Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên
đã và đang là vấn đề đợc quan tâm hàng đầu trong chiến lợc phát triển sản
xuất nông - lâm nghiệp của nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là Việt Nam,
một quốc gia có hơn 2/3 diện tích đất nông lâm nghiệp thuộc về dung du miền
núi. Việc đánh giá chính xác nguồn tài nguyên tự nhiên sẽ chỉ ra đợc những u
thế và hạn chế để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực này.
Vùng đồi núi Thừa Thiên - Huế với diện tích 365.538 ha, chiếm
72,92% diện tích tự nhiên của tỉnh. Đây là địa bàn c trú của đồng bào dân tộc
ít ngời (Tà ôi, Pakô, Cơ tu, Vân Kiều), là nơi chứa đựng tiềm năng kinh tế
phong phú và đa dạng, đặc biệt là tiềm năng đất đai cho sản xuất nông nghiệp,
thích hợp với nhiều loại cây trồng có năng suất cao. Đồng thời, đây cũng là
khu vực thuộc về rừng phòng hộ đầu nguồn, thợng nguồn lu vực của các sông
lớn sông Hơng, sông Hồng, sông Dâu, Truồi đổ về đồng bằng ven biển. Do
đó, việc tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp phải đợc thực hiện có cơ sở khoa
học dựa trên đặc điểm và chất lợng đất đai để bố trí các loại hình sử dụng
trong nông nghiệp, quản lý bảovệ các loại rừng, trồng rừng không những có ý
nghĩa lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội vùng đồi núi mà còn đảm bảo
an toàn sinh thái cho toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Do ảnh hởng của bom đạn chiến tranh trớc đây, đồng thời do việc khai
thác bất hợp lý lâu dài dẫn đến diện tích rừng tự nhiên giảm sút, diện tích đất
trống đồi núi trọc chiếm đến 175.000 ha (87%) diện tích đất nông lâm nghiệp
của tỉnh). Độ dày tầng đất mỏng dần, tiềm năng dinh dỡng của đất ngày càng
nghèo kiệt. Hiện tợng lũ lụt, lũ quét xảy ra đã tàn phá nhiều vùng ở Thừa
Thiên Huế, nh đợt lũ lớn 11-1999, đây là biểu hiện mất cân bằng sinh thái.
Hơn 89% c dân vùng đồi núi Thừa Thiên - Huế hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất nông lâm nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động của ngành này vẫn còn nhiều v-
ớng mắc, việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp còn
1
chậm, đời sống ngời dân còn nghèo khó, công tác giao đất giao rừng còn gặp
trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền.
3. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1. Lãnh thổ nghiên cứu
Đề tài đợc thể iện chỉ trong phạm vi và đồi núi tỉnh Thừa Thiên Huế.
Lãnh thổ vùng đồi núi của tỉnh Thừa Thiên - Huế gồm: 32 xã thuộc gai
huyện miền núi Nam Đông, A Lới và 14 xã vùng đồi của các huyện Phong
điền, Hơng Trà, Hơng Thủy, Phú Lộc (theo quyết định 42 của Ban dân tộc
miền núi) [ ], với diện tích tự nhiên 365.538ha, chiếm 72,92% diện tích tự
nhiên của tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ranh giới lãnh thổ nghiên cứu đợc xác định
trên cơ sở bản đồ địa hình, bản đồ hành chính, trong đó ranh giới hành chính
đã đợc điều chỉnh theo Nghị định 364 của Thủ tớng Chính phủ. Lãnh thổ
nghiên cứu đợc thể hiện trên các bản đồ trong luận án.
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ quy hoạch phát triển nông lâm
nghiệp là xác định khả năng sử dụng đất trong sản xuất nông lâm nghiệp.
Trong đó tập trung vào vùng đất trống đồi trọc.
Các cây trồng đợc chọn đánh giá là các cây (thông nhựa, cây bạch
đàn) là những cây trồng có hiệu quả và có tác dụng trong các chơng trình
trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc ở địa phơng.
