Mô hình kinh tế xã hội của các nước đông nam á và giá trị tham khảo đổi với việt nam - Pdf 13

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2010
Mã số: B.10-08
Tên đề tài:
MÔ HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ
GIÁ TR
Ị THAM KHẢO ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Đơn vị chủ trì : Viện Kinh Tế
Chủ nhiệm đề tài : ThS. Phùng Lê Dung
Thư ký đề tài : ThS. Đinh Thị Nga
HÀ NỘI - 2010
2
DANH SÁCH CỘNG TÁC VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1. TS. Trần Tuấn Anh, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
2. TS. Lê Văn Chiến, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
3. ThS. Phùng Lê Dung, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
4. ThS. Trương Diệp Hằng, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
5. ThS. Phạm Mạnh Hùng, Viện kinh tế và chính trị thế giới
6. Bùi Thị Hương, Học viên cao học K15, chuyên ngành QLKT
7.
TS. Đinh Thị Nga, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
8. ThS. Trần Thị Tuyết Lan, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
9. TS. Hoàng Văn Nghĩa, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
10. PGS,TS. Nguyễn Hữu Thắng, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
11. Nguyễn Quang Thử, Sở công thương tỉnh Quảng Nam
12. ThS. Nguyễn Trí Tùng, Học viện CT-HC QG Hồ Chí Minh
3
MỤC LỤC

à bài học rút ra. 88
2.4. M
ột số bài học rút ra 94
2.5. M
ột số nguyên tắc cần xem xét để đảm bảo cho quá trình phát
tri
ển 100
Chương III. Lựa chọn mô hình phát triển kinh tế-xã hội ở
Việt Nam
109
3.1. Các mô hình phát tri
ển kinh tế - xã hội của việt nam đã qua 109
4
3.2. Lựa chọn mô hình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam 131
3.3. Gi
ải pháp thực hiện thành công mô hình phát triển nền kinh tế
-xã hội ở Việt Nam 137
Kết luận
141
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội là mục tiêu quan trọng hàng
đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới ở mọi thời đại. Để đạt được mục
tiêu này, việc lựa chọn các mô hình phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn, phù
h
ợp với những đặc điểm riêng có của từng quốc gia có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng, nó quyết định vận mệnh tương lai của một đất nước. Thậm chí việc
lựa chọn một mô hình kinh tế - xã hội đúng đắn của một quốc gia đã được
xem như là biểu tượng của sức sáng tạo v

6
trên phạm vi toàn cầu như hiện nay, việc lựa chọn cho riêng mình một mô
hình kinh t
ế xã hội phù hợp đang ngày càng trở nên vô cùng khó khăn.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay đã bộc lộ nhiều vấn đề
của các nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu. Nó cũng đặt Việt
Nam trước những thách thức về lựa chọn một m
ô hình phát triển mới.
Nhưng đây cũng là cơ hội để chúng ta đẩy mạnh cải cách kinh tế, khắc
phục những sai lầm mà các nước trong khu vực và bản thân chúng ta đã trải
qua những năm qua. Chúng tôi đồng ý với phát biểu của nhà báo Nguyễn
Anh Tuấn khi cho rằng “Đất nước của chúng ta đang ở khúc ngoặt. Mệnh
lệnh của cuộc sống, mệnh lệnh của đất nước là phải nhân khó khăn này tái
c
ấu trúc, sửa chữa tận gốc những khuyết tật cố hữu, tìm ra một cơ chế mới,
mô hình mới đưa đất nước hướng tới một tương lai phát triển chắc chắn,
tốt đẹp và lâu dài” (Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn trong cuộc phỏng vấn
nguyên Bộ trưởng Bộ thương mại Trương Đình Tuyển và GS. Trần Văn
Thọ ngày 23/03/2009). Vận hội, cơ may đang đến chúng ta nếu chúng ta
biết nhân cơ hội này mà lựa chọn một mô hình phát triển tốt hơn. Nhưng
thách thức cũng đang rình rập sẵn sàng thử thách chúng ta. Nếu chúng ta
đưa ra được những chiến lược phát triển thích hợp với năng lực của dân
tộc, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước thì chúng ta có
th
ể bước vào những chuyến tàu tốc hành của thời đại, còn không chúng ta
s
ẽ bỏ lỡ chuyến tàu trăm năm mới có một lần. Chính vì vậy, công việc
nghiên cứu tình hình kinh tế các nước trên thế giới nói chung, các nước khu
vực Đông Nam Á nói riêng nhằm tìm kiếm những bài học cả thành công và
không thành công mà các nước đã trải qua để đưa ra con đường ngắn nhất,

