LUẬN VĂN: Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ quy
hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên - Huế Mở đầu
chỉ cụ thể cho các nhà quản lý trong việc hoạch định chiến lược đầu tư cho các dự án bảo
vệ và phát triển vốn rừng. Miền núi Thừa Thiên - Huế vẫn còn là vùng nghèo khó và chậm
phát triển.
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội vùng đồi núi Thừa Thiên - Huế, ngoài
việc đầu tư cơ sở hạ tầng, đầu tư con người thì cần có bước đánh giá và phân hạng các
điều kiện tự nhiên nhằm xác lập cơ sở khoa học cho việc quy hoạch và sử dụng hợp lý đất
đai đặc biệt là vùng đất trống đồi trọc, trong sản xuất nông lâm nghiệp, góp phần ổn định
và nâng cao đời sống nhân dân vùng đồi núi Thừa Thiên - Huế là một vấn đề cấp thiết.
Từ thực tế trên, chúng tôi chọn đề tài "Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ quy
hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp vùng đồi núi tỉnh Thừa Thiên - Huế" nhằm
góp phần khai thác tốt các tiềm năng tự nhiên phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
và bảo vệ môi trường khu vực nghiên cứu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
- Đánh giá điều kiện tự nhiên nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc quy hoạch
sử dụng đất đai và bố trí một số cây trồngnông lâm nghiệp ở vùng đồi núi Thừa Thiên
Huế.
- Nghiên cứu, đề xuất các loại hình sử dụng đất đai trong sản xuất ở địa phương
theo hướng phát triển lâu bền.
2.2. Nhiệm vụ
- Tổng quan cơ sở lý luận về đánh giácác điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch
phát triển sản xuất nông lâm nghiệp.
- Đánh giá tổng hợpcác điều kiện tự nhiên làm cơ sở để xác định khả năng sản
xuất của đất đai trong sản xuất nông lâm nghiệp.
- Đánh giá và phân hạng mức độ thích hợp tiềm năng sinh thái tự nhiên đối với cây
trồng trong sản xuất nông lâm nghiệp cho vùng đồi núi Thừa Thiên - Huế.
- Kiến nghị sử dụng hợp lý lãnh thổ trong sản xuất nông lâm nghiệp trên quan
- Các báo cáo của các đề tài độc lập cấp Nhà nước có liên quan đến nội dung
nghiên cứu.
- Số liệu, văn bản, báo cáo của UBND, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn,
Sở Khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Thừa Thiên - Huế về các chủ trương phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên - Huế từ năm 1991 - 2001.
- Nguồn tư liệu thống kê của chi Cục thống kê Thừa Thiên - Huế từ 1992 đến năm
2001; số liệu điều tra cơ bản về khí tượng thủy văn của Trạm khí tượng - Thủy văn Thừa
Thiên - Huế, của Viện Khí tượng - Thủy văn; số liệu báo cáo kiểm kê rừng và đất rừng của
Ban chỉ đạo kiểm kê rừng tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Bản đồ địa hình tỉnh Thừa Thiên - Huế tỷ lệ 1/100.000 do Cục Bản đồ - Bộ tổng
tham mưu QĐNDVN in năm 1977; Bản đồ UTM tỷ lệ 1/50.000 do Cục đo đạc và bản đồ
Nhà nước in năm 1992 (các mảnh: 6442 (I, II, III), 6341 (I), 6441 I (I, II, III, IV), 6542
(III), 6541 (I, II, III, IV), 6641 (III, IV).
- Bản đồ Thổ nhưỡng BTT tỷ lệ 1/100.000 do Sở Nông nghiệp Thừa Thiên - Huế
xây dựng năm 1985.
- Bản đồ địa lý tổng hợp Thừa Thiên - Huế, năm 1991 tỷ lệ 1/150.000.
