ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ - Pdf 12

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thập kỉ gần đây, du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng,
hoặc ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại hiệu quả cao về kinh tế - xã hội và
môi trường ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam tầm nhìn đến năm 2020 đã xác
định trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: “Liên kết chặt chẽ
các ngành liên quan đến hoạt động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du
lịch tổng hợp và trọng điểm, đưa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn”. Đặc biệt hơn nữa, du lịch sinh thái là một trong những loại hình du
lịch có đóng góp tích cực cho sự bảo tồn và phát triển bền vững nói chung và
cho phát triển cộng đồng địa phương nói riêng, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng
xa, nơi có nhiều khó khăn song có nhiều tiềm năng phát triển du lịch.
Sơn La là một tỉnh miền núi nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có điều
kiện tự nhiên không thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội, là địa bàn cư trú
của 11 dân tộc thiểu số. Nền kinh tế của tỉnh còn chậm phát triển, trong đó sản
xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ
trọng nhỏ. Mặc dù vậy nhưng ngành du lịch của tỉnh Sơn La vẫn nằm trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. “Khai thác có hiệu quả tiềm năng
về du lịch sinh thái, văn hóa, tham quan di tích lịch sử; phát triển kinh tế du
lịch, xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả các điểm du lịch vùng Mộc
Châu, Thị Xã, Mai Sơn và vùng hồ sông Đà, tour du lịch vùng Tây Bắc, Hà
Nội, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai” và “phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn
hóa, tham quan di tích lịch sử. Hình thành rõ các điểm du lịch vùng Mộc Châu,
Thị Xã và vùng hồ sông Đà, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát
1
triển, kinh doanh du lịch khách sạn, hình thành các tour du lịch đường dài.
Nâng doanh thu ngành du lịch khách sạn tăng 15 đến 20% trong năm”.
Sơn La là tỉnh có ưu thế về tiềm năng phát triển du lịch. Tuy nhiên,
những tiềm năng này chưa được nghiên cứu đánh giá đầy đủ để làm cơ sở cho
việc khai thác có hiệu quả phục vụ phát triển du lịch. Chính vì vậy, việc

3.1. Thế giới
Hoạt động du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài người, buổi ban
đầu thường đi kèm các hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểm các
vùng đất mới. Tuy nhiên, ngành du lịch là ngành khoa học trong hệ thống các
khoa học địa lí – địa lí du lịch – thì còn tương đối trẻ. Quá trình hình thành
địa lí du lịch như là một khoa học bắt đầu nửa sau những năm 1930 của thế kỉ
XX. Các công trình đầu tiên trong lĩnh vực địa lí du lịch tập trung nghiên cứu
các luồng du lịch và cả khai thác các địa phương với mục đích tham quan, tìm
hiểu, thăm dò thị trường, tìm cơ hội truyền bá giáo lí.
Việc đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ
mục đích du lịch, nghỉ ngơi, an dưỡng, chữa bệnh đã được các nhà địa lí, y
học, tâm lí học và những người yêu thích thiên nhiên quan tâm. Nhiều nhà địa
lý Xô Viết (A.G.Ixatsenko; V.G.Preobragienxki; L.I. Mukhina…) xác định
đây là một hướng ứng dụng quan trọng của địa lí bên cạnh việc phục vụ các
ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng và quy hoạch.
3.2. Việt Nam
3
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, hoạt động du lịch đã trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn mang lại nhiều lợi ích cho đất nước, đòi hỏi các
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cũng như các nhà quản lí phải chú ý đến
việc hoạch định chiến lược phát triển, trong đó việc đánh giá các điều kiện tự
nhiên phục vụ mục đích du lịch của các vùng, địa phương là một vấn đề đáng
được quan tâm.
Từ năm 1990 đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu tổng luận công
trình nghiên cứu tài nguyên du lịch; đã cho ra các chỉ tiêu, phương pháp đánh
giá mức độ thuận lợi của tài nguyên phục vụ mục đích phát triển du lịch, sức
chứa ở mức độ cụ thể, chi tiết hơn được nhiều tác giả thực hiện như: “Đánh
giá, khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì –
Hà Tây phục vụ mục đích du lịch” (Đặng Duy Lợi, 1993), “Cơ sở khoa học
của việc xác định các điểm, tuyến du lịch Nghệ An” (Nguyễn Thế Chinh,