thế giới trong vài thập kỷ trở lại đây, sự tăng trưởng kinh tế tương đối cao
của các nước Đông Nam Á đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà
nghiên c
ứu kinh tế, xã hội cũng như các nhà hoạch định chính sách. Hàng
trăm công trình nghiên cứu đã được công bố trong khoảng gần hai thập kỷ
qua. Nhìn chung đa số những nghiên cứu này đã đánh giá tốt quá trình phát
tri
ển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên cũng có những
đánh giá trái chiều về quá tr
ình phát triển của các quốc gia này. Đặc biệt
trong những năm gần đây, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm
1997 làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến qúa tình tăng trưởng và phát triển
của các nước này, số lượng các nghiên cứu phê phán mô hình phát triển
này đ
ã tăng lên. Thậm chí, gần đây nhóm nghiên cứu của Đại học Havard
đ
ã cho rằng mô hình phát triển của một số nước Đông Nam Á là thất bại
m
ột cách tương đối (xem Tạp chí những vấn đề chính trị - xã hội, số
26+27, 7/2008). Bằng chứng mà nhóm nghiên cứu này đưa ra là các quốc
8
gia này tuy chưa đạt được mức thu nhập bình quân đầu người cao như các
nước NIEs (H
àn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan) nhưng tốc độ
tăng trưởng kinh tế đ
ã có xu hướng chững lại. Thêm nữa, để có được tốc độ
tăng trưởng kinh tế tương đối cao trong thời gian qua, các quốc gia này đ
ã
ph
ải trả một cái giá tương đối đắt là sự cạn kiệt nhanh chóng quá mức

nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thành công trong tăng trưởng kinh tế của
các quốc gia này trong những thập kỷ vừa qua.
9
Tiến Sỹ Nguyễn Thị Hiền trong tác phẩm “Hội nhập kinh tế khu vực của
một số nước Đông Nam Á”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
ấn hành năm 2002 đ
ã mô tả quá trình phát triển kinh tế xã hội gắn liển với
quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế của ba nước Philippines,
Singapore, và Thailand. Theo tác giả, ba nước Đông Nam Á kể trên đã
thành công v
ề mặt kinh tế nhờ biết tận dụng những lợi thế so sánh của mình
so v
ới phần còn lại của thế giới để hội nhập vào nền kinh tế khu vực và
toàn c
ầu. Mỗi nước có một lợi thế khác nhau, nhưng điểm chung ở họ là
chính ph
ủ đã đưa ra được những chính sách phát triển hợp lý, phát huy
được những lợi thế này để tham gia v
ào chuỗi giá trị toàn cầu, đẩy mạnh
xuất khẩu và gặt hái những thành công trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của mình.
PGS, TS. Lê Bàn Th
ạch và TS. Trần Thị Tri trong cuốn “Công nghiệp hóa
ở NIEs Đông Á v
à bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nhà xuất bản
thế giới 2000) đã đánh giá rất tỉ mỉ các bước, các giai đoạn quá trình công
nghi
ệp hóa của các nước NIEs trong đó đáng chú ý là quá trình CNH của
một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á là Singapore. Các tác giả đã
đánh giá cao nỗ lực của các nền kinh tế Đông Á trong quá trình CNH đất

phát tri
ển kinh tế xã hội của các nước Đông Nam Á (ngoại trừ Philippines)
là khá thành công. Từ những nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu khi giành được
độc lập hoặc th
ành lập thể chính trị độc lập, các quốc gia Đông Nam Á đã
nhanh chóng tr
ở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình hoặc cao trên
th
ế giới chỉ sau vài thập niên. Nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao
trong nhiều năm, đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể. Một bộ phận
quan trọng người dân ở các nước này đã thoát khỏi cuộc sống đói nghèo
trước đây. Một số nước như Singapore đã thành công trong việc bảo vệ môi
trường trong quá tr
ình CNH. Đạt được những thành tựu này là do các quốc
gia Đông Nam Á đ
ã không ngừng theo đuổi các mục tiêu phát triển kinh tế
và đ
ã có những chính sách phát triển kinh tế phù hợp với điệu kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội của mình. Bên cạnh đó các nước này cũng khá thành
công trong vi
ệc tận dụng những điều kiện quốc tế thuận lợi và vị trí địa
chính trị quan trọng của mình để thu hút đầu tư, công nghệ nước ngoài
ph
ục vụ mục tiêu CNH của mình.
Tác gi
ả Dương Hồng Nhung trong bài viết “Công nghiệp hóa hướng vào
xu
ất khẩu của ASEAN và đầu tư trực tiếp của Nhật Bản”
1
đã cho rằng, thực