- Bản đồ cảnh quan tỉnh Thừa Thiên - Huế (trong tập bản đồ địa lý địa phương của
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia - Chủ biên: Vũ Tự Lập). Năm 1996, tỷ
lệ 1/1.000.000.
- Các bản đồ gốc của tỉnh Thừa Thiên - Huế đã số hóa (1998) tỷ lệ 1:50.000 của
Sở Khoa học công nghệ - Môi trường Thừa Thiên - Huế thực hiện dự án GIS. Bao gồm:
bản đồ nền địa hình (đường đồng mức độ cao), bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ thảm thực vật,
bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ phân vùng khí hậu, bản đồ mạng lưới thủy văn, bản
đồ hành chính, giao thông, phân bố dân cư [ ].
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm hệ thống
trường. Yếu tố kinh tế của hệ thống nằm trong mục tiêu của sản xuất nông, lâm nghiệp.
Trong các hệ sản xuất nông, lâm nghiệp, các yếu tố: khí hậu, đất, nước là các nhân tố sinh
thái quan trọng nhất, trong đó nhân tố khí hậu là khó cải tạo ở tầm vĩ mô nên phải thích
nghi; nhân tố đất, nước có thể cải tạo được bằng các biện pháp kỹ thuật (xới, bón phân,
tăng ẩm, thủy lợi, các biện pháp giữ đất, giữ nước ), nhưng thực tế không phải nơi nào
cũng làm được thủy lợi nên ở Thừa Thiên - Huế, việc sản xuất phần lớn vẫn phụ thuộc vào
nước trời. Sự khẳng định "khả năng tái sinh theo hướng lặp lại rừng nguyên thủy (cao
đỉnh) là rất mạnh và đã thành công ở nhiều nơi nếu không bị lặp lại việc làm nương rẫy
hay cháy rừng nhiều lần" [45, tr. 102] và "cần công nhận vai trò sống còn của rừng đối với
các hệ sinh thái mong manh, các lưu vực " [1, tr. 25] đã củng cố thêm quan điểm nghiên
cứu sinh thái và xác định biện pháp gia số sinh học (có sự giúp đỡ của thực vật) là biện
pháp giữ đất, giữ nước, bảo vệ môi trường quan trọng nhất ở vùng đồi núi.
5.1.3. Quan điểm lãnh thổ
Mỗi một công trình nghiên cứu ĐLTN nói riêng cũng như nghiên cứu địa lý nói
chung đều được gắn với một lãnh thổ cụ thể. Các thành phần tự nhiên ngoài có sự thay đổi
theo thời gian còn có sự phân hóa theo không gian. Vì vậy, khi nghiên cứu một khu vực cần
xác định sự phân hóa theo lãnh thổ và đánh giá phải được gắn liền trên một lãnh thổ cụ thể
các lãnh thổ được phân chia.
Lưu sông cấp 2 là đơn vị trung tâm thể hiện cấu trúc Nga, các đơn vị cơ sở.
Trong luận án, đơn vị là các đơn vị đất đai được xây dựng bằng phương pháp
chồng xếp trên máy vi tính. Đây là những đơn vị tổng hợp tự nhiên được dùng làm cơ sở
cho việc đánh giá phân hạng tiềm năng đất đai nông lâm nghiệp ở khu vực nghiên cứu.
5.1.4. Quan điểm thực tiễn
Các nghiên cứu muốn có đóng góp thì phải xuất phát từ thực tiễn, giải quyết các
vấn đề do thực tiễn đặt ra. Quan điểm thực tiễn được vận dụng trong đề tài nhằm đánh giá
phân hạng các hệ địa sinh thái và đề xuất các mô hình sử dụng hợp lý tự nhiên phù hợp với
điều kiện cụ thể của vùng đồi núi Thừa Thiên - Huế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu ra. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực địa trên 6 tuyến ở các huyện A Lưới, Nam Đông,
Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy và Phú Lộc với 35 điểm khảo sát chi tiết.
