Sự biến đổi kinh tế xã hội của các nước đông nam á lục địa (cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX) dưới tác động của thực dân phương tây - Pdf 32

Khoỏ lun tt nghip

trờng đại học Vinh
khoa lịch sử

----------***----------

khoá luận tốt nghiệp đại học

sự biến đổi kinh tế xã hội của các n ớc
đông nam á lục địa (cuối thế kỷ
xix, đầu thế kỷ xx)
Chuyên ngành: Lịch sử thế giới

Giáo viênhớng dẫn : th.s bùi văn hào
Sinh viên thực hiện
Lớp

: nguyễn Thị Hiên
: 43E2 Lịch sử

Vinh, 05/2007

Lời cảm ơn

Nguyn Th Hiờn

43E 2- S


Khoỏ lun tt nghip

trở thành thuộc địa của Pháp, Mianma thành thuộc địa của Anh, riêng Thái
Lan- nhờ chính sách ngoại giao “ngọn cây tre” nên vẫn giữ được độc lập dù
nền độc lập ấy chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược, các nước phương Tây đã nhanh
chóng thiết lập nên bộ máy cai trị và tiến hành các hoạt động nhằm khai thác
bóc lột các nước thuộc địa và phụ thuộc. Dưới ảnh hưởng đó của chủ nghĩa
thực dân, tình hình kinh tế- xã hội các nước Đông Nam Á nói chung, Đông
Nam Á lục địa nói riêng đã có sự vận động và biến đổi sâu sắc. Đó là sự
chuyển biến theo xu hướng mới của các thành tố cũ trong xã hội phong kiến
cổ truyền cũng như sự ra đời, phát triển của hàng loạt các nhân tố mới theo
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Tuy nhiên, từ trước đến nay, quá trình thực dân hoá của thực dân phương
Tây ở các nước thuộc địa và phụ thuộc trước đây luôn được nhìn nhận, đánh
giá dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó đi đến những kết luận khác nhau,
thậm chí trái ngược nhau. Trong khi các sử gia tư sản phương Tây cho rằng
quá trình thực dân hoá ở Đông Nam Á nói riêng, phương Đông nói chung là
quá trình “khai hoá văn minh” thì các sử gia Đông Nam Á trong đó có Việt
Nam lại cho rằng quá trình đó đã để lại những hậu quả nặng nề cho các nước
thuộc địa và phụ thuộc.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu quá trình biến đổi kinh tế- xã hội
của các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng (cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX) dưới ảnh hưởng của thực dân phương Tây cũng
Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

như việc đánh giá một cách khách quan, khoa học những tác động của quá


43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

lịch sử. Trong đó, công trình này có nêu những ý kiến đánh giá mới về ảnh
hưởng của quá trình thực dân hoá ở các nước Đông Nam Á nói chung, Đông
Nam Á lục địa nói riêng trong thời gian cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.
Bên cạnh đó, các tài liệu chuyên khảo về lịch sử các nước như: “Lịch sử
Lào” [10], “lịch sử Mianma” [16], “lịch sử Campuchia” [15], “lịch sử Vương
quốc Thái Lan” [14] và các công trình nghiên cứu về lịch sử Việt Nam thời
cận đại cũng đã đề cập đến một số vấn đề có liên quan đến nội dung của đề
tài.
Ngoài ra, vấn đề trên còn được đề cập đến trong một số bài viết đăng
trên các tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí lịch sử, tạp chí nghiên cứu Đông
Nam Á và trên một số bài báo.
Từ thực tế tình hình nghiên cứu trên, chúng tôi quyết định chọn vấn đề:
“Sự biến đổi kinh tế- xã hội của các nước Đông Nam Á lục địa (cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX) dưới tác động của thực dân phương Tây” làm đề tài
nghiên cứu khoá luận tốt nghiệp.
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Về không gian: Các nước Đông Nam Á lục địa (tức là các nước nằm
trên bán đảo Trung Ấn).
Về thời gian: Sự biến đổi kinh tế- xã hội của các nước Đông Nam Á lục
địa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, để thuận lợi cho công việc
nghiên cứu, luận văn đã đề cập đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX.
Về nội dung: Kinh tế- xã hội là một khái niệm rộng, phức tạp bao gồm
nhiều bộ phận, nhiều lĩnh vực, nhiều mối quan hệ khác nhau. Tuy nhiên, luận
văn chỉ đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất là cơ cấu ngành kinh tế và