Du lịch Sơn La được xem như là bộ phận của du lịch Bắc Bộ, là cửa ngõ
của tuyến du lịch miền Tây. Vì vậy, giữa chúng có mối quan hệ gắn bó. Trong
khu vực, Sơn La còn được xem như chiếc cầu nối giữa tuyến du lịch Hà Nội –
Điện Biên hay Sơn La – Lào Cai – Yên Bái. Quan điểm hệ thống cấu trúc cho
phép phân tích, tổng hợp và xác định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động sử
dụng tài nguyên và phát trển kinh tế xã hội tỉnh Sơn La.
4.1.3. Quan điểm lịch sử
Vận dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu hệ thống lãnh thổ để tìm
hiểu nguồn gốc phát sinh, các quá trình diễn biến theo thời gian và không gian
5
trên từng địa bàn cụ thể, trên cơ sở đó hiểu rõ những sự kiện có thật trong lịch
sử để rút ra được những bài học kinh nghiệm áp dụng cho hoạt động du lịch.
Quán triệt quan điểm lịch sử để có được những nhận định, những dự báo phát
triển chính xác và tổ chức du lịch trên lãnh thổ được thực hiện trong xu thế
phát triển chung của Việt Nam và thế giới.
4.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Giáo sư Raoul Blanchard (Grenoble 1890) cho rằng: “Du lịch là một
ngành kinh doanh, kinh doanh các danh lam thắng cảnh của của đất nước”.
Việc kinh doanh này đã dẫn đến việc gia tăng các thiệt hại về môi trường như
ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn, tài nguyên du lịch có thể bị xâm phạm, do
đó cần phải tính đến yếu tố phát triển bền vững khi sử dụng tài nguyên du
lịch, có nghĩa là phải tính đến hậu quả lâu dài sẽ nảy sinh trong tương lai.
4.1.5. Thực tiễn
Quan điểm thực tiễn được vận dụng để đánh giá đặc điểm, hiện trạng sử
dụng lãnh thổ cũng như trong việc đề xuất định hướng sử dụng hợp lí tài
nguyên lãnh thổ với những khuyến nghị và giải pháp có tính khả thi. Tất cả
những giải pháp đưa ra đều được xuất phát từ thực tiễn. Trên thực tế, nhiều
điểm du lịch ở Sơn La có tài nguyên khá hấp dẫn và độc đáo nhưng lại quá xa
đường quốc lộ, hệ thống CSVCKT còn kém nên chưa có doanh thu…
4.2. Phương pháp nghiên cứu

4.2.5. Phương pháp dự báo
7
Để tổ chức không gian hoạt động du lịch Sơn La trước mắt cũng như lâu
dài, phương pháp dự báo sẽ là công cụ hữu hiệu giúp cho việc tổ chức, khai
thác tự nhiên du lịch cũng như trong việc xây dựng tuyến điểm du lịch. Các yếu
tố trực tiếp, gián tiếp có ảnh hưởng đến tổ chức không gian du lịch là dự báo về
nguồn khách, cơ cấu khách và thị trường khai thác khách, dự báo về khả năng
đầu tư, tái tạo, nâng cấp các điểm du lịch hỗ trợ (văn hóa nhân văn), dự báo
phát triển cơ sở hạ tầng, mức tăng trưởng và phát triển của ngành du lịch.
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn hoàn thành đã phân tích được nguồn lực chính và thực trạng
phát triển du lịch, đánh giá các hình thức du lịch qua các tiêu chí đã được xây
dựng ở địa bàn tỉnh Sơn La.
Luận văn đã đề xuất được định hướng và các giải pháp cụ thể để phát
triển ngành du lịch Sơn La hiệu quả hơn.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở khoa học của việc đánh giá điều kiện tự nhiên và tài
nguyên du lịch tự nhiên để phát triển du lịch.
Chương 2. Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Sơn
La và việc đánh giá chúng phục vụ phát triển du lịch.
Chương 3. Vận dụng kết quả đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài
nguyên du lịch tự nhiên định hướng phát triển du lịch tỉnh Sơn La.