Trong quá trình thực địa, chúng tôi phối hợp điều tra phỏng vấn hộ nông dân theo
phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) nhằm thu thập thông tin của cư dân địa
phương trong việc phát hiện những mâu thuẫn nảy sinh trong sử dụng tài nguyên thiên
nhiên khu vực. Những ý tưởng của họ có thể giúp cho việc xác định những thuận lợi và
khó khăn trong việc đề xuất các cây trồng và mô hình sản xuất nông lâm nghiệp sát với đối
tượng nghiên cứu.
6. Những luận điểm cần bảo vệ
- Trong việc sử dụng hợp lý vùng đồi núi trong sản xuất nông lâm nghiệp trước hết
cần phải có bước quy hoạch sử dụng đất đai. Trên cơ sở đó tiến hành bố trí cây trồng phù
hợp với điều kiện sinh thái và lập địa từng khu vực.
- Các thành phần hình thành nên các thể tổng hợp tự nhiên không phải có giá trị
ngang nhau mà luôn luôn có những thành phần và yếu tố trội có tác dụng quyết định. Việc
lựa chọn một số lượng hạn chế các chỉ tiêu địa hình, độ dốc, loại đất, tầng dày để xác định
các dạng đất đai và tổ hợp của 4 yếu tố khí hậu chính (nhiệt độ trung bình năm, tầng lượng
mưa năm, đặc điểm mùa lạnh, độ dài mùa khô) trong xây dựng bản đồ sinh khí hậu nhằm
đánh giá tiềm năng sử dụng đất và sự thích nghi cây trồng ở khu vực nghiên cứu là có thể
chấp nhận được.
- Việc đánh giá quy hoạch sử dụng đất và bô trí cây trồng phải đảm bảo sự bền
vững về sinh thái, kinh tế và xã hội. Vì vậy, khi đề xuất quy hoạch sử dụng đất đai trong
sản xuất nông lâm nghiệp không chỉ căn cứ vào đặc điểm tự nhiên của lãnh thổ mà còn căn
cứ vào hiện tượng sản xuất nông lâm nghiệp, mức sống dân cư và các đặc điểm kinh tế -
xã hội khác của khu vực như tập quán canh tác truyền thống, tác động thị trường.
7. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa, vận dụng có chọn lọc những cơ sở lý luận, phương pháp đánh giá
tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp vào điều kiện cụ thể của
lãnh thổ đồi núi tỉnh Thừa Thiên - Huế.
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu, đánh giá điều kiện tự nhiên phục
vụ sản xuất nông lâm nghiệp trên thế giới và Việt Nam
Địa lý học đã phát triển qua các giai đoạn: Giai đoạn mô tả; Giai đoạn phân vùng
và phân loại; Giai đoạn nghiên cứu cơ chế, đánh giá tổng hợp tiến tới sử dụng hợp lý lãnh
thổ.
Xã hội ngày càng phát triển thì chức năng ứng dụng của địa lý cũng ngày càng mở
rộng. Chức năng ứng dụng của địa lý được hiểu một cách tổng quát là: Các nghiên cứu cơ
bản, lý thuyết của địa lý đang trở thành cơ sở, nền tảng cho việc khai thác và sử dụng các
điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội một
cách tốt nhất theo hướng lâu bền và mang lại lợi ích cao nhất cho con người.
