BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------
NGUYỄN THỊ DUNG
ĐỊA LÍ GIAO THÔNG VẬN TẢI
TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành: Địa lí học
Mã số: 60.31.05.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Thông
HÀ NỘI - 2015
1
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
LỜI CẢM ƠN
Bản luận văn là tình yêu, lòng ham học hỏi, tìm tòi của tôi trong lĩnh vực
Địa lý học và để hoàn thiện được đề tài không thể thiếu sự giúp đỡ của nhà trường,
của khoa, của các thầy, cô giáo, của gia đình người thân và toàn thể bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo, GS.TS Lê Thông đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn
đến các thầy, cô giáo trong khoa Địa lý, đặc biệt là thầy cô giáo trong tổ Địa lí kinh
tế - xã hội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ của
mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang, Bộ Giao
GDP:
GTNT:
GTVT:
HĐH:
HĐND:
HTX:
JBIC:
JICA:
KCHT:
Ngân hàng phát triển Châu Á
An toàn giao thông
Vận tải khách
Đầu tư xây dựng kinh doanh
chuyển giao
Đầu tư xây dựng chuyển giao
Bê tông dự ứng lực
Bê tông nhựa
Bê tông xi măng
Công nghiệp hóa
Cấp phối
Cổ phần thương mại
Đường tỉnh
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổng sản phẩm quốc nội
Giao thông nông thôn
Giao thông vận tải
Hiện đại hóa
Hội đồng nhân dân
Hợp tác xã
Trái phiếu chính phủ
Thông tin liên lạc
Uỷ ban nhân dân
Vận tải hành khách công cộng
Vận tải khác
Ngân hàng thế giới
Xã hội chủ nghĩa
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
MỤC LỤC
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
DANH MỤC BẢNG
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢN ĐỒ
Bản đồ 1: Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Giang
Bản đồ 2: Bản đồ các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến giao thông vận tải tỉnh Bắc
Giang
Bản đồ 3: Bản đồ thực trạng phát triển giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang
dịch vụ, du lịch của các tỉnh trong nước với Trung Quốc và các nước trên thế giới.
Bắc Giang nằm giữa trung tâm giao lưu của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, nằm
trong hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn – Hà Nội - Hải Phòng – Quảng Ninh,
là cầu nối quan trọng giữa Trung Quốc và ASEAN. Vì vậy, việc phát triển GTVT
của tỉnh Bắc Giang không chỉ mang ý nghĩa trong sự phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh mà còn có ý nghĩa liên vùng cả nước và quốc tế, góp phần giữ vững anh ninh
quốc phòng.
Trong những năm gần đây, GTVT Bắc Giang đã có những bước phát triển
mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh
quốc phòng của tỉnh và của cả nước. Nhưng so với yêu cầu của sự nghiệp CNH,
7
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
HĐH của đất nước thì GTVT Bắc Giang vẫn chưa phát huy được hết các lợi thế có
sẵn của tỉnh và của vùng nên cần được đánh giá đúng thực trạng để có định hướng
và giải pháp phát triển hợp lí trong thời gian tới. Vì vậy, việc nghiên cứu GTVT tỉnh
Bắc Giang dưới góc độ địa lý là hết sức cần thiết.
Với mong muốn tìm hiểu bức tranh toàn cảnh về ngành GTVT của tỉnh Bắc
Giang và những tác động của GTVT đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nên
tác giả đã lựa chọn đề tài “Địa lí Giao thông vận tải tỉnh Bắc Giang”làm luận văn
tốt nghiệp cao học cho mình.
Lịch sử nghiên cứu đề tài
2.
GTVT là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy đã có rất nhiều đề tài và công trình nghiên cứu về lĩnh vực này dưới
đến năm 2020, 2030, NXB Giao thông vận tải, đã tổng hợp về hiện trạng GTVT và
đưa ra các chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển GTVT.
Bộ Giao thông vận tải cũng công bố các chiến lược phát triển GTVT như:
-
Chiến lược phát triển giao thông vận tải đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Chiến lược phát triển giao thông vận tải đường sắt đến năm 2020, định hướng đến
-
năm 2050.
