Nghiên cứu phương pháp tính giá trị kinh tế của nước cho các hộ sử dụng nước khác nhau tại lưu vực sông hồng - Pdf 13

Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn
Trờng đại học thuỷ lợi
*****

báo cáo tổng hợp

Đề TàI NGHIÊN CứU KHOA HọC CÔNG NGHệ CấP Bộ:
Nghiên cứu phơng pháp tính
giá trị kinh tế của nớc cho các hộ
sử dụng nớc khác nhau
tại lu vực sông hồng

C quan ch trỡ: Trng i hc Thu li
Ch nhim ti: CN. o Vn Khiờm 7405
02/6/2009


các mục đích nói trên.
• Quy hoạch phân bổ tối ư
u các sử dụng nước trong phạm vi một lưu vực sông.
Nhưng mục tiêu này không phải là mục tiêu chính của đề tài, và điều kiện về
thời gian và nguồn lực có hạn nên chúng tôi chỉ giới hạn trong phạm vi nhỏ.
2. Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu chính của đề tài bao gồm:
a, Nghiên cứu hiện trạng về giá trị kinh tế của các loại hình sử dụng nước khác
nhau tại Đồng bằng sông H
ồng
- Thu thập các số liệu khí hậu, thời tiết, thuỷ văn của hệ thống lưu vực sông Hồng
- Xác định hàm cầu sử dụng nước tưới, nước sinh hoạt đô thị, cầu sử dụng điện,
cầu sử dụng nước cho công nghiệp, thương mại, thuỷ sản thuộc lưu vực cụ thể
mỗi nội dung tính cầ
u sử dụng nước nói trên tập trung vào các nội dung sau:
o Nghiên cứu tổng quan về phương pháp luận tính cầu
o Thu thập số liệu cho việc tính cầu
o Điều tra về hiện trạng nhu cầu sử dụng nước
o Tính toán hàm cầu sử dụng nước
- Nghiên cứu tổng quan về các điều kiện chính sách, thể chế của ngành nước
o Phân tích tình hình áp dụng luật nướ
c tại khu vực để rút ra một số vấn đề
như:
• Xác định phạm vi quyền sử dụng nước để trên sở đó xây dựng
ràng buộc phân phối sử dụng nước trong mô hình;
• Xác định phạm vi của nhà nước và tư nhân trong sử dụng nước
để đưa vào quan hệ giữa các mô hình con trong mô hình tính
toán giá trị và giá nước;
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng

kiểm tra sự phù hợp của bài toán đặt ra với các chuẩn mực củ
a kinh tế học vi
mô thông qua các mô hình toán học từ đơn giản tới phức tạp.
- Phương pháp thống kê kinh tế: là phương pháp phân tích toán học việc lấy mẫu,
thu thập số liệu thống kê kinh tế, trình bày và biểu diễn các đặc trưng của các
liệt số liệu thống kê kinh tế, kiểm định tính đúng đắn trong việc thu thập số liệu
thống kê và các tài liệu quan sát kinh tế.
- Phương pháp kinh tế l
ượng: là phương pháp căn bản của các nhà kinh tế để ước
lượng các tham số của mô hình từ các số liệu thống kê. Phương pháp này cung
cấp các phương pháp tính toán các giá trị ước lượng và kiểm định tính đúng đắn
của các ước lượng theo quan điểm của lý thuyết thống kê toán học. Phương
pháp kinh tế lượng được phân chia thành hai loại:
o Phương pháp kinh tế lượng cổ điển với phương pháp bình ph
ương tối
thiểu (OLS): là phương pháp căn bản cho các trường hợp trong môi
trường các giả thiết của kinh tế lượng cổ điển.
o Phương pháp kinh tế lượng nâng cao: gồm những phương pháp áp dụng
với những tiếp cận mới chủ yếu để giải quyết các trường hợp ngoài giới
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
3
hạn của mô hình cổ điển như phương pháp ML, phương pháp GMM,
phương pháp GLS, …
- Phương pháp đánh giá tuỳ hoàn cảnh (CVM – Contigent Valuation Method).
Đây là phương pháp mới được áp dụng rộng rãi trên thế giới nhằm ước tính giá
trị kinh tế cho các loại dịch vu sinh thái và môi trường. Nó là trường hợp riêng
của mô hình kinh tế lượng khi số liệu không được biểu hiện quan sát trực tiếp
trên thị trường.

Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
4
dụng trong mô hình tính toán giá trị nước
Chuyên đề 10 Mô hình thay đổi thể chế trong quản lý tưới
Chuyên đề 11 Tổng hợp phân tích thể chế trong điều kiện thay đổi chính
sách thủy lợi phí
Chuyên đề 12 Mô hình tối đa hợp lý - thông tin đầy đủ và ứng dụng trong
mô hình tính toán giá trị nước