Tổng hợp từ các tài liệu [ ], [ ], [ ], [ ], cho thấy việc nghiên cứu, đánh
giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên phục vụ cho sử dụng hợp lý lãnh thổ đã trải qua một
thời gian khá dài với nội dung phong phú với nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả
trong và ngoài nước.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu theo hướng đánh giá tổng hợp điều kiện tự
nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Trên quan điểm muốn sử dụng tối ưu hóa môi trường tự nhiên thì cần phải hiểu
toàn diện và cơ bản các hệ địa lý. Vì vậy, quan điểm đánh giá nghiên cứu lấy học thuyết về
cảnh quan làm cơ sở đánh giá tổng hợp và quy hoạch lãnh thổ nhằm sử dụng tối ưu các đặc
điểm sinh thái của cảnh quan và thiết lập các quan hệ hài hòa giữa sự sử dụng lãnh thổ, con
người và môi trường. Từ giữa thế kỷ XX trường phái này phát triển mạnh trong những năm
60 - 70 ở Liên Xô (cũ) và Đức, cho rằng cần đánh giá và quy hoạch trên cơ sở xây dựng
bản đồ cảnh quan. ở đây quan niệm về cảnh quan được hiểu như "là một đơn vị phân loại
trong hệ thống phân vị tổng thể tự nhiên, trong đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu được xem
xét đến những biến đổi do tác động của con người (quan niệm kiểu loại) hoặc cảnh quan
để chỉ một phần lãnh thổ nào đó riêng biệt của lớp vỏ địa lý trong đó có những đặc tính
chung nhất (quan niệm cá thể).
phái này chú trọng vào mục đích ứng dụng cụ thể mà xác định các đơn vị địa hệ cơ sở. Từ
tác động của các thành phần nghiên cứu nào được quan tâm nhất mà chọn đơn vị đánh giá
và quy hoạch. Chính vì vậy trong trường phái này thường thấy xu hướng hoặc chú trọng
yếu tố hình thái địa hình (phát sinh địa mạo), hoặc chú trọng các yếu tố đất (các quá trình
phát sinh thổ nhưỡng) Thí dụ ở úc là các đơn vị đất của hệ thống đất trên cơ sở của bốn
yếu tố địa chất, địa mạo, thổ nhưỡng, thực vật. ở Mỹ yếu tố quan tâm chính là đất và nguy
cơ bị xói mòn, thoái hóa đất. Cũng trên quan điểm thực dụng ở Pháp là xu hướng sử dụng
các đơn vị địa mạo - thổ nhưỡng, địa mạo - thủy văn như là các đơn vị đánh giá và quy
hoạch chính. J.Tricard đã công bố các kết quả nghiên cứu liên kết đó trong công trình "địa
mạo ứng dụng" (1978), địa lý sinh thái và quy hoạch môi trường tự nhiên (1979). Năm
1967, G. Calbaussed đã đưa ra bảng phân kiểu cảnh quan tỷ lệ 1:100.000 trên tờ Grenoble.
Cách làm của ông là chồng xếp các bản đồ nham thạch, khí hậu, thủy văn. Ông quan niệm
cảnh quan là lãnh thổ thích nghi của thiên nhiên với tác động của con người. G.Bertrand
phân ra ba bậc: 1- Môi trường tự nhiên; 2- Các hệ sinh thái; 3- Tác động của con người.
Năm 1980 Th.Brossard, I.C.Wieber đưa ra quan điểm nghiên cứu cảnh quan trên ba khía
cạnh: cảnh quan là sự biểu hiện các lực bên ngoài (tự nhiên và nhân sinh) tác động vào nó;
cảnh quan là phần trông thấy được của bề mặt trái đất, biểu hiện sự tổ hợp có quy luật của
các yếu tố tự nhiên và nhân sinh. Cảnh quan là bề mặt nhận thức được. Tổng hợp cả ba mô
hình này sẽ có khái niệm đầy đủ về cảnh quan.
ở nước ta: Các công trình về đánh ĐKTN xuất hiện tương đối muộn, chủ yếu từ
những năm 80. Đó là công trình của các tác giả: Nguyễn Thành Long và những người
khác, 1984; Trương Thị Tùng, 1986; Nguyễn Văn Sơn, 1987; đánh giá ĐKTN của Tây
Nguyên và một vài nơi khác đối với các loại cây công nghiệp chè, cao su, cà phê [43, 59,
74, 100]. Nguyễn Đình Giang, 1986, 1988, về phân chia các thể tổng hợp tự nhiên nhằm
mục đích đánh giá và đánh giá ĐKTN đối với cây khoai tây ở Thanh Hóa [26, tr. 30].