Quy hoạch phát triển GTVT đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến
năm 2030.
Về các đề tài luận văn thạc sĩ đã bảo vệ gần đây trong chuyên ngành địa lý
học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội có một số đề tài về GTVT tiêu biểu là: Địa
lý GTVT đường ô tô Việt Nam (2009) của Nguyễn Thị Thu Hoài; Địa lý GTVT
đường sắt Việt Nam (2009) của Lê Thị Quế; Địa lý GTVT đường thủy Việt Nam
(2009) của Nguyễn Thị Minh Hương; Địa lý GTVT đường hàng không Việt Nam
(2009) của Vũ Thị Ngọc Phước. Một số đề tài nghiên cứu về Địa lý GTVT ở các
tỉnh như: Kết cấu hạ tầng GTVT tỉnh Quảng Ninh (2011) của Bùi Thị Hải Yến, Địa
lý GTVT TP.Hải Phòng (2012) của Lưu Thị Thu Hà, Địa lý GTVT tỉnh Phú Thọ của
Nguyễn Thị Châu Loan, Địa lý GTVT tỉnh Nghệ An của Nguyễn Thị Hằng,... Về
tỉnh Bắc Giang cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về GTVT.
Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn đề tài
3.
3.1 Mục đích
Từ những tổng quan về lý luận và thực tiễn về địa lý GTVT, đề tài tập trung
triển, phân bố và thực trạng phát triển của ngành GTVT tỉnh Bắc Giang giai đoạn
2000 – 2013: về mạng lưới GTVT, kết quả hoạt động của ngành GTVT
Về lãnh thổ: Đề tài chủ yếu nghiên cứu trên phạm vi toàn tỉnh Bắc Giang
-
và có chú ý tới sự phân hoá theo đơn vị hành chính cấp huyện và tương đương.
Đồng thời có liên hệ với các tỉnh lân cận và tiểu vùng Đông Bắc.
Về thời gian: Đề tài tập trung trong giai đoạn 2000 – 2013 và tầm nhìn
-
đến 2030.
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.
4.1 Quan điểm
4.1.1
Quan điểm tổng hợp
Đây là quan điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu địa lý nói
chung và địa lí kinh tế - xã hội nói riêng và xuất phát từ chính đối tượng nghiên cứu
của Địa lý kinh tế - xã hội. Các đối tượng này rất phong phú, đa dạng và chịu sự tác
động của nhiều nhân tố và có sự phân hóa trong không gian với mối quan hệ nhiều
chiều. Vì thế, quan điểm này đòi hỏi việc phân tích đối tượng nghiên cứu trong sự
vận động biến đổi, trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố cấu thành
chúng và với các hệ thống khác.
Vì vậy khi nghiên cứu về ngành giao thông vận tải phải nghiên cứu trong
mối quan hệ tác động của vị trí, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội ảnh
4.1.4
Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng không ngừng biến đổi theo không gian và thời gian.
Sự phát triển GTVT không nằm ngoài quy luật đó. Chính vì vậy, cần phải xem xét
sự phát triển giao thông vận tải trong từng giao đoạn lịch sử và đặt nó trong từng
giai đoạn cụ thể, đặt nó trong mối quan hệ thay đổi về thể chế, chính sách kinh tế,
xã hội ở từng giai đoạn nhất định. Từ đó có thể đánh giá những khả năng, triển vọng
phát triển và đưa ra quy hoạch phát triển mạng lưới GTVT tỉnh Bắc Giang trong
những giai đoạn tiếp theo.
4.1.5 Quan điểm phát triển bền vững
Bắc Giang là một tỉnh giàu tiềm năng về phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ,
và có nguồn nhân lực dồi dào. Do vậy cần phải nhanh chóng hoàn chỉnh, phát triển
một hệ thống giao thông hiện đại nhằm tạo tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, củng cố an ninh quốc phòng.