Khoá luận tốt nghiệp

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
QUÁ TRÌNH XÂM NHẬP VÀ XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN
PHƯƠNG TÂY VÀO CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á LỤC ĐỊA( từ thế kỷ
XVI đến cuối thế kỷ XIX )
1.1.khái quát tình hình các nước Đông Nam Á lục địa trước khi thực
dân phương Tây xâm nhập( trước thế kỷ XVI )
1.1.1 Tình hình kinh tế.
Do tài liệu viết về các nước Đông Nam Á nói chung và các nước Đông
Nam Á lục địa nói riêng trước thế kỷ XVI còn quá ít cho nên chúng ta khó có
thể hình dung được một bức tranh toàn diện về nền kinh tế cổ của vùng này.
Tuy nhiên, gần đây người ta dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau, đặc biệt
là những bằng chứng do khảo cổ học đem lại mà chúng ta có thể khẳng định
rằng trước khi chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm nhập vào các nước Đông
Nam Á, đặc biệt là các nước Đông Nam Á lục địa thì nền kinh tế của các
nước này chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, có sự tồn tại của nhiều nghề thủ
công truyền thống và bước đầu đã có sự giao lưu buôn bán giữa các vùng tuy
chưa đáng kể.
Biểu hiện của nền kinh tế nông nghiệp là phần lớn cư dân đều sống ở các
vùng nông thôn (chiếm 90% dân số) với hai phương thức canh tác chủ yếu là
du canh và định canh. Hình thức du canh được đặc trưng bởi thuật ngữ “đốn
cây và đốt rẫy”[2 , 340] được áp dụng trên các vùng cao của Đông Nam Á lục
địa. Cư dân ở những vùng này thường phát quang một mảnh rừng bằng cách
đốn cây và đốt rẫy để trồng các loại cây lương thực như ngô, khoai, lúa v.v..
đến khi năng suất và sản lượng của các loại cây lương thực đó không còn cho
kết quả cao nữa thì họ lại tự động chuyển sang một khu vực khác với phương

xuất hiện rất sớm của các nhà nước sơ khai phương Đông cổ đại.
Ở các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng
trước thế kỷ XVI đang còn tồn tại chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến
nên về danh nghĩa ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà Vua. Nhưng
trên thực tế thì trong các công xã nông thôn đã xuất hiện chế độ tư hữu về
ruộng đất. Ngoài những vùng đất thuộc sở hữu công hữu của công xã thì
người nông dân vẫn được chia một phần ruộng đất nhất định để canh tác với
phương thức bóc lột mang tính cổ điển là phát canh thu tô.

Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

Ngoài lúa gạo là lương thực chủ yếu thì ở các nước Đông Nam Á nói
chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng vào lúc này còn trồng nhiều loại cây
trồng khác như: Bông, lạc, dầu, vừng (tập trung ở miền trung Miến Điện) và
các loại cây ăn quả như: chuối, đu đủ, xoài, dứa v.v.. đặc biệt ở các vùng cao
nguyên người ta còn trồng các loại cây công nghiệp lâu năm như tiêu, chè,
đinh hương v. v.. Những sản phẩm đó trở thành các mặt hàng quan trọng
trong thương mại quốc tế.
Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì trong các làng mạc còn
tồn tại nhiều nghề thủ công truyền thống mang tính chất tự cấp tự túc. Ngoài
những nghề tiểu công nghiệp gia đình như xe sợi, dệt vải, làm gốm, làm nông
cụ v.v.. thì trong các cộng đồng làng xã vẫn còn có một số chuyên nghề nhất
định như nghề đào mỏ, thiếc, vàng, bạc; nghề tạc tượng thịnh hành ở các
nước theo đạo Phật như Xiêm, Mianma v.v.. Ở những vùng phát triển về giao
thông đường thuỷ, đặc biệt là những vùng ven biển như ở miền Nam Vương