Bên cạnh những thành công như đã đánh giá, PGS, TS. Lê Bàn
Th
ạch và TS. Trần Thị Tri trong cuốn “Công nghiệp hóa ở NIEs Đông Á
và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nhà xuất bản thế giới 2000)
cũng đã chỉ ra nhiều khiếm khuyết trong quá trình CNH của các nước
NIEs. Về kinh tế, chiến tăng trưởng của các nước này đã dẫn đến sự lệch
lạc trong phân bố cơ cấu vùng, sự tàn phá quá mức môi trường sinh thái.
Sự coi trọng quá mức nguồn vốn và công nghệ nước ngoài đã dẫn đến việc
phụ thuộc của đất nước vào các yếu tố bên ngoài không thể kiểm soát được.
Về xã hội, quá trình CNH của các nước này đã không được gắn liền với
quá trình dân chủ hóa, coi trọng nhân tố con người, công bằng xã hội nên
12
quá trình CNH của các nước này đã khai thác cạn kiệt nguồn lực con người
và làm tăng bất công trong x
ã hội.
Trong tác phẩm “Những con rồng lâm bệnh” (nhà xuất bản khoa học
xã hội ấn hành năm 2000) tác giả Vũ Tuấn Anh đã cho rằng, cơn bão
kh
ủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 quét qua các nước Đông Nam Á đã
làm b
ộc lộ rõ những nhược điểm, căn bệnh cơ bản của của các nền kinh tế
này. Theo Tác giả mặc dù nền kinh tế của các quốc gia Đông Nam Á đã
tr
ải qua một thời kỳ tăng trưởng tương đối cao và liên tục nhưng những yếu
kém bên trong của nền kinh tế ngày càng bộc lộ rõ và khủng hoảng kinh tế
là không thể tránh khỏi. Những yếu kém này thể hiện ở chỗ (i) nền kinh tế
đ
ã phát triển quá nhanh gây áp lực lên giá cả và sử dụng cơ sở hạ tầng quá
mức. Ví dụ ở Thailand, giá cả thường xuyên tăng cao, năm 1996 đạt mức
5,9%; tiền lương tối thiểu của công nhân trong vòng 10 năm tăng trung

ì tham nhũng và chính trị bẩn thỉu chạy theo đồng tiền” (trang
19). Quá trình
đô thị hóa của các nước này đã diễn ra một cách hỗn loạn,
với hàng triệu con người đang phải sống lay lắt trong các khu ổ chuột và
nghèo đói. Bởi vậy, bất ổn về mặt xã hội là điều không thể tránh khỏi. Các
cuộc biểu tình lớn, bạo loạn. lật đổ không còn là chuyện hiếm của các quốc
gia như Thailand, Philippines, hay Indonesia. Cuối c
ùng xét về mặt nào đó,
mô hình phát triển của các nước Đông Nam Á là một sự “thất bại tương
đối” nếu so sánh với các nước Đông Á.
Bên cạnh những cuốn sách đã được trình bày ở trên còn rất nhiều bài
nghiên c
ứu đã được công bố liên quan đến các vấn đề cụ thể về kinh tế xã
h
ội ở các nước Đông Nam Á. Một số bài cơ bản có thể kể như:
- Hồ Châu (1997), ” Vai trò nhà nớc trong hoạch định chiến lợc phát
triển kinh tế ở các nớc ASEAN”, tạp chí Kinh tế và dự báo, số
11/1997.
- Mai Ng
ọc Cường (1993), “Phát triển kinh tế hớng về xuất khẩu ở các
n
ớc ASEAN”, tạp chí Những Vấn Đề Kinh Tế Thế Giới, số 3 năm
1993.
- An Nh
ư Hải (1996), “Rút ngắn thời gian công nghiệp hoá - xu hớng có
tính quy luật ở các nớc ASEAN”, tạp chí Nghiên cứu lý luận, số
10/1996.
- Nguy
ễn Thị Luyến (1993), “Điều tiết của chính phủ trong quá trình
công nghi

