đánh giá tình hình giao đất giao rừng nhằm phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp tại xã nghĩa long, huyện nghĩa đàn, tỉnh nghệ an - Pdf 10

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của loài người, là điều kiện cần để
sinh tồn, để sản xuất, nó không thể thiếu được. Nó là nguồn tài nguyên vô cùng
quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho cuộc sống và trở thành một tài nguyên quý
giá của mỗi quốc gia. Là nguồn lực để phát triển đất nước, là một loại tư liệu sản
xuất đặc biệt của ngành nông nghiệp, lâm nghiệp để đáp ứng điều kiện cơ bản tối
thiểu của đời sống xã hội loài người đảm bảo cho quá trình sản xuất, xã hội tồn
tại và phát triển. Ngoài ra nó còn là giá đỡ của thực vật, nơi sinh tồn của động vật,
vi sinh vật.
Luật đất đai sửa đổi năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/07/1993
có hiệu lực ngày 15/10/1995 đã thừa nhận 5 quyền cơ bản của người sử dụng đất,
quan hệ sản xuất nông lâm nghiệp được xác lập trên cơ sở giao đất cho các hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài đã trở thành động lực thúc đẩy quá trình
nông, lâm nghiệp phát triển. Hiệu quả sử dụng đất được nâng cao so với giai đoạn
trước.
Ngoài ra Chính phủ còn cho ra đời một số Nghị định như: Nghị định
64/CP ngày 27/09/1993 quy định: “Giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp”. Nghị định
02/CP ngày 15/01/1994 quy định: “ Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp”. Nghị định
163/1999/NĐ – CP ban hành ngày 16/11/1999 bổ sung và thay thế một số điều
trọng nghị định 02/CP.
Gần đây Quốc hội nước ta đã đưa ra luật đất đai số 13/2003/QH. Luật này
quy định về quyền hạn và trách nhiệm của Nhà Nước đại diện chủ sở hữu toàn
dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai,
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
1
Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 và các văn bản có liên
quan đến giao đất giao rừng và hưởng dụng rừng như Nghị định 135/2005/NĐ –
CP về giao khoán đất, Quyết định 186/2006/QĐ – TTg về quy chế quản lý rừng,
Quyết định 40/2005/QĐ – BNN về quy chế khai thác gỗ và lâm sản.

cách hợp pháp, từ đó Chính phủ có được toàn bộ đất trồng ( có khả năng trồng
trọt được) và nhân dân đã trở thành người làm công trên đất ấy. Tuy nhiên, trong
giai đoạn này luật ruộng đất quy định chế độ định canh ngắn, chế độ luân canh
vừa. Bên cạnh đó việc thu địa tô cao, dân số tăng nhanh, tình trạng thiếu đất do
việc phân hóa giàu nghèo, đã dẫn đến việc đầu tư trong nông nghiệp thấp. Từ đó,
năng suất cây trồng trên đất phát canh thấp hơn trên đất tự canh. Bước sang năm
1974 Chính Phủ Thái Lan ban hành chính sách cho thuê đất lúa, quy định rõ việc
bảo vệ người làm thuê, thành lập các tổ chức người địa phương làm việc theo sự
điều hành của trại thuê mướn, Nhà nước tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình
phát triển. Luật cải cách ruộng đất năm 1975 quy định các điều khoản với mục
tiêu biến tá điền thành chủ sở hữu ruộng đất, trực tiếp sản xuất trên đất Nhà Nước
quy định hạn mức đối với đất trồng trọt là 3,2 ha (50 rai), đối với đất chăn nuôi
6,4 ha (100 rai), đối với những trường hợp quá hạn mức Nhà nước tiền hành
trưng thu để chuyển giao cho tá điền, với mức đền bù hợp lý.