8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐÁNH GIÁ ĐIỀU
KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỰ NHIÊN ĐỂ PHÁT
TRIỂN DU LỊCH TỈNH SƠN LA
1.1. Cơ sở lý luận

định: “TNDL là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, DTLSVH, công trình
lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”. [21]
Trong quá trình khai thác tài nguyên du lịch cần chú ý đến những đặc
điểm rất quan trọng của nó, đặc biệt đối với các tài nguyên tự nhiên như:
- Tài nguyên du lịch hết sức phong phú, đa dạng với rất nhiều loại độc
đáo, quý hiếm có sức hấp dẫn đặc biệt đối với khách du lịch trong nước và
quốc tế và có điều kiện triển khai các loại hình du lịch khác nhau.
- Tài nguyên du lịch thường được phân bố trong không gian tương đối
rộng nên có khả năng đón nhận một lượng khách du lịch nhất định.
- Tài nguyên du lịch đối với mỗi loại và mỗi nơi có điều kiện thời gian
khai thác khác nhau. Có loại, có nơi có thể khai thác quanh năm nhưng cũng
có những trường hợp mang tính chất mùa vụ rõ rệt.
- Tài nguyên du lịch có tính chất cố định theo lãnh thổ nên có tính chất
ổn định trong việc tổ chức khai thác du lịch.
10
- Tài nguyên du lịch có khả năng làm giảm bớt sự đầu từ và phí tổn khai
thác cho phép nhanh chóng triển khai hoạt động du lịch và thu được hiệu quả
cao.
- Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần chỉ cần tuân theo các
quy tắc sử dụng hợp lý kết hợp với việc cải tạo và bảo vệ nghiêm ngặt.
Tài nguyên du lịch là yếu tố có tính chất quyết định trong việc hình thành
hoạt động du lịch. Thực tế cho thấy nơi nào có nhiều nguồn tài nguyên du
lịch, nhất là những tài nguyên đặc sắc, độc đáo và được khai thác tốt thì nơi
đó có ưu thế rất lớn trong việc thu hút khách du lịch và tạo tiền đề hết sức
thuận lợi để khai thác kinh doanh du lịch đạt được kết quả cao.
1.1.1.2. Khái niệm về du lịch
Từ xa xưa, du lịch được xem như là một sở thích, một hoạt động nghỉ
ngơi tích cực của con người. Vì vậy, du lịch đã xuất hiện và trở thành một

tham gia làm du lịch cùng với một tổ chức kinh tế nào đó (có thể cả với tổ
chức nước ngoài) nhằm khai thác những lợi thế (cả về tự nhiên và kinh tế xã
hội) để tăng thu nhập, để giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện sống ở địa
phương, bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên và giữ gìn được bản sắc
văn hóa địa phương.
Du lịch cộng đồng (Community tourism) là hoạt động du lịch có sự tham
gia tích cực của người dân địa phương từ các khâu quản lí, hoạt động, ra
quyết định bảo vệ. Du lịch cộng đồng được chú trọng ở những vùng nông
thôn thường là vùng nghèo và xa xôi cách trở. Hoạt động du lịch này phải thu
12
hút cả cộng đồng địa phương và đem lại lợi ích cho họ. Người dân địa phương
phát triển du lịch trong khu vực của họ làm việc với các đơn vị làm du lịch
khác, họ có cơ hội tạo ra việc làm, cải thiện điều kiện sống.
Về loại hình du lịch sinh thái, Hiệp hội du lịch sinh thái Anh – Lindberg,
K và D.E.Hawkins, 1993 định nghĩa: “Du lịch sinh thái là lữ hành có trách
nhiệm tới các khu thiên nhiên, bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho
nhân dân địa phương” [18]. Theo các tác giả Phạm Trung Lương và Nguyễn
Tài Cung: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên có mức độ giáo
dục cao về sinh thái và môi trường, có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi
trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng
địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn” [56].
Hội thảo về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam cũng có quan điểm
thống nhất: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và
văn hóa bản địa, có tính giáo dục môi trường và đóng góp cho các nỗ lực bảo
tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa
phương” [56].
“Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc
với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống” [27]. Du lịch văn hóa đáp ứng yêu cầu nâng cao nhận thức, hiểu
biết về các đối tượng văn hóa, xã hội, lịch sử kiến trúc, chế độ xã hội, cuộc