- Nội dung đề tài chỉ đánh giá tiềm năng sinh thái tự nhiên của khu
vực nghiên cứu, cha đánh giá về mặt hiệu quả kinh tế.
- Nghiên cứu đánh giá tiềm năng các hệ địa sinh thái theo quan điểm
địa lý, không đề cập đến những hoạt động kinh tế nông lâm nghiệp.
4. Cơ sở nguồn tài liệu
3
Nguồn tài liệu sử dụng trong đề tài bao gồm:
- Các tài liệu mang tính lý luận về đánh giá tổng hợp các điều kiện địa
lý tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các đề tài, dự án đề án nghiên cứu trên địa
bàn Thừa Thiên - Huế, các luận án và các công trình nghiên cứu khác có liên
quan đến đề tài.
Cách tiếp cận hệ thống theo quan điểm cấu trúc, trong địa lý học đó là
việc nghiên cứu cấu trúc thẳng đứng, cấu trúc ngang và cấu trúc chức năng
của hệ thống lãnh thổ tự nhiên. Cấu trúc thẳng đứng là các thành phần cấu tạo
nh: địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhỡng, sinh vật và mối quan hệ giữa
chúng. Đối với hệ địa sinh thái nông lâm nghiệp thì đó là địa hình, khí hậu,
tính chất của đất đai và chế độ nớc. Cấu trúc ngang là các đơn vị cấu tạo thể
hiện ở sự phân hóa lãnh thổ nghiên cứu thành các hệ địa sinh thái nông lâm
nghiệp và mối quan hệ giữa chúng. Nh vậy, hệ thống có tính tổ chức. Sự tác
động của con ngời vào một hợp phần hay bộ phận tự nhiên nào đó có thể gây
ra những biến đổi lớn trong hoạt động của cả tổng thể, đồng thời do tính chất
mở của các hệ địa lý và tính chất liên tục của tự nhiên mà những tác động có
thể đợc truyền theo những kênh khác nhau, và hiệu quả lũy tích của chúng
không chỉ giới hạn trong phạm vi mà hoạt động đó xảy ra. Tuy nhiên, quan
điểm này không yêu cầu nhất thiết phải nghiên cứu tất cả các thành phần, mà
có thể lựa chọn một số đại diện có vai trò chủ đạo, là những nhân tố có tính
chất quyết định đến các thuộc tính cơ bản nhất của tổng thể.
5.1.2. Quan điểm kinh tế - sinh thái: Quan điểm này cho phép nghiên
cứu và đề xuất các giải pháp để phát triển lâm, nông nghiệp bền vững, dựa vào
các kết quả đánh giá tổng hợp môi trờng sinh thái và hiện trạng sử dụng đất
đai cũng nh định hớng tổ chức sản xuất nông lâm nghiệp hợp lý ở vùng đồi
núi Thừa Thiên - Huế. Các hệ thống sản xuất nông và lâm nghiệp là những hệ
thống kinh tế - sinh thái. Yếu tố sinh thái của các hệ thống này biểu thị ở sự
phù hợp giữa môi trờng với các nhân tố sinh thái của cây trồng, vật nuôi là đối
tợng của sản xuất nông, lâm nghiệp. Việc tiến hành đánh giá, phân hạch của
đề tài nhằm phân bố sản xuất nông lâm nghiệp phải bắt đầu từ việc phân tích
5
đánh giá các điều kiện tự nhiên. Nhiệm vụ của việc đánh giá phân tích này là
xác định những vùng thích hợp nhất đối với mỗi loại cây trồng theo yêu cầu
sinh thái để cho năng suất cây trồng cao và có tác dụng bảo vệ môi trờng, góp
phần vào sự phát triển bền vững.