của nền kinh tế ấy cũng tồn tại một cách dai dẳng và lâu dài. Điều đó đã cản
trở sự nảy sinh và phát triển một nền kinh tế hàng hoá mang tính giao lưu
buôn bán rộng rãi. Do đó, vào trước thế kỷ XVI nếu như ở phương Tây chế
độ phong kiến đã bước vào giai đoạn suy tàn khủng hoảng nhường chỗ cho
quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa với nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển
tương đối mạnh mẽ thì ở các nước phương Đông trong đó có các nước Đông
Nam Á lục địa nền kinh tế đang nằm trong tình trạng lạc hậu, què quặt, tự cấp
tự túc.
1.1.2. Tình hình chính trị, xã hội, văn hoá
Cũng như các nước phương Đông khác trước thế kỷ XVI các nước Đông
Nam Á lục địa đang nằm trong sự thống trị của chế độ phong kiến quân chủ
chuyên chế trung ương tập quyền cao độ (tuy nhiên, chế độ đó đang dần dần
bước vào giai đoạn suy tàn và khủng hoảng) với quyền lực tối cao tập trung
trong tay nhà Vua. Tuy nhiên, lúc bấy giờ ở các nước Đông Nam Á lục địa
tồn tại rất nhiều vương quốc lớn nhỏ khác nhau. Chẳng hạn như trên lãnh thổ
của Mianma ngày nay có các vương quốc của người Môn, người Miến, người
Pyu v.v.. trên lãnh thổ của Thái Lan, Lào tồn tại các vương quốc của người
Môn, người Thái; trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại các vương quốc của người
Việt, Người Chăm v.v.. Sau này các vương quốc đó qua quá trình đấu tranh
thôn tính lẫn nhau thì mới thống nhất lại thành các vùng lãnh thổ như ngày
nay.
Trong xã hội của các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa
nói riêng lúc bấy giờ tồn tại ba giai cấp, tầng lớp chính. Giai cấp thống trị
Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp


Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

Như vậy, cùng với tình hình kinh tế mang tính tự cấp, tự túc thì tình hình
chính trị- xã hội của các nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa
nói riêng lúc này cũng đang bước vào giai đoạn trì trệ khủng hoảng, do đó từ
thế kỷ XVI trở đi, khi các nước phương Tây bắt đầu xâm nhập vào các nước
này thì nền kinh tế- xã hội mới dần dần có những chuyển động.
Về văn hoá: Do các nước Đông Nam Á nằm giữa hai trung tâm văn minh
lớn của nhân loại nên ngay từ thời cổ đại đã sớm chịu ảnh hưởng của văn hoá
Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa trong đó ảnh hưởng đậm nét nhất là Phật giáo
và Nho giáo. Nếu như ở các nước Xiêm, Mianma v.v… Phật giáo đã ăn sâu
vào trong tiềm thức của mọi tầng lớp nhân dân thì ở Việt Nam Nho giáo trở
thành hệ tư tưởng chính thống, là công cụ để bảo vệ chế độ phong kiến và duy
trì trật tự xã hội.
1.2. Quá trình xâm nhập và xâm lược của thực dân phương Tây vào các
nước Đông Nam Á lục địa ( từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX ).
1.2.1 Khái quát chung.
Ngày nay chúng ta rất khó xác định được sự có mặt đầu tiền của người
Châu Âu ở Đông Nam Á nói chung và Đông Nam Á lục địa nói riêng là vào
khoảng thời gian nào? Tuy nhiên, theo một số tài liệu hiện còn lưu giữ được
thì người Châu Âu đầu tiên có mặt ở Đông Nam Á là người Ý tên là Mác-cô
Pô-lô (MarcoPolo), ông ta đã đặt chân đến nhiều vùng đất ở Đông Nam Á,
đặc biệt là các vùng đất thuộc Đông Nam Á lục địa như Miến Điện, Lào, Đại
Việt, Chăm pa v.v.. vào cuối thế kỷ XIII. Sau đó, với mục đích truyền bá đạo
Cơ Đốc, một số linh mục Châu Âu đã đặt chân đến vùng đất này. Tiếp đó vào