5. Kết luận:
- Bài toán tính toán giá trị kinh tế, mà vấn đề cơ bản là xác định hàm cầu, của các
sử dụng nước là hết sức quan trọng vì lý do các sử dụng nước vốn nổi tiếng là các
hàng hóa và dịch vụ có nhiều tính chất “thất bại thị trường” cần được tính toán
hiệu chỉnh để đáp ứng các yêu cầu làm chính sách
- Các nghiên cứu của các chuyên gia hàng đầu trên thế giới về các l
ĩnh vực này
tăng nhanh trong các hoạt động nghiên cứu về tài nguyên nước, tuy nhiên, điều
này chưa được các chuyên gia nghiên cứu ở Việt nam chú trọng. Bằng chứng là
số bài viết chuyên nghiệp về những chủ đề này chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.
- Tuy nhóm nghiên cứu đã các những bước đi đầu tiên trong việc nghiên cứu tính
toán giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên và môi trường, cụ thể là tài nguyên
nước, nhưng những công việ
c khổng lồ vẫn còn nằm ở phía trước. Một số giá trị
kinh tế chưa được đề cập là giá trị kinh tế của du lịch liên quan tới nước, giá trị
kinh tế của nước giành cho sinh thái, giá trị kinh tế của nước bị ảnh hưởng bởi các
điều kiện biến đổi khí hậu, …. Chúng tôi đề nghị các cấp quản lý cần nhanh
chóng quan tâm tới những chủ đề này nhằm bả
o vệ các nguồn lợi ích to lớn của

3. Cách tiếp cận 17

Chương I: TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ TRỊ KINH TẾ SỬ DỤNG
NƯỚC 18
Giới thiệu 18
I.1 Khái niệm giá trị 20
I. 2 Khái niệm “ý muốn thanh toán” (WTP) và các thước đo phúc lợi khác 21
I. 2. 1 Giới thiệu 21
I. 2. 2 Giá trị tài nguyên với giá bóng 22
I.3 Đo lường thay đổi phúc lợi 24
I.3.1 Quan hệ ưa thích cá nhân và đường cầu 24
I.3.2 Thước đo phúc lợi ứng với nh
ững thay đổi trong giá cả 25
I.4 Giá trị thị trường đối trọi với giá trị phi - thị trường 41
II. Giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên tự nhiên 41
III.1.1. Giá trị sử dụng 43
III.1.2. Các giá trị phi - sử dụng 44
III.2.1 Tầm quan trọng của một chính sách định giá nước hợp lý 45
III.2.2 Phân bổ nước hiệu quả 46

Chương II: TÍNH TOÁN CẦU VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA NƯỚC TƯỚI 51
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 51
I.1 Mục tiêu chính sách 51
I.2 Tình hình tưới ở Lưu vực sông Hồng và sông Thái bình 52
I.3 Tóm tắt 54
II. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TÍNH CẦU NƯỚC TƯỚI 55
II.1 Tiếp cận sử dụng nhiều số liệu 55
II.1.1 Các nghiên cứu cầu kinh tế lượng 55
II.1.2 Các nghiên cứu cầu quy ho
ạch tối ưu 58

ng La khê . 82
V.2.3 Các kết quả tính cầu tưới và giá trị kinh tế của tưới cho Hệ thống Liễn sơn
86
V.2.4 Các kết quả tính cầu tưới và giá trị kinh tế của tưới cho Hệ thống Núi cốc 89
V.3 Tóm tắt các kết quả tính toán và so sánh 92
VI. SỬ DỤNG KẾT QUẢ TÍNH CẦU ĐỂ PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH 93
VI.1 Giới thiệu 93
VI.2 Trường hợp Hệ thống Tưới Núi cốc, Thái guyed 94
VI.2.1 Hoạt
động cung cấp nước tưới của hộ nông dân 95
VI.2.2 Sử dụng các ước lượng từ tính toán giá trị kinh tế nước tưới cho trường hợp
Núi cốc 98
VI.2.3 Hoạt động tiêu dùng nước của hộ nông dân 98
VI.2.4 Minh họa cho điều kiện tưới của Núi cốc 100
VI.3 Phân tích tác động của chính sách miễn giảm thủy lợi phí tới hành vi của công ty
cung cấp nước và minh họa bởi Hệ th
ống Núi cốc 101
VI.3.1 Phân tích tổng quát 101
VI.3.2 Phân tích tác động tới nước trong hệ thống 102
VI.4 Trường hợp Hệ thống Liễn Sơn tỉnh Vĩnh Phúc 106
VI.5 Trường hợp nghiên cứu ở hệ thống La khê-Hà Tây 110
VI.6 Tóm tắt 111
VII. KẾT LUẬN VỀ TÍNH TOÁN GIÁ TRỊ VÀ CẦU TƯỚI 112

Chương III: TÍNH TOÁN CẦU VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA NƯỚC SINH
HOẠT NÔNG THÔN 114
I. MỞ ĐẦU 114
II. HIỆN TRẠNG CUNG CẤP NƯỚC SINH HOẠT TẠI LƯU VỰC SÔNG HỒNG –
THÁI BÌNH 116
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho

V.1.1 Thiết kế bảng hỏi 130
V.1.2 Mô tả quá trình phỏng vấn 134
V.2. Sơ đồ tổ chức điều tra và thu thập số liệu 135
V.2.1 Tổ chức điều tra về kỹ thuật, công nghệ tại các bộ, ban, ngành và các công ty
kinh doanh trong l
ĩnh vực cấp thoát nước 135
V.2.2 Tổ chức điều tra thí điểm và điều tra chính thức 136
VI. CHƯƠNG TRÌNH TÍNH TOÁN CẦU NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN, GIÁ
TRỊ KINH TẾ CỦA NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN TẠI CÁC ĐỊA ĐIỂM ĐIỀU
TRA 136
VI.1 Biên tập số liệu điều tra 136
VI.2 Xử lý số liệu 136
VI.3 Chạy chương trình tính toán ước lượ
ng các tham số của mô hình cầu nước sinh
hoạt nông thôn 137
VI.3.1 Các kết quả trong giai đoạn điều tra thí điểm 137
VI.3.2 Các kết quả trong giai đoạn điều tra chính thức 143
VI.3.3 Các kết quả tính toán giá trị kinh tế của sử dụng nước sinh hoạt nông thôn
tại một số địa điểm điều tra 163
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
8
VII. CÁC KẾT QUẢ TÍNH TOÁN VÀ KẾT LUẬN 168
VII.1 Kết luận 168
VII.2 Phần kiến nghị 169

Chương IV: NƯỚC SINH HOẠT ĐÔ THỊ, NƯỚC CHO THỦY SẢN VÀ NƯỚC
CÔNG NGHIỆP 170
I. GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NƯỚC SINH HOẠT ĐÔ THỊ 170

V. KẾT LUẬN 208
VI. CẦU NƯỚC CÔNG NGHIỆP 209
VI.1 Cơ sở 209
VI.2 Sử dụng nước trong quá trình công nghiệp 209
VI.3 Cầu sử dụng nước công nghiệp 211
VI.4 Ví dụ hàm sả
n xuất sử dụng nước công nghiệp tuyến tính của một số ngành công
nghiệp 212
VI.5 Ví dụ cầu sử dụng nước công nghiệp cho sản xuất thép 213
VII. CẦU NƯỚC CHO THỦY SẢN 215
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
9
VII.1 Giới thiệu 215
VII.2 Tính toán cầu và giá trị kinh tế nước cho thủy sản 215

Chương V: CẦU ĐIỆN SINH HOẠT ĐÔ THỊ 218
I. GIỚI THIỆU 218
II. MÔ HÌNH HÓA CẦU VỚI GIÁ PHI TUYẾN 219
III. CÁC ĐỊNH DẠNG NGẪU NHIÊN VÀ TIÊU DÙNG DỰ KIẾN 222
IV. ƯỚC LƯỢNG GIÁ TRỊ KINH TẾ VÀ CẦU ĐIỆN SINH HOẠT ĐÔ THỊ VÀ
PHƯƠNG PHÁP SUY LUẬN RA CẦU NƯỚC CHO THỦY ĐIỆN 224
IV.1 Giới thiệu 224
IV.2 Một số kết quả máy tính về ước l
ượng của các tham số của mô hình cầu 224
IV.3 Một số kết quả tính giá trị kinh tế của điện sinh hoạt 226
IV.4 Phương pháp suy luận ra cầu đối với nước sử dụng để phát điện sinh hoạt 227
IV.5 Áp dụng thực hành phương pháp suy luận cầu sử dụng nước cho phát điện ở quy
mô hộ gia đình ………………………………………………………………………228

Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
10
Chương VII: PHÂN BỔ TỐI ƯU TÀI NGUYÊN NƯỚC VÀ CHƯƠNG TRÌNH
TÍNH TOÁN PHÂN BỔ TỐI ƯU NGUỒN NƯỚC 242
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 242
II. BÀI TOÁN QUY HOẠCH TỐI ƯU PHI TUYẾN 245
II.1 Hàm mục tiêu của bài toán 245
II.2 Hiệu quả phân bổ 245
II.3 Thiết lập các ràng buộc của bài toán 246
II.3.1. Ràng buộc chung của bài toán quy hoạch 247
II.3.2 Ràng buộc của bài toán cụ thể 247
II.3 Phương pháp giải bài toán quy ho
ạch tối ưu phi tuyến 250
III. ỨNG DỤNG PHẦN MỀM TÍNH TOÁN TỐI ƯU LINGO 5 252
III.1 Chức năng của phần mềm tính toán 252
III.2 Những ưu điểm và nhược điểm của phần mềm lingo 5 252
IV. ÁP DỤNG TÍNH TOÁN THỬ NGHIỆM TẠI MỘT SỐ HỆ THỐNG QLKT . 252
IV.1 Mô hình thửi nghiệm ở hệ thống thủy nông Núi Cốc – Thái Nguyên 253
IV.1.1. Một số kết quả thửi nghi
ệm tính toán tối ưu 255
IV.1.2 Phân tích kết quả 257
IV.2 Mô hình áp dụng tính toán tại hệ thống Liễn Sơn 258