Các nghiên cứu muốn có đóng góp thì phải xuất phát từ thực tiễn, giải
quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra. Quan điểm thực tiễn đợc vận dụng trong
đề tài nhằm đánh giá phân hạng các hệ địa sinh thái và đề xuất các mô hình sử
dụng hợp lý tự nhiên phù hợp với điều kiện cụ thể của vùng đồi núi Thừa
Thiên - Huế.
5.2. Phơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phơng pháp cổ
truyền cũng nh các phơng pháp mới trong nghiên cứu địa lý tự nhiên sau:
- Phơng pháp thu thập tài liệu
Thu thập, kế thừa các t liệu, số liệu phân tích, các bản đồ đơn tính, bản
đồ chuyên đề về các điều kiện tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn,
thổ nhỡng, sinh vật) có liên quan đến đề tài; các tài liệu thuộc các chơng trình,
dự án phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tất cả các nguồn số liệu, tài liệu có
liên quan đến đối tợng và lãnh thổ nghiên cứu đã đợc chúng tôi kế thừa, tiếp
cận và vận dụng trong nghiên cứu đề tài (đợc trình bày ở danh mục tài liệu
tham khảo và các chú dẫn).
- Phơng pháp phân tích hệ thống: Đợc sử dụng để xác định những đặc
điểm của những hợp phần tự nhiên cùng những quy luật quan hệ tơng tác giữa
các hợp phần tham gia vào thành thạo và phân hóa lãnh thổ thành các đơn vị
đất đai phân hóa trong từng lãnh thổ của các lu vực.
- Phơng pháp nghiên cứu địa lý tự nhiên ứng dụng: đợc áp dụng trong
việc lựa chọn xây dựng các chỉ tiêu đánh giá và phân hạng các đơn vị lãnh thổ
tự nhiên phục vụ cho mục đích sản xuất nông lâm nghiệp.
- Phơng pháp bản đồ: Bản đồ vừa là nội dung vừa để thể hiện kết quả
nghiên cứu luận án đã tiến hành xây dựng mới các bản đồ dạng đất đai trên cơ
sở tổ hợp của bản đồ sinh khí hậu. Quy hoạch sử dụng đất đai, bản đồ kiến
7
nghị sử dụng hợp lý lãnh thổ trong sản xuất nông lâm nghiệp Các bản đồ này
đợc xây dựng trên cơ sở sử dụng công nghệ thông tin địa lý GIS, chồng xếp và
tổ hợp từng bớc trên máy theo lới Picel.
bảo sự bền vững về sinh thái, kinh tế và xã hội. Vì vậy, khi đề xuất quy hoạch
sử dụng đất đai trong sản xuất nông lâm nghiệp không chỉ căn cứ vào đặc
điểm tự nhiên của lãnh thổ mà còn căn cứ vào hiện tợng sản xuất nông lâm
nghiệp, mức sống dân c và các đặc điểm kinh tế - xã hội khác của khu vực nh
tập quán canh tác truyền thống, tác động thị trờng.
7. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hóa, vận dụng có chọn lọc những cơ sở lý luận, phơng pháp
đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp vào
điều kiện cụ thể của lãnh thổ đồi núi tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Trên cơ sở quan điểm địa lý ứng dụng, đề tài đã xây dựng bản đồ đất
đai, bản đồ sinh khí hậu làm cơ sở phục vụ cho việc đánh giá tiềm năng đất
đai và bố trí cây trồng trong sản xuất nông lâm nghiệp vùng đối núi Thừa
Thiên - Huế.
- Đánh giá đợc tiềm năng đất đai cho phát triển nông và lâm nghiệp
bằng một hệ thống chỉ tiêu tổng hợp theo quy định của các ngành nông lâm nghiệp.
- Đề tài đã đề xuất đợc phơng án sử dụng đất hợp lý qua chọn cho các
cây trồng nông lâm nghiệp phù hợp góp phần vào sử dụng hợp lý vùng đất
trống đồi trọc ở lãnh thổ nghiên cứu.
8. Cấu trúc của luận văn
Cấu trúc của luận văn bao gồm 3 phần: Ngoài phần mở đầu và kết
luận, nội dung luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1/Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc đánh giá điều kiện tự
nhiên phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp.