Sự phát triển của ngành GTVT sẽ là động lực cho sự phát triển các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, song cần xem xét sự phát triển trong mối quan hệ tác động đến các
11
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
ngành khác như du lịch, môi trường… sao cho đảm bảo sự phát triển bền vững về
kinh tế - xã hội - môi trường.
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1
Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
bản đồ thực trạng GTVT tỉnh Bắc Giang.
12
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
Phương pháp dự báo
4.2.5
GTVT là tiền đề cho sự phát triển kinh tế - xã hội nên việc phân tích và dự
báo xu hướng phát triển của ngành trong tương lai là hết sức cần thiết. Trong việc
xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thì việc phát triển GTVT bao giờ
cũng được đề cập tới và thường được đầu tư trước để làm tiền đề khai thác một
vùng lãnh thổ.
Đề tài được thực hiện tuân theo nhiều quan điểm và bằng nhiều phương pháp
nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên, các quan điểm và phương pháp trên không tách
rời mà được phối hợp với nhau, vận dụng một cách tổng hợp trong các giai đoạn
nghiên cứu của tác giả mang lại bức tranh toàn cảnh về GTVT tỉnh Bắc Giang.
Những đóng góp của đề tài
5.
Luận văn có một số đóng góp chủ yếu sau đây:
-
Kế thừa, bổ sung và cập nhật cơ sở lý luận và thực tiễn về GTVT
-
Chương 3. Định hướng và giải pháp phát triển ngành GTVT tỉnh Bắc Giang đến
năm 2030
13
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỊA LÍ
GIAO THÔNG VẬN TẢI
1.1 Cơ sở lí luận
Khái niệm
1.1.1
Theo C.Mác: “Ngoài ngành khai khoáng, ngành nông nghiệp và công nghiệp
chế biến ra, còn có một ngành sản xuất vật chất thứ tư nữa, ngành đó cũng trải qua
ba giai đoạn sản xuất khác nhau là thủ công nghiệp, công trường thủ công và cơ khí.
Đó là ngành vận tải, không kể vận tải, không kể vận tải người hay hàng hóa”. [17]
-Phân loại:
Theo loại hình, GTVT được chia thành:
+ Vận tải đường bộ (đường ô tô, đường sắt)
+ Vận tải đường thủy (đường sông, đường biển)
+ Vận tải đường hàng không
+ Vận tải đường ống
Theo nhiệm vụ, GTVT có:
+ Vận tải công cộng phục vụ chung cho lĩnh vực lưu thông và dân cư
+ Vận tải chuyên dùng (trong nội bộ ngành sản xuất)
- Đối với ngành nông nghiệp: nếu giao thông vận tải không phát triển thì
không thể nói đến sự phát triển của nền nông nghiệp thâm canh và chuyên môn hóa.
Bởi vì khi đó, nông nghiệp không được cung cấp kịp thời phân bón, thuốc trừ sâu,
máy móc, vật tư; sản phẩm nông nghiệp không được chuyên chở kịp thời sẽ bị
hỏng, chất lượng không đảm bảo… trước khi đến được nơi chế biến và tiêu thụ.
- Đối với thương mại – du lịch: sự phân bố hợp lí các điểm bán buôn sẽ làm
giảm khối lượng luân chuyển hàng hóa tới mức tối ưu. Còn việc tăng số lượng các
điểm bán lẻ lại làm tăng sự luân chuyển hàng hóa bán lẻ. Còn đối với ngành du lịch,
sự phát triển của ngành GTVT tạo điều kiện biến các tiềm năng du lịch thành hiện
thực, đảm bảo sự di chuyển của con người trong các chuyến du lịch xa cũng như tạo
điều kiện khai thác sớm và có hiệu quả các đối tượng du lịch.
1.1.2.2 Giao thông vận tải có ảnh hưởng rất lớn tới sự phân bố sản xuất
Nguyên tắc trong phân bố sản xuất là phải làm sao cho tổng chi phí về chuyên
chở các sản phẩm đầu vào cũng như đầu ra phải nhỏ nhất. Nên khi GTVT phát triển
sẽ giảm được chi phí vận tải, tăng tốc độ vận chuyển, độ an toàn thì các ngành sản
xuất mới có điều kiện mở rộng vùng tiêu thụ sản phẩm và quy mô sản xuất.