Chương VIII: PHẦN MỀM PHÂN BỔ TỐI ƯU AQUARIUS VÀ ĐỀ XUẤT
VIẾT CHƯƠNG TRÌNH ĐỂ THÍCH NGHI CHO LƯU VỰC SÔNG HỒNG. 260
I. GIỚI THIỆU PHẦN MỀM AQUARIUS 260
II. XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG TÀI NGUYÊN NƯỚC 262
II.1 Thanh menu 262

các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
12A. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Đặt vấn đề và sự cần thiết của đề tài
Ở nhiều nơi trên thế giới nước đang trở thành một hàng hoá khan hiếm [Postel et al.
1996; Gleick 1996; United Nations 1997; Seckler et al. 1998]. Mặt khác, nước là một
tài nguyên cung cấp những lợi ích quan trọng cho nhân loại, cho nên một số học giả đã
cho rằng nước sẽ là “dầu thô của thế kỷ hai mốt”. Do khan hiếm ngày càng gia tăng,
cạnh tranh và xung đột giữa các lĩnh vự
c sử dụng nước và những người sử dụng nước
cũng ngày càng phát triển. Bởi vậy cần phải đưa ra các quyết định về bảo tồn và phân
bổ nước sao cho tương thích với các mục tiêu xã hội như hiệu quả kinh tế, tính bền
vững và công bằng.
Việc coi nước như một hàng hoá kinh tế có thể coi là một trong những bước tiến nhằm
cải thiện quản lý nguồ
n tài nguyên nước. Khi đó, tính toán giá trị kinh tế của nước là
một công việc cấp thiết, bởi vì nếu không lượng hóa được một cách chắc chắn giá trị
của nước, chúng ta không thể có được những quyết định rõ ràng cho mục đích bảo tồn
nước một cách hiệu quả.
Tuy nhiên việc xác định giá trị kinh tế của nước gặp phải rất nhiều thách thức. Vì bản
chất vật lý c
ủa nước (khó đo lường, kiểm soát, …) cho nên hầu như mọi quốc gia trên
thế giới đã không thiết lập _ nếu không nói là không thể thiết lập _ một thị trường cho
nước, bởi vì việc thiết lập ra các thị trường nước sẽ tạo ra các “thất bại thị trường” như
ngoại ứng, hàng hóa công cộng, độc quyền, tức là tạo ra nhiều đặc tính “xấu” khác của
thị trườ

tế của Mỹ hiện nay đã mở rộng ra những mô hình sử dụng nhiều số liệu để có thể mô
tả một cách chi tiết hơn quan hệ cầu sử dụng tưới cho các loại cây trồng khác nhau.
Tuy nhiên, do các đặc tính của thời tiết, khí hậu, điều kiện sử dụng đất, cây trồng, các
loại hình tổ chức sản xuất, … cho nên ở các quốc gia, vùng miền khác nhau cần có
những
điều chỉnh thích hợp khác nhau.
Bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 21, đặc biết là sau Hội nghị Thượng đỉnh Toàn
cầu về Phát triển Bền vũng ở Johannesburg, Nam Phi (2002) xu hướng của các nhà
kinh tế lại đặt trọng tâm nhiều hơn vào việc xây dựng các mô hình cầu nước sinh hoạt
cho cả khu vực thành thị lẫn khu vực nông thôn. Đối với khu vực nước sinh hoạt nông
thôn, các chuyên gia đã phát triển tiếp cận CVM (Contingent Valuation Method) cho
việc ước lượng các đường cầu sử dụng nước sinh hoạt, còn đối với khu vực đô thị việc
mô tả các quan hệ cầu sử dụng nước sinh hoạt tỏ ra phức tạp hơn nhiều như mô hình
lựa chọn rời rạc-liên tục và phải được giải quyết bằng cách công cụ kinh tế lượng phức
tạp hơn nhi
ều nhiều như phương pháp tối đa hợp lý (maximum likelihood).
Cùng với cầu sử dụng nước tưới, cầu sử dụng nước sinh hoạt cả nông thôn lẫn đô thị là
những khu vực sử dụng nước chịu tác động nghiêm trọng nhất của “thất bại thị
trường”, tức là chịu đựng những khó khăn lớn nhất trong phương pháp luận xác định
đường cầu sử d
ụng nước, và cũng chính là những khó khăn lớn nhất trong phương
pháp luận xác định giá trị kinh tế của sử dụng nước. Đối với cầu sử dụng nước cho
phát điện thì tình hình trước đây là khá đơn giản vì sản phẩm của sử dụng nước cho
phát điện chính là điện năng, là một sản phẩm mang tính chất thị trường tương đối
hoàn chỉnh, ngoài trừ
nhược điểm “độc quyền” của thị trường này. Tuy nhiên, trong
những năm gần đây, tình hình có nhiều thay đổi. Do chính sách bảo tồn năng lượng,
cho nên khắp nơi trên thế giới đã đặt giá cho tiêu dùng năng lượng điện thông qua các
cơ chế định giá tăng theo khối (increasingly block pricing), hay còn gọi là định giá bậc
thang. Vì thế việc tính toán cầu sử dụng điện, giống như cầu sử dụng n