Chơng 2: Đánh giá các điều kiện tự nhiên vùng đồi núi tỉnh Thừa
Thiên - Huế định hớng cho phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp.
9
Chơng 3: Vận dụng kết quả đánh giá các điều kiện tự nhiên định hớng
cho sản xuất nông - lâm nghiệp vùng đồi núi Thừa Thiên - Huế.
Luận văn dài 150 trang, kèm theo 10 bản đồ, 3 sơ đồ, 15 bảng, 5 mô
hình, 15 ảnh chụp minh họa, 170 tài liệu tham khảo.
bản đồ cảnh quan. ở đây quan niệm về cảnh quan đợc hiểu nh "là một đơn vị
phân loại trong hệ thống phân vị tổng thể tự nhiên, trong đó cảnh quan là đơn
vị chủ yếu đợc xem xét đến những biến đổi do tác động của con ngời (quan
niệm kiểu loại) hoặc cảnh quan để chỉ một phần lãnh thổ nào đó riêng biệt của
lớp vỏ địa lý trong đó có những đặc tính chung nhất (quan niệm cá thể).
Đại biểu của trờng phái cảnh quan: Berg L.X I.P. Gherasimov, B.X.
Preobrajenxki, D.L Armand (1975), A.G Isatsenko.
ở Tiệp Khắc (cũ) trong khoảng 25 trở lại đây đã soạn thảo phơng án
quy hoạch cảnh quan sinh thái (LANDEP) phục vụ công tác quy hoạch và
thiết kế (dẫn theo [V. 154, tr. 22]). Phơng pháp này tập trung vào việc sử dụng
tối u các đặc điểm cảnh quan sinh thái trên quan điểm sinh thái học nhằm
thiết lập các điều kiện hòa hợp giữa hoạt động kinh tế của con ngời và môi tr-
ờng.
Phơng pháp quy hoạch cảnh quan sinh thái đợc thực hiện qua 2 bớc:
- Soạn thảo số liệu:
1. Phân tích các số liệu chuyên ngành.
2. Tổng hợp thành lập bản đồ cảnh quan sinh thái.
3. Diễn giải ác số liệu cảnh quan sinh thái.
- Tối u hóa việc sử dụng lãnh thổ dới góc độ cảnh quan sinh thái:
4. Đánh giá.
5. Đề xuất.
Đây là phơng pháp chính trong khối SEV cũ để đánh giá lãnh thổ và
quy hoạch [dẫn theo V. trang 23].
- ở Mỹ và các nớc Tây Âu:
Việc đánh giá các điều kiện tự nhiên ứng dụng không quá đi sâu và
phụ thuộc vào học thuyết cảnh quan. Quan điểm này đợc gọi chung là quan
điểm của trờng phái không theo học thuyết cảnh quan. Trờng phái này có
nhiều hớng phát triển và quan điểm cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, điểm quan
12
trọng là đều theo hớng nghiên cứu tổng hợp và xác định đối tợng nghiên cứu
13
đánh giá ĐKTN của Tây Nguyên và một vài nơi khác đối với các loại cây
công nghiệp chè, cao su, cà phê [43, 59, 74, 100]. Nguyễn Đình Giang, 1986,
1988, về phân chia các thể tổng hợp tự nhiên nhằm mục đích đánh giá và đánh
giá ĐKTN đối với cây khoai tây ở Thanh Hóa [26, tr. 30].
Các công trình này đánh giá trên cơ sở phân chia lãnh thổ ra các cảnh
quan hoặc các cấp nhỏ hơn. Đánh giá chung có đợc bằng cách cộng điểm của
các đánh giá riêng. Nguyễn Thế Thôn (1994), đánh giá ĐKTN đối với các đối
tợng nuôi trồng ở huyện Quỳnh Lu cũng trên cơ sở phân chia lãnh thổ ra các
cảnh quan và đánh giá chung theo phơng pháp nhân [65].