sỹ người Pháp tên là A-lếch-xăng-đơ-rốt (Alexan de Rhôdes). Ngoài việc
truyền đạo và hoạt động thương mại thì các giáo sỹ đã bí mật thăm dò tình
hình để chuẩn bị cho một cuộc xâm lược nước ta trên quy mô lớn.
Và vào giữa thế kỷ XIX, trong khi triều đình nhà Nguyễn lâm vào tình
trạng khủng hoảng suy vong trầm trọng thì thực dân Pháp đã nổ súng xâm
lược nước ta tại Đà Nẵng (01/9/1858). Sau một thời gian dậm chân tại chỗ,
thực dân Pháp kéo toàn bộ vào Gia Định và chật vật mãi chúng mới giành
được thắng lợi. Ngày 05/6/1862 trong lúc khí thế chống Pháp của nhân dân
miền Nam đang lên mạnh thì triều đình Huế đã ký với Pháp “Hiệp ước Nhâm
Tuất” với nội dung chủ yếu là triều đình phong kiến phải cắt ba tỉnh miền
Đông cho Pháp (Gia Định, Định Tường, Biên Hoà), mở rộng các cửa biển Ba
Lạt, Đà Nẵng, Quảng Yên cho tàu bè Pháp tự do thông thương; nộp món tiền
bồi thường chiến phí là 20 triệu quan (280 vạn lạng bạc). Sau khi chiếm xong
ba tỉnh miền Đông, lợi dụng tính chất “hai mặt” của triều đình Huế, thực dân
Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

Pháp lại tiến hành các hoạt động cần thiết để chiếm nối ba tỉnh miền Tây và
ngày 20/6/1867 kinh lược sứ miền Tây Phan Thanh Giản và Trấn thủ Vĩnh
Long Trương Văn Uyển đã phải đồng ý cắt ba tỉnh miền Tây cho Pháp (Vĩnh
Long, An Giang, Hà Tiên).
Như vậy đến tháng 6/1867, “Nam Kỳ Lục Tỉnh” đã rơi vào tay Pháp,
chúng nhanh chóng thiết lập bộ máy cai trị ở đây để làm bàn đạp tấn công
chinh phục toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Vào cuối năm 1873 đầu năm 1874, thực dân Pháp từ Nam Kỳ kéo quân
ra đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất, trước sự kháng cự quyết liệt của nhân