vực này. Trung quốc là một nước có nhiều nghiên cứu về các mô hình kinh tế cho các
sử dụng nước. Nhiều công trình ước lượng các quan hệ cầu sử dụng nước tưới, nước
sinh hoạt nông thôn, nước sinh hoạt đô thị, nước công nghiệp, … đã được các chuyên
gia Trung quốc thực hiện dựa vào các tiếp cận hiện đại của các nhà khoa h
ọc phương
Tây. Các quốc gia láng giềng khác của chúng ta như Thái lan, Malaysia, Ấn độ, Sri
Lanka, và nhiều quốc gia Đông Nam Á và Nam Á khác cũng có những bước đi tương
tự trong lĩnh vực này.
Chúng ta có thể dễ dàng thấy một khối lượng nghiên cứu khổng lồ của các nhà kinh tế
tài nguyên thiên nhiên và môi trường trên thế giới đã được giành ngày càng nhiều cho
những nghiên cứu về mô hình hóa quan hệ cầu sử dụng nước và các phương pháp kinh
tế lượng
để ước lượng các tham số của các mô hình này, và mục tiêu cũng là để góp
phần xây dựng các hàm lợi ích từ các sử dụng nước khác nhau. Tuy nhiên, một khác
biệt quá rõ ràng là số lượng những nghiên cứu như vậy trong điều kiện nước ta còn
quá khiêm tốn. đặc biệt là ở khu vực Lưu vực sông Hồng. Các Viện Nghiên cứu, các
Trường Đại học, Cao đẳng, … ở khu vực Lưu vực sông Hồng hầu như chư
a có một hệ
thống nghiên cứu bài bản nào về vấn đề xây dựng mô hình cung cầu sử dụng nước về
mặt lý thuyết cũng như những mô hình kinh tế lượng ước lượng các tham số từ số liệu
quan sát thực tế của các mô hình này.
Trong các lưu vực khác của Việt nam, tình hình có đôi chút khác biệt. Tại Lưu vực
sông Đồng nai, một khu vực kinh tế năng động nhất trong cả nướ
c, đã có những hợp
tác nghiên cứu giữa những nhà nghiên cứu Việt nam và các nhà nghiên cứu quốc tế về
chủ để xây dựng mô hình kinh tế lý thuyết và mô hình ước lượng hồi quy kinh tế
lượng để xác định các hàm cầu sử dụng nước. Một số trong những ví dụ như vậy là
nghiên cứu của Ringler (Mỹ) hợp tác với một số cán bộ của Việt nam xác định các
hàm cầu sử dụ
ng nước ở Lưu vực Đồng nai; một nghiên cứu về tính toán cầu nước

Phân bổ Nước tối ưu cho Lưu vực sông của Đại học Colorado (Mỹ). Ở hệ thống sông
Hồng, bài toán phân bổ tối ưu sử dụng nước của hệ thống sông Hồng đã được Viện
Quy hoạch Thủy lợi Hà nội thực hiện. Tuy nhiên quy hoạch tối ưu này cần được tiếp
tục phát triển để cập nhật những ước lượng mới về các hàm cầu sử dụng nước đã nói ở
trên. Phần sau của báo cáo này có đề cập tới mô hình phân bổ tối ưu này và áp dụng
mô hình tính toán tối ưu để tính toán phân bổ nước cho một số hệ thống nằm trong
Lưu v
ực sông Hồng. Hạn chế về thời gian và nguồn lực không cho phép đề tài này
thực hiện đầy đủ mô hình phân bổ tối ưu cũng như chạy chương trình tối ưu cho toàn
bộ Lưu vực sông Hồng.
2. Mục tiêu của đề tài
Như đã được nêu rõ trong Đề cương Nghiên cứu, mục tiêu chính của đề tài là:
“Xác định được phương pháp tính giá trị kinh tế và áp dụng tính toán
giá trị kinh tế tại mộ
t số hệ thống cho các hộ sử dụng nước khác nhau
phục vụ quy hoạch quản lý nguồn nước tại Lưu vực sông Hồng”
Để đạt được mục tiêu chính, đề tài cần phải thực hiện những mục tiêu cụ thể như sau:
- Nghiên cứu tổng quan để rút ra phương pháp tính cầu và giá trị kinh tế của
nước tưới cho lúa và một số loại cây trồng thích hợp cho Lưu vực sông H
ồng.
- Áp dụng tính hàm cầu nước tưới cho một số địa điểm nằm trong Lưu vực sông
Hồng: cụ thể là Hệ thống La khê (Hà tây cũ), Hệ thống Liễn sơn (Vĩnh phúc),
và Hệ thống Núi cốc (Thái nguyên).
- Áp dụng tính toán giá trị kinh tế cho sử dụng nước tưới cho nước tưới trong các
hệ thống nói trên.
- Nghiên cứu để rút ra phương pháp tính cầu và giá trị kinh tế cho sử dụng nước
sinh ho
ạt nông thôn ở Lưu vực sông Hồng.
- Áp dụng tính toán hàm cầu nước sinh hoạt nông thôn ở một số địa điểm thuộc
các tỉnh nằm trong Lưu vực sông Hồng như Nam định, Hải dương, ngoài thành