Một số công trình đánh giá khác, trong đó có công trình "Đánh giá
tổng hợp ĐKTN - kinh tế xã hội và tài nguyên các tỉnh miền Trung" thuộc ch-
ơng trình 52E của ủy ban KHKT nhà nớc và Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành
[80].
Các tác giả Viện Địa lý [79] chọn "diện cảnh quan sinh thái" với các
bản đồ tỷ lệ 1/25.000 - 1/2.000; "loại cảnh quan sinh thái" với các bản đồ tỷ lệ
1/50.000 - 1/100.000. Theo hớng sinh thái cảnh quan, các công trình: "Quản
lý tài nguyên rừng và nông lâm kết hợp" (1984) [16], "Phân kiểu sinh khí hậu
Việt Nam" (1994) [6], "Đánh giá, phân hạng điều kiện sinh thái tự nhiên lãnh
thổ trung du Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế cho nhóm cây công nghiệp dài
ngày" (1995) [78], "Nghiên cứu cải tạo, sử dụng hợp lý hệ sinh thái vùng gò
đồi Bình Trị Thiên" (1996) [46]; là những đại diện, trong đó các chỉ tiêu sinh
thái (nh nhiệt độ, độ ẩm, đất, độ dốc ) cho một số loài cây trồng đợc lựa chọn
để đánh giá độ phù hợp.
Dới góc độ phân vùng địa lý tự nhiên, các nhà địa lý tiến hành phân
vùng địa lý tự nhiên lãnh thổ nghiên cứu, từ đó xác định một cách khái quát
nhất phơng hớng sử dụng lãnh thổ [17], [41].
Trong các công trình này, các đơn vị lãnh thổ tơng đối đồng nhất về
một số chỉ tiêu nào đó, với những đặc điểm nhất định về tài nguyên, đợc sử
dụng làm đơn vị cơ sở cho quy hoạch vùng và sử dụng tổng hợp lãnh thổ, nh-
Ngoài ra, phân loại theo khả năng đất đai (Land Capability) cũng đợc
mở rộng trong công tác đánh giá đất đai ở Hoa Kỳ. Phơng pháp này do
15
Klingebiel và Montgomery đề nghị năm 1964. Trong đó, các đơn vị bản đồ
đất đợc nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại cây trồng hay thực vật tự
nhiên nào đó, chỉ tiêu chính là các hạn chế của lớp phủ thổ nhỡng đối với các
mục tiêu canh tác đợc đề nghị.
- ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu: Việc phân hạng và đánh giá đất đai
thực hiện từ những năm 60, đợc thực hiện qua 3 bớc:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhỡng: so sánh các loại thổ nhỡng theo tính
chất tự nhiên.
+ Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai: Yếu tố đợc xem xét kết hợp
với địa hình, khí hậu, độ ẩm đất
+ Đánh giá kinh tế đất: đánh giá khả năng sản xuất hiện tại của tự
nhiên. Phơng pháp này thuần túy quan tâm đến khía cạnh tự nhiên của đối t-
ợng đất đai, cha xem xét đầy đủ khía cạnh kinh tế - xã hội của việc sử dụng
đất đai.
- Vào những năm 70, song song với tiến trình thống nhất quan điểm về
phân loại thổ nhỡng, FAO đã tài trợ những chơng trình nghiên cứu có tính
toàn cầu về đánh giá đất đai và sử dụng đất đai trên quan điểm lâu bền. Kết
quả là một dự thảo đầu tiên về phơng pháp đánh giá đất đai đã ra đời vào năm
1972 [N.A. Phồn, 96]. Dự thảo đã đợc nhiều quốc gia thử nghiệm và góp ý bổ
sung, sau đó đợc Brinkman và Smyth biên soạn lại và in ấn năm 1973. Tại Hội
nghị Rome 1975, các chuyên gia hàng đầu về đánh giá đất đai của FAO và
các quốc gia khác (K.J.Beek, J.Bennema, P.J.Mabiler, G.A.Smyth ) đã tổng
hợp kinh nghiệm của nhiều nớc, bổ sung và biên soạn lại để hình thành đề c-
ơng đánh giá đất đai (A framework for Land Evaluation) đợc công bố vào năm
1976, sau đó đợc bổ sung, hoàn chỉnh năm 1983. Tài liệu này đợc cả thế giới
quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phơng tiện tốt nhất để đánh
giá tiềm năng đất đai [Đất VN, 2000, T.A Fg, 95].