Á, đề xuất nhữn
g bài học kinh nghiệm nhằm xây dựng một mô hình phát
tri
ển phù hợp nhất cho Việt Nam trong hoàn cảnh mới, khi đất nước
đang trong quá tr
ình mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.
Để đạt mục tiêu chung đề ra ở trên, đề tài tập trung giải quyết các mục
tiêu cụ thể:
- Góp ph
ần làm rõ những quan điểm khác nhau, đặc điểm và ý nghĩa
của mô hình kinh tế xã hội.
15
- Đánh giá việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế - xã hội của các
nước Đông Nam Á, những mặt thành công và chưa thành công mà các
nước này đ
ã trải qua.
- Phân tích quá trình lựa chọn và chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội
ở Việt Nam, đánh giá những mặt thành công và chưa thành công của các
mô hinh mà Việt Nam đã lựa chọn. Luận giải những nguyên nhân chủ yếu
dẫn đến thành công hoạc hạn chế của các mô hình.
-
Đề xuất các giải pháp giải pháp vận dụng những kinh nghiệm mà
các nước Đông Nam Á đã trải qua vào xây dựng một mô hình phát triển
kinh tế xã hội Việt Nam trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng vào
n
ền kinh tế thế giới hiện nay.
4. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đề tài hướng đến việc giải quyết 4
vấn đề lớn như sau:
Thứ nhất: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình kinh tế-xã

đến sự th
ành công của mô hình kinh tế xã hội.
- Phân tích thực trạng các mô hình kinh tế xã hội ở các nước Đông Nam Á
và Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn:
-
Đưa ra các giải pháp học tập những kinh nghiệm thực tiễn mà các nước
Đông Nam Á đ
ã trải qua và vận dụng vào việc lựa chọn và thực hiện mô
hình kinh tế xã hội ở Việt Nam những năm tới.
- Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu và học tập môn kinh tế phát
triển trong và ngoài hệ thống Học Viện.
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách ở
Việt Nam.
17
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN V
À THỰC TIỄN CỦA VIỆC LỰA MÔ HÌNH
PHÁT TRI
ỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
Trên thực tế mỗi quốc gia đều tìm cho mình một con đường phát triển riêng
d
ựa trên hoàn cảnh cụ thể của đất nước về tự nhiên, kinh tế, xã hội….
Trong 25 năm đổi mới và phát triển vừa qua, Việt Nam đã thu được những
thành tựu rất có ý nghĩa trong thúc đẩy tăng trưởng, xóa đói giảm nghèo,
c
ải thiện đời sống người dân,… Có rất nhiều nguyên nhân lý giải cho sự
thành công của Việt Nam thời gian qua nhưng có lẽ nguyên nhân bao trùm
nh
ất, tổng quát nhất mà không ai có thể phủ nhận là sự chuyển đổi mô hình

mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự
hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống
3
. Như
vậy, sự phát triển của quốc gia trong một giai đoạn nhất định được xem xét
trên hai mặt: sự gia tăng về kinh tế và sự tiến bộ về xã hội.
Sự gia tăng về kinh tế còn được gọi là sự tăng trưởng kinh tế là sự
tăng thêm về quy mô sản lượng sản phẩm h
àng hóa và dịch vụ trong một
thời kỳ nhất định (thường là một năm). Nếu tổng sản phẩm hàng hóa và
d
ịch vụ của một quốc gia tăng lên thì nó được coi là tăng trưởng kinh tế.
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng
lên của GNI hay GDP
4
. Mức tăng đó thường tính trên toàn bộ nền kinh tế
quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người của thời kỳ sau so với thời kỳ
trước đó.
Khi đo lường sự tăng trưởng, người ta thường sử dụng các chỉ ti
êu sau:
Một là: Mức tăng trưởng tuyệt đối
- Theo tổng sản phẩm (GNI hay GDP) của nền kinh tế:
1



nnn
YYY
Trong đó:
n

trước đó s(n
-1).
y
n
: tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm n.
y
n-1
: tổng sản phẩm bình quân đầu người của năm liền kề trước đó.
Hai là: Tốc độ tăng trưởng
- Theo GNI (GDP) của nền kinh tế:
[%]100100)(
11
1
x
Y
Y
x
Y
YY
Yg
n
n
n
nn
n