- Áp dụng tính toán cho một số
ví dụ thuộc Lưu vực sông Hồng.
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
17
3. Cách tiếp cận
Do đây là một đề tài nghiên cứu kinh tế tài nguyên cho nên tiếp cận của chúng tôi đầu
tiên phải dựa vào tiếp cận truyền thống của các nhà kinh tế. Cụ thể, tiếp cận phải dựa
trên các nguyên tắc sau:
- Tôn trọng thị trường được-thiết-lập-tốt, tức là thị trường thỏa mãn những tiêu
chuẩn xấp xỉ với thị trường cạnh tranh hoàn hảo (có nhiề
u người bán, nhiều người
mua, hàng hóa đồng nhất và dễ đo lường, thông tin hoàn hảo, tự do ra nhập hoặc
rời bỏ thị trường, …). Nói tóm lại, đối với những thị trường như vậy, các tiếp cận
của các nhà kinh tế là cố gắng không can thiệp để chúng tự phát triển nhằm đạt tối
đa lợi ích của thị trường.
- Trong ngành nước, có một số ít thị trường nh
ư vậy, đó là thị trường nước cho
công nghiệp, nước cho sản xuất thủy sản, và thậm chí cả nước cho phát điện nếu
giá điện sinh hoạt không được định giá theo kiểu bậc thang. Nhưng hầu hết các
thị trường nước còn lại đều là những thị trường không-được-thiết-lập-tốt, đặc biệt
là nước cho tưới, nước sinh hoạt cho cả nông thôn lẫn đ
ô thị, nước cho bảo tồn
sinh thái, nước cho mục đích bảo vệ môi trường, nước cho du lịch, …
- Các thị trường kể trên được liệt vào các thị trường-không-tốt theo nghĩa các điều
kiện hoạt động của chúng bị mắc phải một trong những khiếm khuyết có tên gọi
chuyên môn là “thất bại thị trường”. Thất bại thị trường bao gồm: (i) hàng công
cộng, (ii) ngoại ứ
ng, (iii) độc quyền, và (iv) thông tin phi đối xứng.

- Bước 5: Thực hiện tính toán và trình diễn kết quả
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng
BÁO CÁO TỔNG HỢP
18

B. NỘI DUNG

Chương I: TỔNG QUAN PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ TRỊ KINH TẾ SỬ DỤNG
NƯỚC

Giới thiệu
Để bảo đảm tính hệ thống cho nghiên cứu về phương pháp tính toán giá trị của các sử
dụng nước khác nhau tại Lưu vực sông Hồng, trước hết cần có một cơ sở nền tảng về
mặt lý thuyết được chấp nhận một cách rộng rãi trong cộng đồng các nhà nghiên cứu
kinh tế
tài nguyên thiên nhiên và môi trường nói riêng, cũng như các nhà kinh tế tài
nguyên nước nói riêng. Tiếc thay, không sẵn có một cuốn sách giáo khoa hoàn chỉnh
thống nhất nào trong bất cứ trường Đại học trên thế giới về chủ đề này, đơn giản là vì
đây là một lĩnh vực mới được phát triển so với các lĩnh vực cổ truyền khác trong lĩnh
vực kinh tế học.
Các nhà kinh tế học tài nguyên nước trong những năm gần đây đã
đặc biệt quan tâm
phát triển lĩnh vực nghiên cứu này. Số lượng sách báo xuất bản trên thế giới cách đây
một hai thập kỷ hầu như rất hiếm khi đề cập tới vấn đề tính toán giá trị của các sử
dụng nước, hoặc có đề cập thì nội dung tương đối sơ sài. Một trong những tài liệu của
chuyên gia hàng đầu về kinh tế tài nguyên nước là Ariel Dinar là cuốn “Mô hình hóa
Quản lý Kinh tế và nh
ững vấn đề Chính sách về Nước trong nền Nông nghiệp có
Tưới” (Modeling Economic Management and Policy issues of Water in Irrigated

Tiếp theo, nhóm nghiên cứu cũng đã lựa chọn trong số nhiều tiếp cận khác nhau trong
việc đo lường giá trị kinh tế của các sử dụng nước, một lĩnh vực tương đối phong phú
của đo lường giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên và môi trường, một tiếp cận của
Giáo sư Robert A. Young (chuyên gia cao cấp của World Bank về tài nguyên nước)
(Hoa kỳ) làm cơ sở lý luận cho việc phát triển các phương pháp tính toán cầ
u và giá trị
kinh tế của các sử dụng nước. Tác phẩm của ông là cuốn “Xác định Giá trị Kinh tế của
Nước: Lý thuyết và Phương pháp” (Determining the Economic Value of Water:
Concepts and Methods) (2001) đã được sử dụng trong đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu về
Tính toán Giá trị của Nước” của Đào Văn Khiêm (Đại học Thủy lợi Hà nội, 2004).
Trong phần này, chúng tôi sẽ tóm tắt lại một số vấn đề căn bản nh
ất của các tiếp cận
nói trên để phục vụ việc nghiên cứu các phương pháp cụ thể để tính toán các giá trị
kinh tế của các sử dụng nước khác nhau tại Lưu vực sông Hồng. Dựa trên những tiếp
cận nói trên, chúng ta sẽ có thể khẳng định được một số định hướng cơ bản cho việc
phát triển các phương pháp tính toán giá trị kinh tế như sau:
(1) Thứ nhất, việc tính toán giá tr
ị kinh tế của các sử dụng nước cần được phát
triển bởi các chuyên gia nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên và môi trường vì,
khác với các ngành kinh tế hoạt động dựa trên các nguyên tắc của thị trường
cạnh tranh lành mạnh, khi mà các quan hệ cung cầu của thị trường được hình
thành một cách tự nhiên trên thị trường và chỉ dẫn các hoạt động trao đổi của
các thành viên kinh tế, không sẵn có các thị trường được hình thành một cách
tự nhiên cho các hàng hóa tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong đ
ó có các
hàng hóa nước. Nói cách khác, giá trị kinh tế của các khu vực có thị trường
cạnh tranh phát triển lành mạnh thì giá trị kinh tế là giá trị thị trường, không
cần phải có những nghiên cứu khoa học về giá trị kinh tế, nhưng khi thị trường
không có đủ điều kiện để tồn tài, nhiệm vụ của các nhà nghiên cứu là phải xây
dựng phương pháp luận để tính toán những giá trị này nhằm giúp cho những