GTVT có ý nghĩa quan trọng đối với sự phân bố lãnh thổ, lực lượng sản xuất
và phát triển vùng. Nếu GTVT được tổ chức và phân bố hợp lí nó sẽ tạo điều kiện
kết nối các trung tâm tăng trưởng hình thành nên vùng kinh tế mới, hình thành nên
các “dải’, các “hành lang” kinh tế. GTVT còn giúp kết nối những vùng xa xôi, hẻo
lãnh đến các tuyến đường chính góp phần tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo. Bản
thân mỗi đầu mối GTVT lại là một trong những yếu tố tạo vùng, tác động vào bộ
máy sản xuất của vùng góp phần hình thành nhiều vùng chuyên môn hóa.
15
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
Ví dụ: 90% đầu tư vào hành lang kinh tế Hà Nội – Hải Phòng sẽ không diễn
16
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
Chính vì vậy, trình độ phát triển của ngành GTVT có thể dùng làm thước đo
về trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Đặc điểm của ngành GTVT
1.1.3
GTVT có những đặc điểm sau đây: [17]
1.1.3.1
Sự chuyên chở là sản phẩm đặc thù của ngành giao thông vận tải
C.Mác đã khẳng định, GTVT là ngành sản xuất vật chất quan trọng của xã
hội và đứng thứ tư sau công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và sản xuất
nông nghiệp. Đối với tất cả các ngành sản xuất vật chất, sản phẩm được tạo ra là
những sản phẩm cụ thể, hữu hình mà chúng ta có thể nhìn thấy được, cầm nắm
được, sử dụng được cho đời sống hoặc cho sản xuất. Chẳng hạn như sản xuất nông
nghiệp có hàng loạt sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống, từ cái ăn hàng ngày
đến nguyên liệu cho các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến lương
thực, thực phẩm. Cũng tương tự như vậy, sản phẩm của ngành công nghiệp cũng rất
phong phú và đa dạng. Từ những sản phẩm tiêu dùng đơn giản hằng ngày như quần
áo, giày dép và những sản phẩm phức tạp như máy móc, trang thiết bị là tư liệu sản
xuất cho ngành kinh tế khác.
GTVT là ngành dịch vụ, cũng giống như đặc điểm các ngành dịch vụ nói
chung là bản thân không trực tiếp tạo ra của cải vật chất, cũng không làm tăng khối
lượng hay thay đổi tính chất của sản phẩm, mà chỉ chuyển dịch vị trí của nó từ nơi
GTVT là ngành tiêu thụ rất nhiều nhiên liệu như xăng, dầu… (gần ¼ lượng
nhiên liệu khai thác được của thế giới là phục vụ cho ngành vận tải). GTVT cũng là
ngành cần rất nhiều nguyên liệu như sắt, thép… để sản xuất ra các phương tiện vận
tải như ô tô, tàu hỏa, mạng lưới đường ray, ga tàu, cảng biển, bến bãi…Đây là
ngành tiêu thụ 1/3 sản lượng của ngành luyện kim đen và khoảng 70% sản lượng
cao su thế giới. Vì thế, ngành GTVT có mối quan hệ qua lại mật thiết với các ngành
kinh tế khác. Ngành này phát triển sẽ tạo điều kiện các ngành kinh tế khác cùng
phát triển. Ngược lại, sự phát triển của các ngành kinh tế khác lại trở thành tiền đề
để phát triển GTVT.
Ngành GTVT thu hút rất nhiều lao động. Bên cạnh số lao động tham gia trực
tiếp vào các hoạt động vận tải còn có một bộ phận đông đảo lao động gián tiếp. Và
nguồn lao động này nhìn chung có tay nghề và trình độ chuyên môn.
1.1.3.3
GTVT có sự phân bố rất đặc thù
Sự phân bố GTVT rất đặc biệt , khác hẳn những ngành kinh tế khác.