Quang Toản và CTV đã tiến hành đánh giá và qui hoạch sử dụng đất đai
hoang ở Việt Nam (1985). Các chỉ tiêu đợc sử dụng để đánh giá bao gồm các
điều kiện tự nhiên. Thổ nhỡng, thủy văn và tới tiêu, khí hậu nông nghiệp. Hệ
thống phân hạng đến cấp lớp (class) thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất.
17
- Năm 1986, nhóm tác giả Viện QHTKNN đã biên tập "Cơ sở khoa
học bố trí sử dụng đất nông nghiệp đồng bằng Cửu Long" [56], trên cơ sở xây
dựng bản đồ sinh thái nông nghiệp (tổng hợp các bản đồ: địa chất, địa mạo,
đất, thủy văn, khí hậu nông nghiệp, hiện trạng sản xuất và lớp phủ thực vật).
Đơn vị cơ sở là các đơn vị sinh thái. Từ đó, xây dựng các bản đồ thích nghi
cho một số cây trồng nh lúa, ngô, mía với 4 cấp: thích hợp nhất, thích hợp, ít
thích hợp và không thích hợp.
- Năm 1989, Viện Thổ nhỡng - Nông hóa đã tiến hành nghiên cứu
đánh giá, phân hạng đất Tây Nguyên cho cây cao su, cà phê, chè và dâu tằm
do Vũ Cao Thái chủ trì. Đề tài đã vận dụng phơng pháp phân hạng đất đai của
FAO theo kiểu định tính và hiện tại để đánh giá tiềm năng đất đai của vùng.
Đất đai đợc phân theo 4 hạng riêng cho từng cây trồng.
- Năm 1990, tác giả Hoàng Xuân Tý và cộng sự đã thực hiện đề tài
"Nghiên cứu đánh giá tiềm năng sản xuất đất trống đồi núi trọc và xác định
phơng hớng sử dụng hợp lý"[96], việc đánh giá tiềm năng đất đai dựa trên
phân loại sinh khí hậu, xây dựng bản đồ mức độ thích hợp về mặt sinh khí
hậu, đánh giá khả năng gây trồng và phục hồi rừng, áp dụng cho vùng đồi
Quảng Nam - Đà Nẵng.
- Trong chơng trình qui hoạch tổng hợp (Master Plan) vùng đồng bằng
sông Cửu Long, việc nghiên cứu khả năng sử dụng đất đai toàn vùng đồng
bằng đã đợc thực hiện (M.E.F.Van Mens voost, Nguyễn Văn Nhân,1993). Các
chỉ tiêu đợc sử dụng để đánh giá là các điều kiện tự nhiên có liên quan đến
mục tiêu sử dụng đất.
- Dự thảo nghị định của Chính phủ về phân hạng đất tính thuế - 1993
với sự tham gia của các cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học đã đề ra chỉ
quy tắc và tiêu chuẩn phân loại khác nhau là những khó khăn đáng kể đối với
cá nhân nghiên cứu.
Thừa Thiên - Huế
Từ năm 1975 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan
đến lãnh thổ đồi núi Thừa Thiên - Huế và đến đề tài nghiên cứu ở các mức độ,
khía cạnh khác nhau đợc tác giả tham khảo và vận dụng.