phát triển hay không, hiệu quả kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào yếu tố
cầu du lịch, đặc biệt là khách du lịch. Để đáp ứng nhu cầu đa dạng, ngày càng
14
cao của khách du lịch, các doanh nghiệp, các địa phương, các quốc gia cần
phát triển nhiều loại hình du lịch. Nhiều loại hình du lịch mới ra đời đều phải
dựa trên cơ sở đáp ứng của TNDL.
Tài nguyên tự nhiên gồm các yếu tố, các thành phần tự nhiên, các hiện
tượng tự nhiên, các quá trình biến đổi chúng hoặc có thể được khai thác và sử
dụng vào đời sống và sản xuất của con người.
Theo Khoản 1 (Điều 3, chương II) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy
định: “TNDL tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu,
thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể
được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”. [21].
Các loại tài nguyên du lịch tự nhiên không tồn tại độc lập mà luôn tồn
tại, phát triển trong cùng một không gian lãnh thổ nhất định, có mối quan hệ
qua lại tương đối chặt chẽ, theo những quy luật của tự nhiên, những quy luật
luôn vận động và biến đổi không ngừng như quy luật sinh địa hóa, quy luật
địa đới, quy luật tuần hoàn của nước, quy luật tuần hoàn của không khí…
Các tài nguyên tự nhiên luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên cũng như
các điều kiện văn hóa, kinh tế - xã hội và cũng thường được phân bố gần các
TNDL nhân văn. Nếu được quy hoạch, bảo vệ, khai thác hợp lí theo hướng bền
vững thì phần lớn các loại TNDL tự nhiên được xếp vào loại tài nguyên vô tận,
tài nguyên có khả năng tái tạo hoặc có quá trình suy thoái chậm.
1.1.2. Đánh giá điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên phục vụ
mục đích du lịch
1.1.2.1. Mục đích đánh giá
Trong việc đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ mục đích khác nhau, các
điều kiện tự nhiên luôn là khách thể tồn tại theo quy luật khách quan, còn mục
15
đích đánh giá là những chủ thể có những yêu cầu khác nhau. Mục đích của

Việc đánh giá điều kiện tự nhiên phục vụ mục đích du lịch thường dựa
vào các chỉ tiêu của việc nghiên cứu các chuyên ngành ảnh hưởng đến từng
thành phần. Trong luận văn sử dụng một số các chỉ tiêu sinh khí hậu:
+ Các điều kiện khí hậu thích hợp nhất cho con người hoạt động du lịch
đó là: nhiệt độ từ 16 – 26
0
C, độ ẩm tương đối 30 – 60%, tốc độ gió: 0,1 –
0,3=2m/gi (theo Gôrrômôxôp 1963).
+ Vùng dễ chịu về mùa hè với người Việt Nam nhiệt độ từ 27 – 20
0
C, độ
ẩm tương đối 80%, tốc độ gió 0,3 – 0,6m/gi (theo Đào Ngọc Phong 1987).
+ Điều kiện khí hậu dễ chịu nhất với người Việt Nam có nhiệt độ trung
bình từ 15 – 23
0
C (theo Đặng Duy Lợi, 1991).
Ở Việt Nam các chỉ tiêu thường ở mức độ tương đối với các loại hình
trên song du lịch ở Sơn La chỉ tiêu đó có khả năng duy trì và phát triển trên
một diện tích lớn hơn rất nhiều lần.
1.1.2.4. Phương pháp đánh giá
* Phương pháp đánh giá theo từng thành phần
Các thành phần tự nhiên luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn
khoa học chuyên ngành và có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng những
kiến thức của các chuyên ngành vào mục đích phục vụ du lịch trong đó có
những đóng góp tích cực của việc đánh giá điều kiện tự nhiên với du lịch.
Trong các thành phần tự nhiên đó, khí hậu được quan tâm nhiều nhất, khí
hậu ảnh hưởng đến hoạt động du lịch, thông qua các phép toán hoặc thực
17
nghiệm mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra những chỉ số khoa học. Từ đó khái
quát được những điều kiện khí hậu thuận lợi nhất cho hoạt động du lịch tạo

