây là khó khăn cho việc sản xuất cây con
trong những vùng có mùa đông lạnh.
Cây con trong giai đoạn này cần được chăm sóc cẩn thận với đầy đủ dinh dưỡng
và nước để nhanh chóng đạt được đường kính lớn đủ kích thước để ghép và để dự trữ
dinh dưỡng trong thân nhằm sinh trưởng mạnh sau khi xuất vườn và trồng mới. Tốc độ
phát triển tầng lá và đường kính thân được xem là hai chỉ tiêu quan trọng để xác định
sức sinh trưởng của cây con trong thời kỳ này.
- Giai đoạn kiến thiết cơ bản
Giai đoạn này được tính từ khi cây con được trồng ngoài đại trà cho đến lúc bắt
đầu khai thác mủ. Giai đoạn KTCB có thể kéo dài 10 năm hoặc chỉ ngắn có 6 năm tuỳ
thuộc vào giống, loại cây con đem trồng, điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu và chế độ
chăm sóc. Nhiều giống có tốc dộ tăng trưởng nhanh như PB235, RRIV2 (LH82/156),
RRIV4 (LH82/182)… trong điều kiện thuận lợi có thể thu mủ sau 6 năm trồng. Ngược
lại những giống có tốc độ tăng trưởng trung bình hoặc kém như GT1, PR261 hay
RRIM600.
14
Những cây con có thời gian dài trong vườn ươm (trên 18 tháng) có khả năng
tăng trưởng nhanh hơn những cây con dưới 12 tháng trong vườn ươm, vì thế có thể rút
ngắn thời gian KTCB đến 6 tháng. Những vùng có đất đai kém màu mỡ, khí hậu khắc
nghiệt (lạnh và thiếu ánh sáng, gió mạnh) cây thường sinh trưởng chậm.
Cao su KTCB tạị vùng Bắc Miền Trung thường chỉ cho tăng trưởng mạnh ở năm
thứ 3-4 sau khi trồng mới. Vì thế, thời kỳ này có thể kéo dài thêm 1-3 năm. Chế độ
bón phân và làm cỏ tốt có thể rút ngắn khoảng 1 năm. Sau một năm tuổi cao su có thể
phân cành, tuy nhiên thời kỳ rộ nhất vẫn là 3 năm sau trồng. Trong năm, cao su thường
phân cành trong những tháng có biên độ nhiệt ngày và đêm lớn, ở nhiều vùng trong cả
nước cao su thường phân cành mạnh mẽ từ tháng 1-4. Cành cao su thường gây cản trở
cho việc cạo mủ khi chúng xuất hiện trong khoảng từ 0-3m tính từ mặt đất. Vì thế, nó
thường được tỉa loại ngay khi vừa thấy xuất hiện trong đoạn thân từ 0-3m. Trong thời
kỳ tạo tán rộ nhiều giống cao su như RRIM600 mẩn cảm với bệnh nấm hồng rất nguy

12 năm. Nhiều giống có thể đạt đến năng suất cao chỉ trong vòng vài năm từ khi khai
thác như giống PB235, RRIV1 trong khi GT1 lại cần đến 6-7 năm để có thể đạt được
năng suất cao. Đặc tính cho năng suất cao chậm làm cho người trồng dễ nản lòng và
hiển nhiên là kém hiệu quả kinh tế. Do vỏ của thân trong thời kỳ này còn mỏng, đang
tăng trưởng mạnh nên việc khai thác mủ cần có tay nghề cao để tránh phạm vào thân.
Vườn cây trong giai đoạn này thường trở nên âm u và ẩm thấp nên rất thuận lợi cho
nhiều loại bệnh lá phát triển mạnh thành dịch, đặc biệt là bệnh Phấn Trắng (Oidium
hevea) và bệnh rụng lá mùa mưa (Phytophtora palmivora và P. botrioza). Bệnh
thường xuất hiện nhiều trong mùa mưa tại khu vực Bắc Miền Trung làm thiệt hại nặng
nề đến sản lượng mủ.
+ Thời kỳ khai thác cao su trung niên (KTCSTN):
Khi năng suất không còn tăng thêm nữa và giữ vững mức năng suất đó theo năm
thì cây cao su đã bước vào thời kỳ CSTN. Tuỳ theo chế độ chăm sóc, khai thác trước
đó, hiện tại và giống mà thời kỳ này dài hay ngắn. Nếu vườn cây không được chăm
bón tốt trong giai đoạn KTCB và KTCSN khi cây bước vào thời kỳ này chỉ duy trì
năng suất cao trong một khoảng thời gian ngắn và sau đó giảm năng suất.Việc khai
thác thái quá trong giai đoạn trước cũng có thể làm cho tỷ lệ cây khô mủ nhiều hơn
xảy ra trong thời kỳ này. Lớp vỏ tái sinh trên đoạn thân khai thác bị thương tổn nhiều
sẽ là trở ngại lớn cho việc khai thác mủ trong thời kỳ này.
+ Thời kỳ khai thác cao su già (KTCSG):
16
Khi vườn cây có hiện tượng giảm năng suất trong nhiều năm liền thì vườn cây đã
bước vào thời kỳ này. Tốc độ giảm năng suất nhanh hay chậm còn tuỳ vào giống và
chế độ chăm sóc và khai thác trước đó.
Vườn cây lúc này thường rất âm u, ẩm độ không khí cao nên để mẩn cảm với
bệnh rụng lá mùa mưa, có thể làm giảm sản lượng nhanh chóng.
1.3 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Hương Khê
1.3.1 Vị trí địa lý,diện tích tự nhiên
Hương Khê là một huyện miền núi nằm về phía Tây Nam của tỉnh Hà Tĩnh. Có
tọa độ địa lý:

6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
T.T Hương Khê
Hà Linh
Hương Trà
Hương Long
Phú Phong
Phú Gia
Hương Vĩnh
Phương Điền
Hương Xuân
Hương Lâm
Hương Bình
Phương Mỹ
Phúc Đồng

12 782
8 565
5 886
2 323
4 782
3 116
4 543
4 230
2 111
3 763
5 681
3 816
2 709
4 377
6 790
2 259
5 56
5 529
3 842
4 750
4 912
4 272
6 570

Với vị trí địa lý như trên Hương Khê nằm trong đới rừng chí tuyến, với khí hậu
nhiệt đới ẩm đã quy định nền nông nghiệp huyện Hương Khê có tính chất của nền
nông nghiệp nhiệt đới với các sản phẩm đặc trưng như: lúa gạo, cây công nghiệp, cây
ăn quả nhiệt đới ,…
Trên địa bàn huyện có hai tuyến đường chiến lược quan trọng : Đường mòn Hồ
Chí Minh- trục xuyên Việt phía Tây của đất nước, quốc lộ 15 từ Ngã Ba Đồng Lộc –

Hương Trạch, Hương Liên.
- Địa mạo núi cao trên 700 m: Nằm ở phía Tây Nam của huyện, phân bố chủ yếu
ở các xã dọc theo tuyến biên giới Việt - Lào (thuộc dãy Trường Sơn).
- Địa mạo núi cao từ 300 - 470 m: Gồm các dãy núi thấp và đồi xen kẽ tạo thành
các khu vực rộng lớn ở các xã Hương Bình, Hương Vĩnh, Hương Giang, Lộc Yên, Hà
Linh, Hương Đô, Lộc Yên, Hương Thuỷ, Phương Mỹ
- Địa mạo đồi thấp: Phân bố ở vùng trung tâm huyện gồm Thị trấn Hương Khê,
xã Phú Phong và một phần đất của các xã: Hương Trà, Hương Xuân, Gia Phố, Hương
Giang, Phúc Đồng, Hương Long.
19
b. Khí hậu
Hương Khê mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa rất rõ nét.
 Chế độ nhiệt
Nhiệt độ trung bình năm: 24,5
0
C
Nhiệt độ cao nhất : 38
0
C
Nhiệt độ thấp nhất : 18
0
C
Các tháng nóng là từ tháng 4 đến tháng 8, có nhiệt độ trung bình 33,5
0
C. Đặc biệt
tháng 6,7 chịu ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam khô nóng.
Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, mùa lạnh từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
 Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm từ 1.590-2.500mm. Lượng mưa cao nhất là vào các

nghiệp lâu năm ( chè, cao su, ) có giá trị kinh tế cao. Ở những vùng địa hình cao, dốc
có thể khai thác để trồng rừng nguyên liệu, rừng phòng hộ. Những nơi có địa hình
bằng thoải có thể phát triển cây trồng cạn như: ngô, đỗ tương, lạc, sắn, mía,…Tuy
nhiên, cũng cần quan tâm đến các giải pháp chống xói mòn, bảo vệ đất, giữ ẩm vào
khô và cải tạo nâng cao độn phì nhiêu của đất để sản xuất lâu bền.
- Nhóm đất phù sa
Đất phù sa được hình thành từ các sản phẩm bồi tụ của các sông lớn như Ngàn
Sâu, Sông Tiêm, tạo thành các vùng đồng bằng nhỏ, bằng phẳng, rất thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp, đất đai màu mỡ.
Hiện tại loại đất này, người dân địa phương đang tiến hành trồng lúa, hoa màu,
và các loại cây ngắn ngày cho năng suất khá cao. Trong tương lai, đây là vùng trọng
điểm canh tác các loại cây lương thực, cây hoa màu và cây ngắn ngày như lạc, ngô,
đậu đỗ. Tuy nhiên, do địa hình thấp, dễ bị ngập lụt vào mùa mưa nên biện pháp thủy
lợi ( tiêu úng ) cần được chú trọng phát triển.
- Đất mùn vàng đỏ trên núi
Đất mùn vàng đỏ trên núi hình thành ở độ cao > 900 m. Trong vùng loại đất này
hình thành trên các dãy núi cao thuộc dải Trường Sơn Bắc giáp biên giới Việt- Lào.
Do hình trên các vùng núi có độ cao lớn nhất trong vùng, độ dốc chủ yếu > 20
0
thuộc
các khu vực rừng đầu nguồn. Vì vậy nên dành cho lâm nghiệp quản lý và khoanh nuôi
rừng cũng như ưu tiên bố trí trồng rừng để bảo vệ các khu vực rừng đầu nguồn.
- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá
Đất xói mòn trơ sỏi đá thuộc đất tầng mỏng cần được sử dụng hợp lý. Trước hết
cần phải nhanh chóng phủ xanh bằng thảm thực vất phù hợp với môi trường của từng
vùng sinh thái để bảo vệ môi trường đất, phục hồi độ phì nhiêu của đất. Cần ưu tiên
tiến hành với các vùng đất tầng mỏng ở các khu vực rừng đầu nguồn.Tuy nhiên, phủ
xanh các loại đất này phải đầu tư cao hơn các nhóm đất đồi núi.
21
- Nhóm đất thung lũng