- Đối với Campuchia.
Sau một thời kỳ phát triển cực thịnh dưới thời Ăng Co (thế kỷ IX-XV),
từ thế kỷ XVI trở đi Vương quốc Campuchia trước vào giai đoạn suy tàn. Ở
đây còn tồn tại chế độ phong kiến nhưng tính tập trung lại không cao. Về
danh nghĩa quyền lực tối thượng thuộc về nhà Vua nhưng trên thực tế quyền
lực đó lại phân chia thành ba nhánh với ba Vương phủ.
Vương phủ của Phó vương quản lý 7 tỉnh.
Vương phủ của Thái tử quản lý 5 tỉnh.
Vương phủ của Hoàng Thái Hậu quản lý 3 tỉnh.
Cũng vào thời kỳ này các nước Phương Tây đã bắt đầu xâm nhập vào
Campuchia, đi đầu là người Bồ Đào Nha, sau đó là người Tây Ban Nha và
người Hà Lan nhưng sự thâm nhập đó đều bị thất bại.
Sang thế kỷ XVII, người Pháp đã bắt đầu có mặt ở Vương quốc này mà
những người đầu tiên là các cha cố với mục đích là truyền đạo nhưng trên
thực tế họ trở thành cố vấn cho các đạo quân, các cơ quan và các nhà chính trị
thực dân. Sau một thời kỳ dọn đường thông qua việc truyền đạo, buôn bán và
ngoại giao vào tháng 4/1863 tức là sau khi hoàn thành việc xâm lược ba tỉnh
miền Đông Nam Bộ (Việt Nam), thực dân Pháp đã đưa quân ngược dòng
sông Mê Kông tiến vào Tudon. Mặc dù vương triều Xiêm tìm cách ngăn cản
nhưng đại diện của Pháp đã gặp Nôrôđôm và ký một bản Hiệp ước bảo hộ
vào 11/8/1863. Theo Hiệp ước này thì Pháp nhận bảo hộ Campuchia; Hoàng
đế Pháp cử Khâm sứ bên cạnh nhà Vua Campuchia; mọi việc ký kết và giao
tiếp của Campuchia với các nước phải được Pháp đồng ý; người Pháp được
quyền lãnh sự tài phán, được tự do cư trú, buôn bán đi lại, truyền đạo v.v.. ở
Campuchia. Đổi lại Pháp phải cam kết giúp Campuchia chống ngoại xâm và
nội phản; công nhận Nôrôđôm là Vua, là Quốc vương v.v..
Tuy nhiên, bản Hiệp ước này không những đã gây phản ứng đối với nhân
dân Campuchia mà còn gây nên nỗi bất bình gay gắt đối với triều đình Xiêm.
Nguyễn Thị Hiên


cùng Xiêm đã phải nhượng bộ và ký hoà ước với Pháp vào ngày 31/10/1893.
Theo Hiệp ước này thì hai bến lấy sông Mê Kông làm ranh giới: Phía
Tây thuộc quyền quản lý của Xiêm, phía Đông thuộc quyền quản lý của Pháp.
Với Hiệp ước này chế độ cai trị của Pháp được chính thức thiết lập ở Lào.

Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

1.2.3.Quá trình xâm nhập, xâm lược của thực dân phương Tây và sự độc
chiếm của Anh đối với Mianma.
Các thương nhận châu Âu đã đến Mianma từ rất sớm, nhất là các thương
nhân người Ý, người Nga nhưng mở đầu cho quá trình xâm nhập vào Mianma
chính là người Bồ Đào Nha. Sau Bồ Đào Nha là người Hà Lan nhưng đóng
vai trò chính trong việc tranh chấp thuộc địa này là người Anh và người Pháp.
Cuối cùng với ưu thế về mặt kinh tế, quân sự, hậu phương Anh đã gạt bỏ
được những ảnh hưởng của Pháp để độc chiếm Mianma. Và quá trình độc
chiếm Mianma của Anh cũng phải thông qua ba cuộc chiến tranh.
Cuộc chiến lần thứ nhất diễn ra từ năm 1824 đến năm 1826: Đến đầu thế
kỷ thứ XIX quan hệ giữa Anh và Mianma đã trở nên căng thẳng mà nguyên
nhân là do sự xung đột giữa lính biên phòng Anh và Mianma. Lấy lý do đó
tháng 3/1824 Anh tuyên chiến với Mianma bằng một cuộc tấn công quy mô
lớn vào vùng Hạ Miến. Về cơ bản Anh đã làm chủ được khu vực này. Cho
đến năm 1826, hai bên đã ký hiệp ước ở Iandabô. Theo Hiệp ước này Mianma
phải cắt cho Anh hai tỉnh giàu có là Aracan và Tênátxêrim ở miền duyên hải
phía Nam. Mianma phải bồi thường cho Anh một triệu bảng chiến phí.
Mặc dù giành thắng lợi nhưng Anh cũng phải trả giá đắt cho cuộc chiến