Các công trình này đánh giá trên cơ sở phân chia lãnh thổ ra các cảnh quan hoặc
các cấp nhỏ hơn. Đánh giá chung có được bằng cách cộng điểm của các đánh giá riêng.
đồng thế giới tổng kết và khái quát chung trong khuôn khổ của các tổ chức Liên Hợp Quốc
như FAO, UNESCO, IRSC như là tri thức chung của nhân loại [T-A.Phong, 1995].
Những nghiên cứu về đánh giá giá đất đai trên thế giới:
Từ những năm 50 của thế kỷ XX con người bắt đầu thấy cần có những hiểu biết
tổng hợp để đánh giá tiềm năng của đất đai (Land) cho các mục tiêu sử dụng đã được xác
định. Vì vậy, việc đánh giá khả năng sử dụng đất được xem là bước nghiên cứu kế tiếp của
công tác nghiên cứu đặc điểm đất (Soil). Từ mục đích đó công tác đánh giá đất đai đã được
nhiều nhà khoa học và nhiều tổ chức quốc tế quan tâm và đã trở thành một trong những
chuyên ngành nghiên cứu quan trọng phục vụ tích cực cho việc quy hoạch, hoạch định
chính sách đất đai và sử dụng đất đai hợp lý. Phương pháp và hệ thống đánh giá đất đai
ngày càng hoàn thiện, phổ biến là các hệ thống:
- ở Hoa Kỳ: Phân loại khả năng thích nghi đất có tưới (Irrigation land Suitability
Classification) của cục cải tạo đất đai thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ biên soạn năm 1951.
Hệ thống phân loại bao gồm các lớp, từ lớp có thể trồng trọt được (Arable) đến lớp có thể
trồng trọt được một cách giới hạn (Limited arable) và lớp không thể trồng trọt được (Non -
arable). Trong hệ thống phân loại này, ngoài đặc điểm đất đai, một số chỉ tiêu về kinh tế
cũng được xem xét nhưng ở phạm vi thủy lợi [T.A. Phong, 1995].
Ngoài ra, phân loại theo khả năng đất đai (Land Capability) cũng được mở rộng
trong công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ. Phương pháp này do Klingebiel và Montgomery
đề nghị năm 1964. Trong đó, các đơn vị bản đồ đất được nhóm lại dựa vào khả năng sản
xuất một loại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chính là các hạn chế của lớp
phủ thổ nhưỡng đối với các mục tiêu canh tác được đề nghị.
- ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu: Việc phân hạng và đánh giá đất đai thực hiện từ
những năm 60, được thực hiện qua 3 bước:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng: so sánh các loại thổ nhưỡng theo tính chất tự
nhiên.
+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai: Yếu tố được xem xét kết hợp với địa
hình, khí hậu, độ ẩm đất
xây dựng bản đồ đất đai và nghiên cứu ứng dụng các phương pháp đánh giá tổng hợp cho
các mục tiêu sử dụng đất đã bắt đầu được tiến hành. Tuy nhiên, chỉ từ sau năm 1980 đến
nay, việc nghiên cứu đánh giá đất đai mới được đẩy mạnh với việc sử dụng phương pháp
của FAO vào Việt Nam. Nhiều nhà khoa học và các cơ quan có liên quan đến sử dụng đất đai
đã tiến hành nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai phục vụ cho mục tiêu
phát triển nông lâm nghiệp ở nước ta. Có thể nêu ra một số công trình:
- Đánh giá phân hạng đất đai toàn quốc (Tôn Thất Chiểu và các cộng sự) thực hiện
năm 1984 tỷ lệ bản đồ 1/500.000) dựa vào nguyên tắc phân loại khả năng đất đai (Land
Capability Classification) của Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ [T.A.Phg ], chỉ tiêu sử dụng là
đặc điểm thổ nhưỡng và địa hình, được phân cấp nhằm mục đích sử dụng đất đai tổng hợp
bao gồm 7 nhóm, trong đó đánh giá cho sản xuất nông nghiệp (4 nhóm), lâm nghiệp (2
nhóm) và mục đích khác (1 nhóm).