19
- Nhóm tài liệu địa lý liên quan đến lãnh thổ đồi núi Thừa Thiên - Huế:
Về địa chất: Các tác giả liên đoàn Bản đồ địa chất đã công bố công
trình "Cấu trúc địa chất khu vực ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên
- Huế", năm 1985, Đoàn địa chất 406 thuộc liên đoàn Địa chất 4 xây dựng báo
cáo Địa chất và khoáng sản BTT, tập 1 & 2:
Về địa hình: Năm 1983 - 1988, tập thể bộ môn Địa lý trờng Đại học
Tổng hợp Huế đã tổ chức nhiều đợt khảo sát thực địa và hoàn thành công trình
nghiên cứu cấp Bộ [52]. Từ 1986-1990, với tập thể nhà khoa học gắn liền với
địa phơng, các kết quả trên có độ tin cậy cao, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Năm 1989, chơng trình 52 E[16] kết thúc, báo cáo "Phân tích và đánh
giá điều kiện địa hình" [16, trang 19] đợc chúng tôi tham khảo xem nh là tài
liệu cơ bản về địa hình, có độ tin cậy cao. Ngoài ra còn có một số bài báo cáo
[50] đợc chúng tôi tham khảo để đối chiếu lại với các nguồn t liệu khác.
Về khí hậu, thủy văn: Cũng nh địa chất và địa hình, "Bớc đầu phân
vùng khí hậu nông nghiệp Bình Trị Thiên" [16] và "Các yếu tố sinh khí hậu"
[54] sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi đợc xem là tài liệu cơ bản. Ngoài
ra còn tham khảo một số kết quả: "Những lý do gây ma nhiều ở vùng đồng
bằng khu vực Huế" và "Về phơng pháp phân phối vùng khí hậu nông nghiệp
bớc đầu ứng dụng ở Thừa Thiên - Huế"[6] hay [76], các tài liệu khác
[25,48,67].
Đặc biệt các kết quả ơ4 [22] đợc xem nh là tài liệu chủ đạo; khi tham
khảo [16,54] chúng tôi đều có kết hợp với [22].
Về đất: Trong số các hợp phần của cảnh quan, phải nói rằng những
tự nhiên và cơ chế xã hội nh hiện nay, nguồn tài liệu này chỉ dừng lại ở mức
tham khảo.
- Nhóm tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu. Cũng nh lãnh thổ
nghiên cứu, đề tài nghiên cứu của chúng tôi có liên quan với nhiều công trình
đã công bố. Trong số đó có những loại tài liệu nh sau:
21
Việc đánh giá tổng hợp các đơn vị tự nhiên, xác định chức năng của
chúng, nhằm kiến nghị hớng sử dụng hợp lý, lâu dài và ổn định. Các đề tài [43,
48, 51, 54, 58, 80, 81] cùng có mục tiêu nh cách đặt vấn đề của chúng tôi khi
tiến hành nghiên cứu lãnh thổ trung du Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế.
Nghiên cứu cảnh quan lãnh thổ, nhằm mục đích sử dụng hợp lý tài
nguyên và bảo vệ môi trờng. Đây là hớng nghiên cứu "Sinh thái hợp cảnh
quan", các công trình [1, 20, 23, 26, 54, 63, 68, 86] ở một mức độ nào đó đã
giải quyết đúng mục tiêu này, ở góc độ của chúng tôi, xem nhóm loại đề tài đã
dẫn nh tài liệu cơ bản.
Tổng kết kinh nghiệm xây dựng mô hình, nghiên cứu đề xuất mô hình
kinh tế - môi trờng sinh thái, đó là mục tiêu và nhiệm vụ mà các đề tài [7, 8,
10, 18, 19, 20, 21, 23, 32, 34,49, 54, 55, 65, 78, 83] đã giải quyết.