người của năm n, tính bằng phần trăm.
Giữa khái niệm tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan
hệ mật thiết với nhau. Trong đó, tăng trưởng là một chỉ tiêu, một điều kiện
của phát triển kinh tế.Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để tăng ngân sách
nhà nước, tăng thu nhập của dân cư.
Tăng ngân sách nhà nước đến lượt nó
là điều kiện giúp Nhà nước tăng đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức khỏe
cho nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải phóng sức sản xuất và có điều
kiện giải quyết các chính sách xã hội (phát triển). Ngược lại sự phát triển
kinh tế sẽ là động lực đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng. Tuy nhiên, tăng trưởng
không tự động dẫn đến sự hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và tiến bộ xã
h
ội (phát triển). Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần chứ
không phải là điều kiện đủ cho phát triển kinh tế. Nếu tăng trưởng kinh tế
nhanh nhưng
không dẫn đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, theo hướng
hiện đại; cuộc sống tinh thần của nhân dân không được cải thiện; phân hóa
xã h
ội ngày càng tăng lên; môi trường ngày càng ô nhiễm và bị hủy hoại thì
ch
ỉ có tăng trưởng mà không có phát triển. Phát triển kinh tế không chỉ bao
20
gồm những thay đổi về số lượng như tăng trưởng kinh tế mà còn bao gồm
cả những thay đổi về chất lượng cuộc sống. Một số nội dung cơ bản của
phát triển kinh tế có thể được trình bày như sau:
Thứ nhất, để có sự phát triển kinh tế-xã hội thì trước hết nền kinh tế
phải có sự tăng trưởng trong GDP, thậm chí là tăng trưởng với tốc độ cao,
đó là sự tăng l
ên về quy mô sản xuất làm tăng thêm giá trị sản lượng của
cải vật chất, dịch vụ. Bên cạnh tăng trưởng, nền kinh tế phải đạt được sự

- Chăm sóc sức khỏe cộng đồng thể hiện qua các chỉ số như tỷ lệ chết
của trẻ sơ sinh; số giường bệnh, số bác sĩ so với dân cư; tuổi thọ trung bình.
Trong đó tuổi thọ trung bình của người dân là chỉ tiêu tổng hợp nhất, nó
phản ánh kết quả tổng hợp của sự chăm sóc y tế đối với sức khỏe cộng
đồng, mức sống vật chất v
à tinh thần của dân cư.
- Trình độ học vấn của dân cư là chỉ tiêu phản ánh chất lượng trí tuệ
của đội ngũ lao động và dân cư. Chỉ tiêu này bao gồm các chỉ số: tỷ lệ
người biết chữ so với tổng dân số; tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học được
đến trường; tỷ lệ cán bộ có tr
ình độ đại học và trên đại học so với tổng dân
cư.
- Mức sống về vật chất và tinh thần của người dân, tình trạng đói
nghèo, thất nghiệp, bất bình đẳng trong thu nhập.
Để đánh giá đầy đủ v
à toàn diện hơn mức độ phát triển xã hội, Liên
h
ợp quốc đã đưa ra chỉ tiêu phát triển con người (HDI)
5
, là chỉ tiêu tổng
hợp ba chỉ số cơ bản dưới đây:
Chỉ số a: GNI bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương
(PPP) (USD/người/năm).
Chỉ số b: chỉ số về giáo dục (tỷ lệ % người lớn biết chữ).
Chỉ số c: chỉ số về y tế (tuổi thọ bình quân trên cả nước).
Theo đánh giá của UNDP, chỉ số HDI của Việt Nam năm 20
10 xếp
thứ 113/169 nước trên thế giới.
Bên cạnh những chỉ tiêu liên quan đến mức sống và điều kiện sống
của người dân như đã trình bày ở trên, mức độ phát triển của một quốc gia

nay, hầu như vẫn chưa có sự thay đổi đáng kể nào, (xem bảng 1).
Bảng 1: Trình độ phát triển của các quốc gia trên thế giới
6
Nhóm nước
Chỉ số a
(USD/người/năm)
Chỉ số b
(%)
Ch
ỉ số c
(tuổi)
Kém phát triển (42 nước) 227 32 49
Đang phát triển (130 nước) 921 58 59
Phát triển (26 nước) 15.610 99 75
1.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng và phát triển
Trong mô hình phát triển kinh tế, nếu sản lượng được gọi là biến phụ
thuộc thì các nhân tố ảnh hưởng là các biến độc lập. Đó là các nhân tố đóng
vai trò quyết đế tăng trưởng và phát triển của một quốc gia. Trên thực tế có
rất nhiều nhân tố đóng vai trò quyết định đến tốc độ tăng trưởng và phát