Đối với nông nghiệp, sự phân bố của ngành (chủ yếu là trồng trọt) là phân
tán theo không gian và được lí giải liên quan đến đặc điểm quan trọng hàng đầu của
nông nghiệp. Đó là đất trồng được coi như tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể
thay đổi được. Một khi tư liệu sản xuất chính là đất trồng thì sự phân bố của ngành
trồng trọt phải trải rộng theo không gian. Đối với công nghiệp lại khác hẳn. Sản
xuất công nghiệp có sự tập trung (trừ công nghiệp khai khoáng và khai thác gỗ).
18
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
Ở những vùng đồng bằng, địa hình bằng phẳng mật độ đường giao thông dày
đặc hơn và tập trung nhiều loại hình phương tiện GTVT hơn các vùng khác.
Ở vùng đồi núi, địa hình dốc và bị chia cắt nên thường gây khó khăn cho
việc xây dựng các công trình GTVT. Đối với các tuyến đường bộ phần lớn là quanh
co để giảm bớt độ dốc của tuyến đường và dựa theo các đường bình độ. Còn các
tuyến đường sắt cách tốt nhất để giảm bớt độ cao, sự quanh co của địa hình thường
phải xây dựng các tuyến đường hầm xuyên núi.
b. Khí hậu
19
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng rõ rệt tới hoạt động vận tải, nó tạo ra “tình
địa đới” và “tính mùa” trong hoạt động giao thông vận tải.
Ở những vùng hoang mạc, lạc đà là phương tiện vận tải truyền thống nhưng
ngày nay bên cạnh phương tiện vận tải thô sơ đấy còn có những phương tiện vận tải
hữu hiệu quan trọng như ô tô. Còn ở những ôn đới, các xe gạt tuyết phải làm việc
nhiều hơn trong mùa đông. Trong các phương tiện vận tải phải có các hệ thống lò
sưởi, sử dụng các loại dầu bôi trơn chịu được nhiệt độ thấp, hệ thống đèn chống
sương mù… Đối với các vùng cận cực lạnh giá, bên cạnh những chiếc xe quệt
người ta còn sử dụng máy bay trực thăng, tàu phá băng…
Tính mùa khí hậu tạo ra tình mùa vụ của nhiều ngành kinh tế, vì thế cũng tác
động mạnh mẽ hơn tới tính mùa của hoạt động vận tải. Ở các nước nhiệt đới, nhìn
chung hoạt động giao thông vận tải có thể diễn ra quanh năm nhưng cũng gặp
không ít khó khăn với những loại hình thời tiết xấu như bão, lũ lụt, hạn hán… Đối
với những nước ở vùng ôn đới và hàn đới hoạt động vận tải về mùa đông thường bị
cản trở do băng tuyết.
c. Hệ thống sông ngòi
thúc đẩy nhu cầu vận chuyển trên các tuyến giao thông.
Như vậy, điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng mạnh tới GTVT về lựa chọn cơ
cấu loại hình vận tải, công tác thiết kế, chi phí đầu tư, hoạt động… Tuy nhiên,
những khó khăn của điều kiện tự nhiên vẫn có thể khắc phục được khi trình độ khoa
học công nghệ ngày càng phát triển. Vì vậy nhân tố tự nhiên chỉ đóng vai trò quan
trọng trong sự phát triển của ngành GTVT.
Kinh tế - xã hội
1.1.4.3.
Sự phát triển và phân bố của các ngành kinh tế quốc dân có ý nghĩa quyết
định đối với sự phát triển, phân bố ngành GTVT do các ngành kinh tế là khách
hàng của ngành này. Mặt khác, các ngành công nghiệp và dịch vụ cũng góp phần
trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật cho ngành GTVT.
a. Sự phát triển và phân bố các ngành kinh tế
Các ngành kinh tế là khách hàng chính của ngành GTVT, chính vì vậy, sự
phát triển của các ngành kinh tế được phản ánh rõ ở một số chỉ tiêu chính về vận tải
như khối lượng hàng hóa và hành khách vận chuyển, luân chuyển, cự li vận
chuyển...