Đối với đất rừng, để đối phó với vấn đề suy thoái đất, xâm lấn rừng. Bắt
đầu từ năm 1979 Thái Lan thực hiện chương trình giấy chứng nhận quyền hoa lợi,
trong rừng dự trữ Quốc gia, theo chương này mỗi mảnh đất được chia làm hai
miền. Miền từ dưới nguồn nước là miền đất có thể dùng để canh tác nông nghiệp,
miền ở phía trên nguồn nước thì hạn chế và giữ rừng, còn miền đất phù hợp cho
canh tác nhưng mà trước đây những người dân đã chiếm dụng ( dưới 2,5 ha) thì
3
được cấp cho người dân một giấy chứng nhận quyền hưởng hoa lợi. Đến năm
1976 đã có 600126 hộ nông dân có đất được cấp giấy chứng nhân quyền hưởng
hoa lợi. Cùng với chương trình này, đến năm 1975 Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia
Thái Lan đã thực hiện chương trình làng lâm nghiệp nhằm giải quyết cho những
hộ gia đình được ở trên đất rừng, quá trình thực hiện chương trình này đã thành
lập được 98 làng lâm nghiệp với 1 triệu hộ gia đình tham gia. Đi cùng với chương
trình này là việc thành lập các hợp tác xã nông, lâm nghiệp hoạt động dưới sự bảo
trở của ban chỉ đạo HTX. Cục Lâm Nghiệp Hoàng Gia sẽ ký hợp đồng giao đất
dài hạn cho các HTX yêu cầu và thành lập nhóm chuyên gia đánh giá hiệu quả

đất cho tất cả các chủ rừng là các tổ chức nhà nước, tập thể và tư nhân. Mỗi hộ
nông dân được phân phối một diện tích đất rừng để sản xuất kinh doanh ‘ Luật
lâm nghiệp quy định đơn vị tập thể và nông dân trồng cây trên đất mình làm chủ
thì hoàn toàn được hưởng sản phẩm trên mảnh đất đó”. Sau khi được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, Chính Phủ đã áp dụng chính sách nhảy bén thúc
đẩy phát triển trang trại rừng và kinh doanh đa dạng để có lợi trước mắt và lâu
dài. Đồng thời với việc cải cách và mở cửa, ngành lâm nghiệp Trung Quốc đã
được chuyển dịch từ chỗ chỉ thực hiện chế độ sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể
sang thực hiện nhiều thành phần tham gia kinh doanh lâm nghiệp (Nhà nước, tập
thể, cá nhân, liên doanh, hợp tác…). Nhiều chính sách về đất lâm nghiệp được
thực hiện, đặc biệt là chính sách “tam định”, trong đó định rõ 3 vấn đề: Quyền sử
dụng đất đồi núi, quyền sử dụng rừng và quy hoạch đất, diện tích đất lâm nghiệp
được để lại cho các hộ nông dân sử dụng. Người dân được giao và cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất rừng. Nhà nước cũng ban hành nhiều luật, chính
sách để tạo điều kiện cho việc lưu chuyển và troa đổi quyền sử dụng đất lâm
nghiệp.
5
1.1.3. Chính sách đất đai ở Inđônêxia.
Nét đặc biệt trong chính sách đất đai ở Inđônêxia là Nhà nước quy định
mỗi nông dân ở gần rừng được nhận khoán 2.500 m
2
đất để trồng cây, hai năm
đầu được phép trồng cây nông nghiệp trên diện tích đó và được quyền hưởng toàn
bộ sản phẩm, không phải nộp thuế. Quá trình sản xuất của nông dân được hỗ trợ
giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật dưới hình thức cho vay. Sau khi thu hoạch
người nông dân phải hoàn trả lại giống đã vay, còn phân bón và thuốc bảo vệ thực
vật chỉ phải trả 70%, nếu mất mùa thì không phải trả vốn vay đó. Bên cạnh đó,
thông qua các hoạt động khuyến nông khuyến lâm Nhà Nước còn tổ chức hướng
dẫn kỹ thuật, tập huấn làm nghề cho người dân, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng tại
nơi họ sinh sống. Từ đó, việc quản lý rừng ở Inđônêxia bước đầu thu được những

nghiệp huyện. Các cán bộ lâm nghiệp của văn phòng cấp huyện được ủy quyền
cấp các CSC với diện tích từ 5-7 ha, còn trên 7 ha do Tổng giám đốc văn phòng
phát triển lâm nghiệp.