1.2. Một số khái niệm sử dụng trong luận án
1.2.1. Đánh giá là xem xét một đối tợng nào đó dới hình thức so sánh,
đối chiếu với những tiêu chuẩn hay yêu cầu nhất định. Trong nghiên cứu môi
trờng tự nhiên thì đánh giá phản ánh giá trị của tự nhiên đối với một yêu cầu
kinh tế - xã hội cụ thể. Đặc điểm của tự nhiên là đơn trị, nhng giá trị kinh tế -
xã hội của nó là đa trị. Bất kỳ thành phần riêng biệt nào của môi trờng tự
nhiên cũng có thể là đối tợng đánh giá, song vì các thành phần tự nhiên luôn
tác động tơng hỗ, gắn bó chặt chẽ với nhau nên việc đánh giá tổng thể tự
nhiên nh một chỉnh thể - đánh giá tổng hợp - là nhiệm vụ thiết yếu nhất. "Việc
đánh giá những tham số riêng biệt của hệ địa lý theo quan điểm thực tiễn nào
đấy (giao thông, nông nghiệp, giải trí, ) về thực chất là sự trừu tợng hóa bởi
vì từng hợp phần của hệ thống không bao giờ hoạt động riêng lẻ" [33, tr. 31].
này ảh có ý nghĩa tới việc sử dụng vạt đất đó của con ngời hiện tại và trong t-
ơng lai" (Christian và Stewart - 1968: Brinkman và Smyth - 1973).
Từ định nghĩa trên, ta có thể hiểu đơn giản: Đất đai là một vùng đất
ranh giới, vị trí cụ thể và có các thuộc tính tổng hợp của các yếu tố tự nhiên
kinh tế - xã hội nh: thổ nhỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thủy văn,
thực vật, động vật và hoạt động sản xuất của con ngời.
23
Đơn vị đất đai (Land Units) là thuật ngữ đợc dùng trong hớng dẫn
đánh giá đất cho nông nghiệp nhờ nớc trời FAO, 1985. Trong: Đề cơng đánh
giá đất FAO 1976 thì đợc gọi là đơn vị bản đồ đất đai (Land Units), ở Việt
Nam thuật ngữ đó tơng ứng với "Khoanh" hoặc "Khoảnh" do Bùi quang Toản
đề xuất năm 1977.
Đơn vị đất đai đợc hiểu là: những vùng đất trên thực tế, tơng ứng với
các khoảnh đất trên bản đồ có sự đồng nhất tơng đối về tất cả các chỉ tiêu. Đó
là các tính chất, đặc điểm đất đai cơ bản thuộc cả về tự nhiên (đất, nớc, khí
hậu ), kinh tế xã hội. Đợc xác định là một đơn vị đất đai có nghĩa là sẽ có
cùng khả năng sử dụng, với cùng một mức độ thích hợp cho một loại sử dụng
đất đai nào đó. Đơn vị đất đai là cơ sở đề tiến hành đánh giá, phân hạng mức
độ thích hợp ở bớc sau. Vì vậy cần phải đợc tổ hợp và xác định một cách hợp
lý và chuẩn xác.
1.2.3. Khái niệm về đánh giá, phân hạng đất đai
Các nhà thổ nhỡng học đã đi sâu nghiên cứu các đặc tính cấu tạo, các
quy luật và quá trình hình thành đất (Soils), điều tra lập bản đồ đất theo các tỷ
lệ khác nhau. Sử dụng thành tựu đó và qua thực tế sản xuất trên đồng ruộng,
các nhà kinh tế học, xã hội học, sinh thái học và cả những ngời nông dân đã đi
sâu nghiên cứu và xem xét tới nhiều khía cạnh có liên quan trực tiếp tới quá
trình sản xuất trên từng vạt đất đai (lands). Từ đó dẫn tới khái niệm: đánh giá,
phân hạng đất đai.
Theo A. Young: Đánh giá đất đai là quá trình đoán định tiềm năng của
đất cho một hoặc một số loại sử dụng đất đợc đa ra để lựa chọn.
- Bảo vê tài nguyên thiên nhiên và ngăn chặn thoái hóa đất
- Có thể tồn tại về mặt kinh tế
Có thể chấp nhận đợc về mặt xã hội.
25