Hồng chúng tôi sẽ sử dụng cả hai tiếp cận tính cầu Marshall và Hicks này, cụ
thể là cầu tưới, cầu nước sinh hoạt đô thị, cầu điện sinh hoạt đô thị, cầu nước
công nghiệp và cầu nước cho thủy sản, … là các hàm cầu Marshall, còn hàm
cầu nước sinh hoạt nông thôn là hàm cầu tương thích với c
ầu Hicks.
Vì những hàm ý hết sức quan trọng cho việc phát triển các phương pháp tính toán giá
trị kinh tế cho các sử dụng nước cụ thể, chúng tôi sẽ trình bày những vấn đề căn bản
nhất của lý thuyết tính toán giá trị kinh tế tài nguyên thiên nhiên và môi trường trong
các phần sau đây.
I. Giá trị kinh tế
I.1 Khái niệm giá trị
Theo nghĩa rộng, giá trị thể hiện mong muốn tương đối về đối tượng, tình huống và
hậu quả. Giá trị gắn liền với tình huống làm quyết định. Giá trị trải rộng khắp từ các
nguyên tắc đạo đức đến các quan hệ ưa thích giữa các lựa chọn. Đạo đức, ưu tiên, giá
trị đánh đổi và quan điểm đối với rủi ro, t
ất cả đều thể hiện giá trị [Keeney, 1992]. Tuy
nhiên, nội dung báo cáo này chỉ đề cập đến giá trị kinh tế.
Giá trị kinh tế là khái niệm liên quan đến hành vi con người và dựa trên các tình huống
lựa chọn. Định nghĩa kinh tế về giá trị được bắt nguồn từ ý tưởng có nhiều nguồn tài
nguyên bị khan hiếm. Điều đó có nghĩa là cầu đối với các nguồn tài nguyên này lớn
hơn một cách tương
đối so với lượng tài nguyên sẵn có. Không bao giờ có đủ nước,
hoặc đất đai hoặc lao động để làm mọi thứ mà tất cả mọi người có thể muốn. Vì các
nguồn tài nguyên là khan hiếm, cho nên luôn phải lựa chọn về việc xã hội sử dụng
những cái sẵn có như thế nào. Những lựa chọn này thường dựa trên những đánh đổi
phức tạp, bởi vậy giá trị đượ
c bộc lộ trong việc cá nhân và xã hội cùng lựa chọn phân
bổ các nguồn tài nguyên này như thế nào.
Khái niệm giá trị kinh tế có nền tảng bắt nguồn từ kinh tế học phúc lợi tân- cổ điển.
Kinh tế học phúc lợi là môn khoa học xác định các nguồn tài nguyên sẵn có có thể

hệ thống kinh tế hoạt động như th
ế nào. Kinh tế học thực chứng cố gắng trả lời những
câu hỏi như cái gì xác định giá của nhà ở, hoặc điều gì xảy ra với sản lượng của một
công ty cạnh tranh khi giá của hàng hoá tăng lên . Cũng giống như kinh tế học thực
chứng, nhiệm vụ của kinh tế học phúc lợi cũng là suy luận một cách lô gíc từ những
định nghĩa và giả thiết mà b
ản thân chúng có thể là đúng đắn hoặc không đúng đắn.
Nhưng không giống với kinh tế học thực chứng, khó khăn của kinh tế học phúc lợi là ở
chỗ “phúc lợi” kinh tế không phải là biến số quan sát được. Phúc lợi kinh tế của một
cá nhân, một cách hình thức, được chỉ ra bởi mức tiện ích của anh ta, và đó là biến
không quan sát được. Mức tiện ích của cá nhân phụ thuộc vào hàng hoá và dịch vụ

anh ta mua ở thị trường, nhưng cũng phụ thuộc cả vào nhiều hàng hoá phi- thị trường
hoặc không- được định giá, như không khí trong lành, nước sạch, điều kiện nghỉ ngơi,
giải trí, … Kinh tế phúc lợi quan tâm đến tổng phúc lợi của cá nhân, chứ không phải
chỉ những phúc lợi có từ các hàng hoá và dịch vụ thị trường [Just et al, 1982]. Như
vậy, do sự phức tạp trong đo lường l
ợi ích, chúng ta sẽ thấy việc xác định giá trị của
nước quả là rất khó khăn.
I. 2 Khái niệm “ý muốn thanh toán” (WTP) và các thước đo phúc lợi khác
I. 2. 1 Giới thiệu
Các nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế bất cứ khi nào những người sử dụng muốn
thanh toán để có được chúng. Điều này hàm ý nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế chỉ
khi chúng là khan hiếm. Giá trị kinh tế là thước đo của khối lượng tối đa các hàng hoá
và dịch v
ụ khác mà người tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ để có được một hàng hoá và dịch
vụ hoặc trạng thái tự nhiên nào đó. Sự đánh đổi mà người ta tiến hành khi họ chọn ít
hơn một đơn vị hàng hoá này và nhiều hơn một chút hàng hoá và dịch vụ khác sẽ bộc
lộ cái gì đó về giá trị của họ đối với những hàng hoá này. Giá cả tiền tệ đơn giản chỉ là
một tỷ