Khác với các giấy chứng chỉ CSC, bản thỏa thuận lâm nghiệp xã hội
(CFSA) là một hợp đồng giữa Chính Phủ và một cộng đồng hay một hội lâm
nghiệp kể các nhóm bộ lạc. Sự khác nhau cơ bản giữa CSC và CFSA là: CFSA
đất không được nhượng cho cá nhân mà chỉ giao cho cộng đồng hay hiệp hội và
các thành viên của nó với sự thỏa thuận trước để sử dụng trên phạm vi một xã.
Diện tích giữa các xã cũng khác nhau và các đơn vị xin CFSA thường phải nộp và
lưu trữ tại văn phòng phát triển lâm nghiệp cấp huyện nhưng phải được ban thư
ký vụ tài nguyên thiên nhiên duyệt.
1.1.6. Chính sách đất đai ở Thủy Điển.
Nhà nước quản lý 25% diện tích rừng và đất rừng, các công ty lớn sở hữu
25%, còn lại 50% diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu của các hộ tư nhân
7
1.1.7. Chính sách đất đai ở Phần Lan.
Sở hữu tư nhân về rừng và đất rừng ở Phần Lan mang tính truyền thống,
có tới hai phần ba diện tích rừng và đất rừng thuộc sở hữu tư nhân và có khoảng
430.000 chủ rừng, bình quân mỗi chủ rừng sở hữu 33 ha.
1.2. CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG Ở VIỆT NAM QUA CÁC
THỜI KỲ.
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1968 đến năm 1980
Để thực hiện xây dựng Miền Bắc đi lên CNXH và thống nhất đất nước,
bảo vệ thành quả cách mạng đã mang lại cho nhân dân miền Bắc, Đảng Ta chủ
trương đưa nhân dân vào làm ăn tập thể, đồng thời thành lập các trạm trại nông
nghiệp, các Nông Trường quốc doanh và HTX, xây dựng vùng kinh tế mới nông,
lâm nghiệp, tổ chức định canh, định cư cho đồng bào dân tộc miền núi vùng cao.
Chính sách giao đất trong giai đoạn này được thể hiện rõ nét qua các văn bản sau:
- Thông báo số 18 TB – TW ngày 23/10/1968 của Ban bí thư TW Đảng đề cập
đến vấn đề: “Nhà nước cần giao cho HTX sử dụng một số đất hoang hoặc

hoặc phương hướng trồng rừng và kinh doanh lâm nghiệp chưa rõ ràng, chưa
có vốn hỗ trợ, trình độ quản lý còn hạn chế.
Trong thời kỳ này ở Miền Bắc hình thành 3 hình thức sở hữu ruộng đất được
hiến pháp năm 1959 khẳng định: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư
nhân. Ở miền Nam sau khi thắng lợi 30/4/1975. Đảng và Nhà nước ta đã có chủ
trương cải tạo XHCN với nông nghiệp, từng bước đưa nông dân vào làm ăn tập
thể, từ hình thức tập đoàn sản xuất đến HTX, phát triển nhất là từ Bình Thuận trở
9
ra. Tuy nhiên, do những hạn chế của các HTX miền Bắc nên việc xây dựng và
hình thành các HTX ở miền Nam gặp nhiều khó khăn.
Chính sách giao đất trong giai đoạn này mang đặc trưng chủ yếu là:
- Duy trì 3 hình thức sở hữu về đất đai (sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu
tư nhân). Sở hữu toàn dân và tập thể có xu thế ngày càng mở rộng, sở hữu tư
nhân có chiều hướng thu hẹp dần.