- Vận dụng phương pháp phân loại khả năng đất đai của FAO Bùi Quang Toản và
CTV đã tiến hành đánh giá và qui hoạch sử dụng đất đai hoang ở Việt Nam (1985). Các
chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá bao gồm các điều kiện tự nhiên. Thổ nhưỡng, thủy văn và
tưới tiêu, khí hậu nông nghiệp. Hệ thống phân hạng đến cấp lớp (class) thích nghi cho từng
loại hình sử dụng đất.
- Năm 1986, nhóm tác giả Viện QHTKNN đã biên tập "Cơ sở khoa học bố trí sử
dụng đất nông nghiệp đồng bằng Cửu Long" [56], trên cơ sở xây dựng bản đồ sinh thái
nông nghiệp (tổng hợp các bản đồ: địa chất, địa mạo, đất, thủy văn, khí hậu nông nghiệp,
hiện trạng sản xuất và lớp phủ thực vật). Đơn vị cơ sở là các đơn vị sinh thái. Từ đó, xây
dựng các bản đồ thích nghi cho một số cây trồng như lúa, ngô, mía với 4 cấp: thích hợp
nhất, thích hợp, ít thích hợp và không thích hợp.
- Năm 1989, Viện Thổ nhưỡng - Nông hóa đã tiến hành nghiên cứu đánh giá, phân
hạng đất Tây Nguyên cho cây cao su, cà phê, chè và dâu tằm do Vũ Cao Thái chủ trì. Đề
tài đã vận dụng phương pháp phân hạng đất đai của FAO theo kiểu định tính và hiện tại để
đánh giá tiềm năng đất đai của vùng. Đất đai được phân theo 4 hạng riêng cho từng cây
đai (Land unit/land mapping unit). Các đơn vị đất đai được xác định dựa trên 7 chỉ tiêu tự
nhiên (thổ nhưỡng, độ dày tầng đất, độ dốc, lượng mưa, thủy văn, tưới tiêu, nhiệt độ). Kết
quả đánh giá đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng và khẳng định nội dung,
phương pháp đánh giá đất đai của FAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam
là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay [Hội đất Việt Nam].
Hướng nghiên cứu này thích hợp cho việc đánh giá nhằm xây dựng bản đồ thích
nghi cây trồng. Các đơn vị bản đồ đất đai với những khoanh vi hẹp, có ý nghĩa cho việc
thiết kế hệ thống cây trồng cụ thể, điều này chi tiết hơn nhiều so với mục đích nghiên cứu
của đề tài. Mặt khác, tiến trình đánh giá đất đai của FAO cũng cho thấy việc xác định các
đơn vị đất đai không thể thống nhất chung cho mọi địa phương. Mỗi lãnh thổ cần có một
bộ chỉ tiêu với các quy tắc và tiêu chuẩn phân loại khác nhau là những khó khăn đáng kể
đối với cá nhân nghiên cứu.
Thừa Thiên - Huế
Từ năm 1975 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến lãnh thổ
đồi núi Thừa Thiên - Huế và đến đề tài nghiên cứu ở các mức độ, khía cạnh khác nhau
được tác giả tham khảo và vận dụng.