Ngoài ra, sự tăng trưởng của nền kinh tế còn giúp đẩy nhanh việc xây dựng
cơ sở vật chất cho ngành GTVT và gián tiếp đẩy nhanh quá trình đô thị hóa.
Sự phát triển và phân bố các ngành kinh tế có ảnh hưởng đến sự phát triển,
phân bố, hoạt động của mạng lưới GTVT. Sự tập trung công nghiệp thành các điểm,
tuyến, cụm và khu công nghiệp làm tăng cường các luồng vận chuyển trên một lãnh
thổ. Mối quan hệ giữa tập trung công nghiệp và mở rộng quy mô sản xuất có liên
quan đến sự mở rộng vùng cung cấp nguyên liệu và thị trường tiêu thụ, điều này tạo
điều kiện tăng khối lượng vận chuyển cũng như cự li vận chuyển.
21
d. Đường lối chính sách
Các chính sách đầu tư có vai trò là đòn bẩy, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự
phát triển của GTVT. Nhìn chung các quốc gia trên thế giới đều thấy rõ được vai trò
quan trọng của ngành GTVT đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
và an ninh quốc phòng. Ngành GTVT thường được dầu tư đi trước một bước. Nhà
22
Học viên: Nguyễn Thị Dung - K23
Địa lí GTVT tỉnh Bắc Giang - Luận văn thạc sĩ Địa lý học
nước cùng với các quy chế, khuôn chính sách cho phép xây dựng các quy hoạch
phát triển GTVT phù hợp với mỗi quốc gia.
e. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ
Sự tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là tiến bộ trong kỹ thuật xây
dựng đã khắc phục được phần nào những khó khăn về mặt tự nhiên. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế, con người thường đòi hỏi cao hơn về các phương tiện
vận chuyển về tốc độ, sự tiện nghi đến độ an toàn... điều này đòi hỏi khoa học kỹ
thuật và công nghệ cần được nghiên cứu và ứng dụng để đáp ứng nhu cầu trên.
Ngoài ra, việc đầu tư cho khoa học và công nghệ áp dụng cho xây dựng, thiết kế các
công trình giúp giảm chi phí đầu tư, nhân lực và rút ngắn thời gian thi công.
1.1.5. Các tiêu chí đánh giá
Để đánh giá hoạt động GTVT của một quốc gia, vùng lãnh thổ, người ta
thường sử dụng hai nhóm chỉ tiêu là mạng lưới GTVT và hoạt động vận tải. Mỗi
nhóm chỉ tiêu sẽ phản ánh một khía cạnh nhất định của mạng lưới GTVT.
Các tiêu chí về mạng lưới giao thông
∑ Lđ
∑F
x 1000
Trong đó:
δđ
: Mật độ mạng lưới đường (km/1000km2)
∑ Lđ
∑F
-
: Tổng chiều dài của các loại đường giao thông (km)
: Tổng diện tích của vùng tương ứng (km2)
Mật độ mạng lưới đường so với dân số: được xác định bằng tương quan giữa chiều
dài hệ thống đường so với số người tương ứng trên lãnh thổ. Đơn vị tính là km/1000
người.
Công thức tính như sau:
δt =
∑ Lt
∑F
x 1000
Trong đó:
-
tầng trên; thông tin tín hiệu…
Đường thủy: chiều dài, chiều rộng, chiều sâu tuyến luồng, phân loại cảng.
-
Các tiêu chí vận tải
1.1.5.2.
Chất lượng và khối lượng phục vụ của hoạt động vận tải được đo bằng các
nhóm chỉ tiêu khác nhau: chỉ tiêu doanh thu vận tải và bốc xếp; chỉ tiêu năng lực
vận tải; chỉ tiêu phương tiện vận tải.
a. Doanh thu vận tải
-
Tổng doanh thu (triệu đồng hoặc tỉ đồng)
-
Phân theo ngành vận tải
+ Đường ô tô
+ Đường sắt
+ Đường thủy
b. Năng lực vận tải
•
Khối lượng vận chuyển