- Ý nghĩa khẩu hiệu “người cày có ruộng” bị mờ nhạt dần vì người nông dân
trực tiếp làm ruộng đã từng bước gián tiếp quản lý ruộng đất theo xu hướng
phát triển từ HTX bậc thấp lên bậc cao, cuối cùng chỉ thực sự làm chủ mảnh
đất 5% của mình.
- Chính sách ruộng đất và thực hiện HTX nông nghiệp tuy có làm cho sản xuất
chậm phát triển nhưng thuận lợi cho việc động viên sức người, sức của cho
công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1986.
Đây là giai đoạn Nhà Nước ta tiến hành cải cách nền kinh tế đất nước bằng
các hình thức như: cải tiến việc quản lý các HTX nhằm đảm bảo việc phát triển
sản xuất, nâng cao hiểu quả kinh tế, bên cạnh đó thực hiện hình thức khoán sản
phẩm đến nhóm người lao động nhằm phát huy tích cực vai trò năng lực của của
người lao động.
Đối với sản xuất nông nghiệp: Tại hội nghị lần thứ I của Ban Chấp hành
TW Đảng tháng 12/1980 đã quyết định: “Mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện
các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp”. Chỉ thị 100-CT/TW ngày

xác định rõ giao đất, giao rừng gắn liền với việc tổ chức bảo vệ và kinh doanh
rừng, sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc theo phương thức nông
lâm kết hợp. Gắn trách nhiệm cụ thể cho từng người sử dụng đất, coi đay là một
cuộc vận động cách mạng mang nội dung kinh tế chính trị sâu sắc.
11
Nghị quyết đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI năm 1986 là điểm
mốc quan trọng để bước sang một giai đoạn mới xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung quan liêu bao cấp, chuyển sang xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng XHCN. Từ đó, công tác quản lý và sử dụng đất được Đảng và Nhà nước ta
quan tâm hơn trước. Nhiều chủ trương, chính sách đất đai được ban hành để điều
chỉnh quan hệ sở hữu và sử dụng đất đai một cách hoàn thiện hơn. Nhằm khai
thác tốt tiềm năng, giá trị của đất, nâng cao hiệu quả kinh tế và bảo vệ môi
trường. Hàng loạt các văn bản luật và dưới luật thuộc thẩm quyền Quốc hội ( các
bộ luật), UBTVQH ( các Pháp lệnh, Nghị quyết). Chính Phủ ( các Nghị định, Chỉ
thị, Quyết định…), các Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW ( Chỉ thị, Nghị quyết,
Quyết đinh…) đã được soạn thảo và ban hành liên quan tới licnhx vực quản lý đất
đai như: giao đát, giao rừng và cấp GCNQSDĐ, giải quyết các vi phạm pháp luật
và tranh chấp đất đai, di dân, di chuyển lao động, định canh định cư, khai hoang
đất để sản xuất lương thực, trồng rừng bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái…
Quá trình thực hiện chích sách giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, các
nhân sử dụng ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993, chính sách
giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, các nhân sử dụng ổn đinh, lâu
dài vào mục đích lâm nghiệp theo Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị
định 163/CP ngày 16/11/1999, chính sách giao khoán đất sự dụng và mục đích
sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp Nhà nước
theo Nghị định số 01/CP ngày 04/01/1995. Đã đáp ứng yêu cầu quản lý và sử
dụng đất phù hợp với phù hợp với ý chí nguyện vọng của toàn dân, tạo nên động
lực mạnh mẽ khơi dậy tiềm năng đất đai, lao động, vật tư, tiền vốn trong nhân dân
cũng như của các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế đặc biệt là trong nông

thẩm quyền quản lý đất đai, thực hiện chủ trương giao đất nông lâm cho hộ gia
đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp, nuôi
trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước theo quy định số 01/CP vào ngày
16/11/1999. Hơn nữa các quyền sử dụng đất: Chuyển đổi, chuyển nhượng cho
thuê, thừa kế, thế chấp được luật đất đai năm 2003 sửa đổi quy định rõ, tạo cơ sở
pháp lý về những lợi ích cụ thể giúp người dân thực hiện được làm chủ được về
quá trình sử dụng cũng như kinh doanh trên diện tích được giao.