- Nhóm tài liệu địa lý liên quan đến lãnh thổ đồi núi Thừa Thiên - Huế:
Về địa chất: Các tác giả liên đoàn Bản đồ địa chất đã công bố công trình "Cấu trúc
địa chất khu vực ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế", năm 1985, Đoàn
địa chất 406 thuộc liên đoàn Địa chất 4 xây dựng báo cáo Địa chất và khoáng sản BTT, tập
1 & 2:
Về địa hình: Năm 1983 - 1988, tập thể bộ môn Địa lý trường Đại học Tổng hợp
Huế đã tổ chức nhiều đợt khảo sát thực địa và hoàn thành công trình nghiên cứu cấp Bộ
[52]. Từ 1986-1990, với tập thể nhà khoa học gắn liền với địa phương, các kết quả trên có
độ tin cậy cao, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Năm 1989, chương trình 52 E[16] kết thúc, báo cáo "Phân tích và đánh giá điều
kiện địa hình" [16, trang 19] được chúng tôi tham khảo xem như là tài liệu cơ bản về địa
được sử dụng chính trong công trình của chúng tôi. Ngoài ra còn tham khảo thêm [21, 23,
49, 58]
Về nghiên cứu, đánh giá tổng hợp thể sản xuất lãnh thổ và xây dựng mô hình:
Khi nghiên cứu, đánh giá tiềm năng tự nhiên của các tổng thể tự nhiên, có nhiều
công trình nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau, [16, 54] là những công trình nghiên
cứu đồng bộ nhất, có giá trị cao về cả lý thuyết lẫn thực tế. Ngoài ra, [50, 51] là những kết
quả nghiên cứu tổng hợp, được chúng tôi sử dụng trong luận án.
Nhiều mô hình được nghiên cứu mô phỏng và đúc kết qua thực tế sản xuất đã
được các tác giả đưa ra khi thực hiện đề tài [19, 21, 23, 32, 34,49, 54]. Chúng tôi cho rằng
đây là những kinh nghiệm quý báu, tuy nhiên, với thực tế tự nhiên và cơ chế xã hội như
hiện nay, nguồn tài liệu này chỉ dừng lại ở mức tham khảo.
- Nhóm tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Cũng như lãnh thổ nghiên cứu, đề
tài nghiên cứu của chúng tôi có liên quan với nhiều công trình đã công bố. Trong số đó có
những loại tài liệu như sau:
Việc đánh giá tổng hợp các đơn vị tự nhiên, xác định chức năng của chúng, nhằm
kiến nghị hướng sử dụng hợp lý, lâu dài và ổn định. Các đề tài [43, 48, 51, 54, 58, 80, 81]
cùng có mục tiêu như cách đặt vấn đề của chúng tôi khi tiến hành nghiên cứu lãnh thổ trung
du Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
Nghiên cứu cảnh quan lãnh thổ, nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo
vệ môi trường. Đây là hướng nghiên cứu "Sinh thái hợp cảnh quan", các công trình [1, 20,
23, 26, 54, 63, 68, 86] ở một mức độ nào đó đã giải quyết đúng mục tiêu này, ở góc độ của
chúng tôi, xem nhóm loại đề tài đã dẫn như tài liệu cơ bản.
Tổng kết kinh nghiệm xây dựng mô hình, nghiên cứu đề xuất mô hình kinh tế -
môi trường sinh thái, đó là mục tiêu và nhiệm vụ mà các đề tài [7, 8, 10, 18, 19, 20, 21, 23,
32, 34,49, 54, 55, 65, 78, 83] đã giải quyết.
1.2. Một số khái niệm sử dụng trong luận án
1.2.1. Đánh giá là xem xét một đối tượng nào đó dưới hình thức so sánh, đối
Theo học thuyết sinh thái học cảnh quan (landscape ecology), đất đai được coi là
vật mang của hệ sinh thái. Đất đai được định nghĩa đầy đủ như sau: "Một vạt đất xác định
về mặt địa lý là một diện tích bề mặt của trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định
hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyền bên trên, bên trong
và bên dưới nó như là: không khí, đất (soil), điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động
vật cư trú, những hoạt động hiện nay và trước đây của con người, ở chừng mực mà những
thuộc tính này ảh có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con người hiện tại và trong
tương lai" (Christian và Stewart - 1968: Brinkman và Smyth - 1973).
Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu đơn giản: Đất đai là một vùng đất ranh giới, vị
trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên kinh tế - xã hội như: thổ
nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn, thực vật, động vật và hoạt động sản
xuất của con người.
Đơn vị đất đai (Land Units) là thuật ngữ được dùng trong hướng dẫn đánh giá đất
cho nông nghiệp nhờ nước trời FAO, 1985. Trong: Đề cương đánh giá đất FAO 1976 thì
được gọi là đơn vị bản đồ đất đai (Land Units), ở Việt Nam thuật ngữ đó tương ứng với
"Khoanh" hoặc "Khoảnh" do Bùi quang Toản đề xuất năm 1977.
Đơn vị đất đai được hiểu là: những vùng đất trên thực tế, tương ứng với các
khoảnh đất trên bản đồ có sự đồng nhất tương đối về tất cả các chỉ tiêu. Đó là các tính chất,
đặc điểm đất đai cơ bản thuộc cả về tự nhiên (đất, nước, khí hậu ), kinh tế xã hội. Được
xác định là một đơn vị đất đai có nghĩa là sẽ có cùng khả năng sử dụng, với cùng một mức
độ thích hợp cho một loại sử dụng đất đai nào đó. Đơn vị đất đai là cơ sở đề tiến hành đánh
giá, phân hạng mức độ thích hợp ở bước sau. Vì vậy cần phải được tổ hợp và xác định một
cách hợp lý và chuẩn xác.
1.2.3. Khái niệm về đánh giá, phân hạng đất đai
Các nhà thổ nhưỡng học đã đi sâu nghiên cứu các đặc tính cấu tạo, các quy luật và
quá trình hình thành đất (Soils), điều tra lập bản đồ đất theo các tỷ lệ khác nhau. Sử dụng
thành tựu đó và qua thực tế sản xuất trên đồng ruộng, các nhà kinh tế học, xã hội học, sinh
mô nhỏ, quảng canh hoặc trồng mía quy mô lớn có thâm canh; trồng cà phê gia đình, bán
thâm canh
Năm 1991, FAO đã nêu ra 5 nguyên tắc cho việc xác định loại sử dụng đất bền
vững:
- Duy trì và nâng cao sản lượng
- Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất
- Bảo vê tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn thoái hóa đất
- Có thể tồn tại về mặt kinh tế
Có thể chấp nhận được về mặt xã hội.
Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam đã đề ra 3 yêu cầu đối với việc xác định và
lựa chọn loại sử dụng đất:
- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp
nhận.
- Bền vững về môi trường: bảo vệ được đất và môi trường tự nhiên.
- Bền vững về xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống xã hội.
Loại sử dụng đất đai là đơn vị xếp dưới hệ thống canh tác và liên quan chặt chẽ
với đơn vị đất đai. Mức độ chi tiết của loại sử dụng đất đai phụ thuộc vào mục tiêu, quy
mô và tỷ lệ bản đồ sử dụng trong đánh giá đất đai.
Căn cứ để xác định các loại sử dụng đất đai là:
- Hiện trạng sử dụng đất đai, kết quả sản xuất, nghiên cứu và thí nghiệm đã đạt
được.
- Có điều kiện tự nhiên phù hợp với điều kiện sinh lý, sinh thái của các loại sử
dụng đất đai, tức một loại cây trồng hoặc một nhóm cây trồng.
- Có hiệu quả kinh tế, bảo vệ được đất và môi trường để sản xuất được lâu bền.
- Phù hợp với điều kiện và yêu cầu về kinh tế - kỹ thuật và xã hội hiện thời.
1.2.5. Khả năng đất đai là tiềm năng của đất đai cho các sử dụng hay hoạt động
quản lý cụ thể. Nó không nhất thiết phải là loại sử dụng tốt nhất hay có lợi ích lớn nhất.