hoặc nước.
(2) Hương vị, tầm nhìn, cảnh đẹp
- Tác động sinh thái _ cơ chế sinh học:
(1) ảnh hưởng lên n
ăng suất kinh tế của hệ sinh thái
Năng suất nông nghiệp
Lâm nghiệp
Ngư nghiệp thương mại
(2) Những ảnh hưởng sinh thái khác
Giải trí sinh thái _ câu cá, săn bắn, …
Đa dạng hoặc bền vững sinh thái
- Tác động thông qua các hệ vô sinh
(3) Huỷ hoại vật liệu, đất trồng, chi phí sản xuất
(4) Thời tiết, khí hậu
c. kiểu tác động kinh tế
- Các tác động đượ
c chuyển tải thông qua hệ thống thị trường dưới dạng
những thay đổi trong thu nhập của người sản xuất và những thay đổi
trong lượng hàng hoá được mua và giá cả của người tiêu dùng.
- Những tác động được chuyển tải thông qua những thay đổi trong việc
sử dụng hàng hoá không được mua một cách bình thường qua hệ thống
thị trường.
Đây là một phân loại chung nhất, tuy nhiên là rất cần thiết cho những phầ
n giới thiệu
ban đầu để bảo đảm tính chặt chẽ của lô gíc tính toán giá trị kinh tế của các hàng hóa
tài nguyên-môi trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng.
I. 2. 2 Giá trị tài nguyên với giá bóng
Theo kinh tế học vi mô, bài toán của chúng ta như sau:
m)1, ,j n;1, ,(i ),,(max === drxuu
ij

i

= hàm lợi ích của cá nhân i.
x
ij
= lượng hàng hoá hoặc tài nguyên do cá nhân i tiêu dùng
y
jk
= lượng hàng hoá hoặc tài nguyên j do xí nghiệp k sản xuất
s
j
= tổng lượng hàng hoá hoặc tài nguyên j sẵn có
Nghiên cứu Phương pháp Tính Giá trị Kinh tế của Nước cho
các hộ sử dụng khác nhau tại Lưu vực sông Hồng

BÁO CÁO TỔNG HỢP
23
r = khối lượng hàng hoá công cộng
d
K
= giá trị của cá nhân do giảm chất thải của xí nghiệp k.
Điều kiện tối ưu Pareto cho hệ thống trên có thể được xác định bằng cách chỉ ra các
điều kiện tối đa lợi ích của mỗi cá nhân, tuỳ thuộc vào các ràng buộc sản xuất và
nguồn tài nguyên và ràng buộc lợi ích của các cá nhân được giữ cố định ở một mức
hiện thời nào đó. Đối với m
ỗi cá nhân, bài toán là:
[
]
)()(
(.)(.)(.)max

µλ

trong đó r
*
là khối lượng được xác định từ bên ngoài của r.
Điều kiện bậc nhất cho tối ưu Pareto là:
m)1, ,j n;1, ,(i 0 ===−


j
ji
j
i
x
u
ρλ
(1)
m)1, ,j h;1, ,(k 0 ===+



j
k
k
k
y
f
ρµ
(2)
∑∑

=
0
1
k
k
k
n
i
i
i
i
i
d
f
d
u
µλα
(4)
trong đó
0/ va,,/ <∂∂∂∂
k
k
Kii
dfdu
ν

Giải thích:
Điều kiện (1) và (2) cho thấy liên hệ giữa các tỷ lệ thay thế cận biên và tỷ lệ trao đổi
cận biên thị trường của hàng hoá.
Điều kiện (3) cho thấy nhân tử Lagrange là giá bóng của r

u(X)u
=
maximize
với ràng buộc:

=
i
ii
Mxp .
Lời giải:
(P, M) x x
ii
=
trong đó P là véc tơ giá. Đây chính là hàm cầu Marshall.
Thay các hàm cầu trên vào hàm lợi ích trực tiếp u ta có hàm lợi ích gián tiếp:
v(P, M)u
=

Theo Đồng nhất thức Roy,
Mv
pv
MPx
i
i




−=
/

0
uPhpe
ii
=∂∂ (5)
Muốn xác định được hàm cầu nguyên thuỷ (Marshall) phải biết hàm lợi ích nằm bên
dưới, nhưng hàm này nói chung không quan sát được. Do vậy phải xây dựng hàm cầu
dựa trên thông tin về quan hệ ưa thích. Điều này có thể thực hiện được miễn là thoả
mãn điều kiện có tên gọi là khả tích. Điều kiện này đòi hỏi ma trận Slutsky của các
thành phần thay thế:
j
i
j
i
x
M
MPx
p
MPx


+

∂ ),(),(

là đỗi xứng và bán xác định âm. Nếu điều kiện này được thoả mãn, hệ thống các
đường cầu có thể tích phân được và tạo ra được hàm chi tiêu, và từ đó xác định được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status