1.2.4.1. Chính sách giao đất nông nghiệp.
Được thực hiện theo nghi định 64/CP ngày 27/09/1993 đối với hộ gia đình
cá nhân như sau:
- Đối tượng được giao đất:
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản,
làm muối mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất
đó thì được nhà nước giao trong hạn mức để sử dụng ổn định lâu dài vào sản
xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không thu tiền sử dụng đất
nhân khẩu được giao đất nông nghiệp thường trú tại địa phương, kể cả người làm
nghĩa vụ quân sự.
- Hộ gia đình cá nhân được nhà nước giao đất làm nhà ở.
- Qũy đất nông nghiệp để giao:
Đất nông nghiệp đang sử dụng được giao hết cho hộ gia đình, cá nhân trừ
đất đã được giao cho tổ chức, đất làm muối cũng được giao cho hộ gia đình cá
nhân sản xuất.
- Nguyên tắc giao đất:
+ Đảm bảo sự đoàn kết, ổn định trong nông thôn, thúc đất sản xuất phát
triển, bên cạnh đó phải đảm bảo cho các đối tượng được giao đất (người làm
nông, nuôi trồng thủy sản) có đất để sản xuất.
14
+ Người được giao đất phải sử dụng đất đúng mục đích trong thời hạn
được giao, bảo vệ, cải tạo bồi bổ và sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý để tăng khả
năng sinh lợi của đất, phải chấp hành pháp luật đất đai.

- Căn cứ để giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp: Quỹ đất lâm nghiệp của
từng địa phương; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt; hiện trạng
quản lý sử dụng đất lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; hạn mức đất
giao, cho thuê đất lâm nghiệp theo quy định của pháp luật và nhu cầu sử dụng đất
lâm nghiệp của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
- Quỹ đất lâm nghiệp để giao ổn định lâu dài: Toàn bộ đất có rừng tự
nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng đã được quy hoạch để trồng cây gây
rừng, khoanh nuôi bảo vệ thảm thực vật, không phân biệt độ dốc được tính vào
quỹ đất lâm nghiệp để giao cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài.
+ Nhà nước giao cho các tổ chức quản lý và sử dụng ổn định lâu dài các loại
đất lâm nghiệp là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu và rất xung
yếu. Rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu và các loại rừng phòng hộ khác tập
trung, xa khu dân cư. Đất lâm nghiệp là rừng sản xuất tập trung, xa khu dân cư,
đất lâm nghiệp dự trữ quốc gia.
+ Nhà nước giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sự dụng ổn định lâu
dài, đất lâm nghiệp có rừng tự nhiên, rừng trồng, đất để trồng rừng mà hộ gia
đình, cá nhân trực tiếp quản lý sử dụng hợp pháp, do Nhà nước có thẩm quyền đã
giao trong những năm trước đây. Đất có rừng hoặc chưa có rừng thuộc rừng
phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, rừng chắn gió, chắn cát, chắn sóng lấ biển đã ổn
16
định, rừng sản xuất nằm xen kẽ trong các khu dân cư, đất chưa có rừng của rừng
bảo vệ môi trường sinh thái.
+ Nhà nước giao cho các chi cục kiểm lâm trực tiếp quản lý các vùng đất lâm
nghiệp chưa giao cho các chủ thể cụ thể.