Hương Khê còn là một huyện thuần nông.
Quỹ đất chưa sử dụng còn khá lớn 28.082 ha chiếm 22,82 % diện tích tự nhiên.
Đây là loại đất có nhiều tiềm năng có thể khai thác phục vụ cho sản xuất nông, lâm
nghiệp trong những năm tới. Do đó cần phải có những biện pháp thích hợp để có thể
sử dung tốt các loại đất này.
 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp
Bảng 1.4: Cơ cấu đất nông nghiệp của huyện Hương Khê năm 2012
TT Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu ( %)
Tổng diện tích đất nông nghiệp 106.767,86 100,00
I Đất sản xuất nông nghiệp 12.734,52 11,93
1.1 Đất trồng cây hằng năm 5.592,14 43,90
1.2 Đất trồng cây lâu năm 7.146,84 56,10
II Đất lâm nghiệp 93.954,64 88,00
2.1 Đất rừng sản xuất 25.816,88 27,48
2.2 Đất rừng phòng hộ 50.778,95 54,05
2.3 Đất rừng đặc dụng 17.358,81 18,47
III Đất nuôi trồng thủy hải sản 18,45 0,02
IV Đất nông nghiệp khác 60,25 0,06
( Nguồn:Phòng tài nguyên môi trường huyện Hương Khê năm 2012)
Nhìn vào bảng cơ cấu đất nông nghiệp của huyện Hương Khê năm 2012 ta thấy
diện tích đất trồng cây lâu năm chiếm tỉ trọng lớn nhất 7.146,84 ha chiếm khoảng
56,10 % trong tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện. Diện tích trồng cây
hằng năm là 5.592,14 kém diện tích đất trồng cây lâu năm là 1554,7 ha.
Diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỉ trọng lớn nhất chiếm 88%. Trong tương lai diện
tích đất lâm nghiệp có xu hướng giảm dần do chuyển đổi từ đất rừng sang trồng cây
công nghiệp lâu năm có hiệu quả kinh tế cao như cao su.
23
Mặc dù có hệ thống sông suối, ao hồ dày đặc nhưng diện tích đất dành cho nuôi
trồng thủy hải sản của huyện còn rất ít chỉ có 18,45 ha chiếm tỉ trọng nhỏ nhất trong
cơ cấu đất nông nghiệp của huyện Hương Khê.

24
Hương Khê là một huyện có dân số tương đối thấp so với các huyện trong tỉnh
Hà Tĩnh. Năm 2012 toàn huyện có 100.468 người với 27.500 hộ, mật độ dân số trung
bình 82 người/km
2
.
Dân cư phân bố không đồng đều, thị trấn Hương Khê có mật độ dân cư cao nhất
(2.582 người/km
2
), tiếp đến là xã Phú Phong (750 người/km
2
), Gia Phố (541
người/km
2
), thấp nhất là Hương Lâm (34 người/km
2
). Khu vực dân số nông thôn năm
2012 là 91.273 người chiếm 90,85%, dân số thuộc khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng
lớn trong cơ cấu dân số của huyện. Tỷ trọng này có xu hướng giảm dần qua các năm,
tuy nhiên vẫn còn ở mức cao, dân số đô thị 9.195 người, chiếm 9,15%. Sự phân bố dân
cư không đồng đều trên toàn huyện vì là một huyện miền núi nên giao thông đi lại có
sự khác nhau giữa các vùng. Dân cư tập trung ở hai bên sông Ngàn Sâu và đồi núi thấp
chạy dọc khu phía Đông.
Trong vài năm trở lại đây tốc độ phát triển dân số có chiều hướng giảm. Năm 2007
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,92% đến năm 2012 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống
còn 0,60%. Tỷ lệ tăng dân số nói chung những năm qua thấp, đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch.
b. Thực trạng lao động
- Nguồn lao động
Năm 2012 có 44.515 lao động trong độ tuổi, chiếm 43,84% dân số. Trong đó lao
động trong khu vực nhà nước là 4.190 người chiếm 9,41% lao động và còn lại là lao động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status