6
Theo đánh giá của UNDP năm 2000.
23
triển kinh tế, nhưng thông thường chúng được chia ra làm hai nhóm cơ bản
sau:
1. 1.2.1. Nhóm các nhân tố kinh tế
- Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào (nguồn lực
sản xuất: vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, tri thức) theo các cách thức
nhất định để tạo ra các đầu ra (tổng sản phẩm trong nước - GDP hay tổng

24
+ Đất đai: là yếu tố sản xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong
n
ền kinh tế nông nghiệp. Đối với sản xuất công nghiệp và dịch vụ đất đai
cũng là một trong các đầu vào không thể thiếu. Đất đai là yếu tố cố định, lại
bị giới hạn bởi quy mô, nên việc sử dụng đất đai một cách có hiệu quả là
yêu c
ầu quan trọng trong tất cả các giai đoạn phát triển của nền kinh tế.
+ Các loại tài nguyên từ trong lòng đất (khoáng sản, nước ngầm), tài
nguyên sông, bi
ển và các tài nguyên thiên nhiên khá đều là yếu tố đầu vào
c
ủa sản xuất.
+ Tri thức: Ngày nay tri thức được coi là một yếu tố đầu vào trực
tiếp của quá trình sản xuất có vai trò rất quan trọng. Nó quyết định sự thay
đổi năng suất lao động v
à chất lượng sản phẩm. Những phát sinh, sáng chế
mới được ứng dụng trong sản xuất đã giải phóng được lao động nặng nhọc,
độc hại cho người lao động v
à tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần
vào sự phát triển kinh tế của xã hội hiện đại.
1.1.2.2. Nhóm các nhân tố phi kinh tế
Khác với nhóm các nhân tố kinh tế, các yếu tố phi kinh tế thường
không tác động trực tiếp đến tăng trưởng v
à phát triển kinh tế nhưng lại có
ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến quá tr
ình phát triển nói chung. Tuy nhiên,
nh
ững ảnh hưởng của các nhân tố phi kinh tế đến tăng trưởng kinh tế lại rất
khó lượng hoá bằng các chỉ tiêu cụ thể. Một số nhân tố phi kinh tế chủ yếu

Ngược lại, khi chính sách phát triển chỉ mang lại lợi ích cho dân tộc này,
nhưng lại gây tác hại đến vùng khác, dân tộc khác thì sẽ trở thành nguyên
nhân c
ủa sự xung đột giữa các sắc tộc.
- Đặc điểm tôn giáo: Vấn đề tôn giáo gắn liền với vấn đề dân tộc.
Trong quốc gia đa dân tộc thường có nhiều tôn giáo khác nhau, quy mô và
m
ức độ tín ngưỡng của các tôn giáo phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế và
ti
ến bộ xã hội. Song, dù ở quy mô và mức độ nào thì các tôn giáo đều có
quan niệm, triết lý, tư tưởng riêng ăn sâu vào cuộc sống của giáo dân từ đời
này qua đời khác v
à khó có thể thay đổi. Các thiên kiến của tôn giáo
thường tạo ra một tâm lý x
ã hội biệt lập của tôn giáo mình. Do đó, các cuộc
xung đột v
ì lý do tôn giáo rất dễ xảy ra gây ảnh hưởng đến an ninh và sự ổn
định của một đất nước.
Một chính sách đóng đắn về tôn giáo là điều kiện
cần thiết tạo ra sự hòa hợp giữa giáo dân, khai thác các nhân tố tích cực của
tôn giáo phục vụ tăng trưởng và phát triển.
- Đặc điểm văn hóa: Văn hóa là một phạm trù rộng lớn, bao trùm
nhi
ều mặt, từ tri thức phổ thông, khoa học, văn hóa nghệ thuật đến lối sống,
tập quán, cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp… được hình thành và tích
l
ũy trong một quá trình phát triển của dân tộc gắn liền với việc tiếp thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status