Sơn La là một tỉnh miền núi có số dân không lớn. Nếu xét về diện tích
Sơn La là một trong những tỉnh thưa dân nhất nước ta. Dân số năm 2009 của
Sơn La là 1.083,7 nghìn người, với mật độ dân số trung bình là 76 người/km
2
.
Dân cư phân bố không đều, tập trung đông ở khu vực thành phố Sơn La (286
người/km
2
), huyện Thuận Châu (97 người/km
2
), Mai Sơn (97 người/km
2
); dân
cư thưa thớt nhất ở các huyện Sốp Cộp (26 người/km
2
), huyện Bắc Yên (52
người/km
2
). Các huyện còn lại có mật độ dân số trung bình lớn hơn 50 đến
286 người/km
2
. Tỉ lệ gia tăng tự nhiên không cao, theo thống kê năm 2009 tỉ
lệ gia tăng tự nhiên của tỉnh là 1,30%.
Phần lớn dân cư tập trung ở các huyện có điều kiện tự nhiên thuận lợi
hay dọc theo hệ thống sông Đà và sông Mã như huyện Mộc Châu 152,6 nghìn
người, Thuận Châu 148,8 nghìn người, Mai Sơn, Sông Mã. Sốp Cộp là huyện
mới tách ra từ huyện Sông Mã nên dân cư còn thưa thớt (39,1 nghìn người) –
đây là huyện có số dân ít nhất trong tỉnh.
Hiện nay, trên toàn tỉnh có 12 dân tộc anh em cùng sinh sống trong đó
54% là dân tộc Thái, >20% dân tộc Mông, dân tộc Kinh là 10%, còn lại là các

20
đồng. Cơ cấu kinh tế của tỉnh chủ yếu vẫn thiên về phát triển các ngành kinh
tế thuộc nhóm 1, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ còn nhỏ. Tỉ trọng các ngành
trong cơ cấu GDP là ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản chiếm 43,37% (năm
2004: 47,99%), công nghiệp – xây dựng 22,0% (tăng hơn so với năm 2004:
4,49%) song còn tăng chậm, còn lại 34,63% thuộc về ngành dịch vụ (tăng hơn
so với năm 2004: 34,50%). Cũng như một số địa phương khác trong cả nước
và theo xu hướng chung hiện nay, Sơn La đang dần thực hiện sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỉ trọng của ngành nông – lâm nghiệp – thủy
sản, tăng tỉ trọng của 2 nhóm ngành còn lại nhằm nâng cao giá trị sản xuất
cho toàn tỉnh.
Tính riêng ngành công nghiệp, đến năm 2010 giá trị sản xuất công
nghiệp của tỉnh đạt trên 1.400 tỉ đồng, gấp gần 3 lần năm 2006, qua đó đưa
Sơn La ra khỏi danh sách tỉnh “trắng” về công nghiệp. Trong cơ cấu công
nghiệp Sơn La đang tận dụng thế mạnh của mình chính là công nghiệp điện
lực (nhất là thủy điện nhỏ và vừa), công nghiệp khai thác chế biến khoáng
sản, vật liệu xây dựng và chế biến nông – lâm sản. Tổng giá trị sản xuất công
nghiệp theo giá trị thực tế phân theo ngành năm 2008 đạt 1.701,67 tỉ đồng;
giá trị đóng góp chủ yếu thuộc về thành phần kinh tế Nhà nước (1.210,47 tỉ
đồng, chiếm 71,13%).
Là ngành kinh tế đóng vai trò tiền đề đối với kinh tế của tỉnh, nông –
lâm nghiệp và thủy sản vẫn chiếm giá trị cao trong cơ cấu GDP. Giá trị sản
xuất nông nghiệp phân theo ngành đạt giá trị thực tế là 4.789.660 triệu đồng
(năm 2008). Chiếm tỉ lệ cao nhất là ngành trồng trọt 75,46% (3.614.318 triệu
đồng); tiếp đó là ngành chăn nuôi (23,79%) còn lại là các hoạt động dịch vụ
khác. Trong đó, với lợi thế của từng vùng, nhất là hai cao nguyên Mộc Châu
và Nà Sản đã tạo bước đột phá trong chăn nuôi đại gia súc, góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Những đồi chè, cà phê, những mô hình chăn
21
nuôi đại gia súc đang mở ra hướng đi mới cho nông dân Sơn La dần thoát