- Thời hạn giao đất lâm nghiệp:
Các tổ chức của Nhà nước, thời hạn giao được quy định theo kế hoạch sử
dụng đất của Nhà nước. Tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân là 50 năm, hết
thời hạn quy định nếu người sử dụng đất vẫn có nhu cầu và sử dụng đất đúng
mục đích thì được Nhà nước giao tiếp đất đó để sử dụng.

Đất đang có rừng, nếu đất chưa có rừng thì khoán đất để người nhận khoán tự bỏ
vốn để trồng rừng, khi khai thác phải bán sản phẩm theo hợp đồng, nếu Nhà nước
đàu tư vốn, bên nhận khoán phải hoàn trả vốn và bán sản phẩm cho bên giao
khoán.
1.3. TÌNH HÌNH GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG TẠI TỈNH NGHỆ AN.
1.3.1. Diện tích quy hoạch sản xuất lâm nghiệp
1.3.1.1 Diện tích đất lâm nghiệp:
- Tổng diện tích: 1.195.477 ha chiếm 72% diện tích tự nhiên.
- Diện tích có rừng: 684.398 ha ( rừng trồng: 61.288 ha) chiếm 43%
- Diện tích chưa có rừng: 511.079 ha
Trong đó:
Quy hoạch rừng đặc dụng: 223.648 ha
Quy hoạch rừng phòng hộ: 580.854 ha
Quy hoạch rừng sản xuất: 390.975 ha
18
1.3.1.2 Trữ lượng rừng:
- Gỗ: 50.006.005 m
3
- Tre nứa: 1.049.696 ngàn cây
* Rừng tự nhiên:
- Rừng gỗ: 45.165.169 m
3
+ Rừng giàu: 9.803.872 m
3
+ Rừng trung bình: 16.025.737 m
3
+ Rừng nghèo: 12.589.718 m
3
+ Rừng hỗn giao: 3.327.956 m
3

- Quá trình giao đất lâm nghiệp trước đây, ngoài ngành kiểm lâm còn do các
đơn vị khác thực hiện như bán định canh, định cư, phòng nông nghiệp huyện,
nên dẫn đến sự chồng chéo, hồ sơ vừa thiếu lại không đồng bộ.
- Việc giao đất lâm nghiệp được thực hiện khi chưa có quy hoạch 3 loại rừng và
tình trạng giao đất theo nhóm hộ khá phổ biến
- Tiến độ thực hiện việc giao đất lâm nghiệp quá chậm sau 6 năm chỉ đạt xấp xỉ
30% tổng diện tích đất lâm nghiệp cần giao.
1.3.2.2. Công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm
nghiệp theo nghị định 163/NĐ-CP của Chính phủ.
Từ thực trạng của công ty giao đất lâm nghiệp theo Nghị định 02/CP, sau khi
Chính phủ ban hành Nghị định 163/NĐ-CP. UBND tỉnh đã ban hành quyết định
số 190/QĐ-UB ngyaf 16/03/2000 giao cho ngành địa chính chủ trì tổ chức thực
hiện việc đo đạc giao đất lâm nghiệp.
Thực hiện nhiệm vụ giao đất, sở tài nguyên và môi trường đã tiến hành các
nôi dung sau:
20
- Tham mưu để UBND tỉnh thành lập ban chỉ đạo thực hiện nghị định 163 của
tỉnh, thành lập ban chỉ đạo cấp sở, chỉ đạo các huyện thành lập ban chỉ đạo
cấp huyện.
- Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành kiểu văn bản chỉ đạo đôn đốc, trực tiếp
ban hành hàng chục văn bản hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ
- Tổ chức quán triệt chủ trương tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện
Nghị định 163 cho toàn tỉnh.
- Ban hành thực hiện Nghị định 163/1999/NĐ-CP gồm 5 bước:
+ Bay chụp ảnh máy bay toàn lãnh thổ tỉnh
+ Lập bản đồ địa chính cơ sở giao đất lâm nghiệp
+ Tổ chức giao đất lâm nghiệp tại thực địa
+ Đo đạc lập bản đồ địa chính, chi tiết đầu tư lâm nghiệp
+ Lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp.
Như vậy, trong 2 bước đầu là do Trung ương thực hiện còn 3 bước sau là do

2 Anh Sơn 39.753 4.258 12.085
3 Tân Kỳ 34.000 7.553 26.440
4 Quỳ Châu 105.613 5.334 43.660
5 Quế Phong 157.534 3.373 63.403
6 Con Cuông 153.309 4.885 31.426
7 Tương Dương 261.707 8.464 185.965
TỔNG CỘNG 965.783 47.633 517.015
22
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. MỤC TIÊU:
2.1.1. Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá tác động của công tác giao đất, giao rừng nhằm hoàn thiện quá trình
thực hiện chính sách giao đất giao rừng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất được
giao tại xã Nghĩa Long, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể:
- Tổng kết kết quả thực hiện công tác giao đất giao rừng tại xã Nghĩa Long.
- Đánh giá được những tác động chủ yếu về kinh tế, xã hội và môi trường của
công tác giao đất giao rừng tới quá trình phát triển kinh tế hộ gia đình và môi
trường tại xã Nghĩa Long.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiểu quả về công tác giao đất
giao rừng và quản lý sử dụng đất đã được giao.
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình giao đất, giao rừng, tình hình quản lý
đất đai, quản lý tài nguyên rừng, điều tra tình hình sử dụng đất của nông hộ sau
khi giao đất, giao rừng trên địa bàn xã Nghĩa Long, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ
An.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:
Nội dung nghiên cứu tập trung và đánh giá các vấn đề sau:
+ Điều tra, đánh giá khái quát tình hình tự nhiên – kinh tế - xã hội của khu

- Tiếp cận các cơ quan quản lý nông nghiệp về đất đai, cơ quan quản lý nông lâm
nghiệp (các phòng ban: địa chính, nông nghiệp – khuyến nông – khuyến lâm,
thống kê, khí tượng, thủy văn, tài nguyên môi trường, ) để thu thập các thông tin
cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, chính sách giao đất giao rừng, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất địa bàn nghiên cứu.
- Trên cơ sở đó khảo sát ngoại nghiệp để rà soát về tình hình sử dụng đất, tình
hình giao đất, giao rừng và tình hình cơ bản trên.
- Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình
+ Theo kiểu mẫu chuẩn bị trước
+ Các hộ được lựa chọn
Số hộ phỏng vấn được xác định trên cơ sở phân loại kinh tế hộ gia đình
( nghèo, trung bình, giàu) quỹ đất đai mà hộ đang sử dụng ( ít, trung bình, nhiều),
đảm bảo đầy đủ các thành phần dân tộc đang sống trên địa bàn.
- Thu thập thông tin bằng phương pháp chuyên gia, chuyên khảo sát và kế thừa
thông tin sẵn có.
+ Trên cơ sở đó đi khảo sát ngoại nghiệp rà soát lại các thông tin thu thập được để
điều chỉnh lại cho phù hợp với thực tế.
+ Áp dụng phương pháp thống kê kinh tế, để so sánh các chỉ tiêu đánh giá ở hai
thời điểm trước và sau khi giao đất.
2.4.3. chỉnh lý và tổng hợp số liệu.
Trong quá trình điều tra xử lý số liệu ngoại nghiệp hoặc trực tiếp phỏng
vấn các hộ gia đình, qua đó tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của người dân sau đó
tổng hợp bảng biểu để làm cơ sở cho quá trình phân tích số liệu.
Các số liệu thu thập được tổng hợp ở các bảng biểu và được so sánh, phân
tích, đánh giá nhận xét, nội suy, qua hệ thống thông tin đó, quá trình tổng hợp số
liệu được sự hỗ trở của phần mềm EXCEL
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status