thực hiện theo giá thực tế của các doanh nghiệp cũng đã chiếm 17,5% trong
cơ cấu vốn đầu tư ngoài Nhà nước (47,65%), còn lại là vốn của dân cư.
Như vậy, với thế mạnh về điều kiện tự nhiên, dân cư – xã hội Sơn La
đang dần trưởng thành, trở thành một trong những tỉnh có ý nghĩa đối với
vùng Tây Bắc.
1.2.2. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Sơn La
Trong những năm cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI số lượng khách đến với
Sơn La tăng khá nhanh. Năm 1999 là 62,6 ngàn lượt, năm 2008 là 280,5 ngàn
lượt, tăng gấp 4,5 lần so với năm 1999, khách quốc tế tăng 5,7 lần, khách nội
địa tăng 4,3 lần. Tốc độ tăng khách du lịch không đều qua các năm, trung bình
trong cả giai đoạn là 17,3%, khách quốc tế tăng 22,7%, khách nội địa tăng
16,1%. Năm 2004, số lượng khách tăng đột biến do năm 2004, kỉ niệm 50 năm
chiến thắng Điện Biên Phủ, du khách lên thăm Điện Biên và là năm hoàn thiện
việc nâng cấp quốc lộ 6. Từ năm 2005 tới nay, tốc độ tăng nhanh do du khách
lên thăm nhà máy thủy điện Sơn La khi mới khởi công xây dựng và Sơn La đã
có sự đầu tư để phát triển du lịch nên thu hút du khách nhiều hơn.
Trong cơ cấu khách quốc tế đến tỉnh Sơn La thì chủ yếu từ Pháp (30%),
sau đó là Thái Lan (17%), Anh (14%), Hà Lan (13%). Phần lớn khách quốc tế
đến Sơn La như là điểm trung chuyển trên đường đi Điện Biên.
23
Khách nội địa đến Sơn La chủ yếu từ Hà Nội, Thái Bình, Hòa Bình, Lai
Châu, Lào Cai Số lượng khách tăng, nhưng doanh thu không cao do số ngày
lưu trú trung bình của khách không cao.
Ngày lưu trú trung bình của khách là 1,5 ngày, khách quốc tế là 1,7 ngày,
khách nội địa là 1,2 ngày (bình quân tăng 0,5 ngày so với năm 1999). Sự gia
tăng ngày lưu trú đã phần nào khẳng định được sản phẩm du lịch của Sơn La
đã hấp dẫn du khách hơn, CSVCKT, CSHT đã được nâng cấp, đáp ứng được
những nhu cầu cần thiết cho du khách.
Mức chi tiêu trung bình của khách còn thấp. Năm 2008 có 280,5 ngàn
lượt khách, ngày lưu trú trung bình là 1,5 ngày, như vậy tổng số ngày khách

sinh hoạt như ăn và nghỉ.
Cũng như những ngành khác, ngành du lịch muốn phát triển tốt thì lực
lượng lao động có vai trò rất lớn. Lực lượng lao động liên quan trực tiếp đến
chất lượng dịch vụ, góp phần nâng cao chất lượng của sản phẩm du lịch. Bởi
thế số lượng, chất lượng lao động là một trong những tiêu chí quan trọng có
ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành và hiệu quả kinh doanh.
Số lượng lao động trong ngành tăng khá nhanh, giai đoạn từ 1999 đến
2008 tốc độ tăng trung bình năm gần 5%. Năm 1999 có 450 lao động, năm
2008 có 776 lao động. Ngoài số lao động tại khách sạn, nhà hàng trực tiếp
trong ngành thuộc doanh nghiệp nhà nước, Sơn La còn có lực lượng lao động
ở các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, tư nhân phục vụ trực tiếp khách
du lịch trong các lĩnh vực như lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status