Mianma là nước trung lập nằm dưới sự bảo hộ của Pháp.
Chính Hiệp ước này đã làm cho thực dân Anh lo sợ vì nếu như kế hoạch
trên được thực hiện thì chắc chắn Thượng Miến sẽ rơi vào tay Pháp, do đó
nhân khi Pháp đang vướng bận vào vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương và
Mađagaxca thì Anh quyết định hành động ngay. Vào ngày 30/10/1885, sứ
thần Anh đã chuyển tối hậu thư cho triều đình Mianma nhưng triều đình
không chấp nhận. Vì vậy ngày 14/11/1885 Anh đã huy động lực lượng quân
đội hùng hậu tấn công vào vùng Thượng Miến. Vua Mianma là Tibao đã phải
đầu hàng và bị đày sang Cancútta. Ngày 01/1/1886 phó vương Anh ở Ấn Độ
tuyên bố sát nhập Mianma vào Ấn Độ. Như vậy từ đây Mianma đã trở thành
một tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh.
Trải qua 60 năm thông qua 3 cuộc chiến tranh thực dân Anh đã hoàn
thành xâm lược Mianma và biến nước này thành thuộc địa của mình.
2.1.4. Quá trình xâm nhập của thực dân phương Tây vào vương quốc
Xiêm.
Sự xâm nhập của thực dân phương Tây vào vương quốc Xiêm có thể
chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất từ cuối thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVII: Năm 1596
thực dân Hà Lan đã đặt chân đến vương quốc Xiêm và ngay lập tức Hà Lan
Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

đã giành được quyền buôn bán ở vương quốc này. Đến năm 1610 hàng loạt
thương điếm của Hà Lan đã được xác lập trên đất Xiêm và giữa Xiêm và Hà
Lan đã ký một hiệp ước. Theo đó, Hà Lan sẽ giúp Xiêm trong việc xây dựng
và đóng tàu. Sau người Hà Lan, đến lượt người Anh cũng có mặt trên vùng


Khoá luận tốt nghiệp

cũng giống như các nước ở Á, Phi, Mỹ la tinh, thực dân phương Tây gõ cửa
vương quốc Xiêm và buộc nước này từng bước “mở cửa” trở lại.
Việc “mở cửa” lần này của Xiêm được tiến hành từ từ và bắt đầu từ
Rama III nhưng phải từ Rama IV trở đi thì quá trình đó mới diễn ra một cách
mạnh mẽ. Sau khi lên ngôi Rama IV (Mông-Cút) đã xoá bỏ độc quyền về
xuất khẩu gạo và đường. Rồi trước sức ép của Anh, Xiêm đã ký với Anh một
Hiệp ước bất bình đẳng trong đó có những nội dung cơ bản như thương nhân
Anh được tự do buôn bán, người Anh được hưởng quyền lãnh sự tài phán
v.v..
Sau khi ký Hiệp ước với Anh, Xiêm lại ký một loạt các Hiệp ước tương
tự như vậy với các nước phương Tây khác như: Mỹ, Pháp, Đan Mạch, Bồ
Đào Nha, Hà Lan, Đức v.v.. Và năm 1898 ký Hiệp ước với Nga.
Và như vậy trước sự đe doạ của thực dân phương Tây, với chính sách
ngoại giao “ngọn cây tre”, với việc ký kết một loạt các Hiệp ước bất bình
đẳng, vương triều Xiêm đã thực thi đường lối mở toang cánh cửa cho các
nước phương Tây tự do xâm nhập vào Xiêm.
Trong số các Hiệp ước nêu trên thì quan hệ giữa Pháp và Xiêm còn có
liên quan mật thiết đến vấn đề Campuchia và Lào. Bởi vì trước khi Pháp đặt
chân xâm lược Campuchia và Lào thì hai quốc gia này vốn phụ thuộc vào
vương quốc Xiêm. Do đó đã dẫn tới việc tranh chấp giữa Xiêm và Pháp về
vấn đề Campuchia và Lào. Vương triều Xiêm muốn dựa vào Anh để chống lại
Pháp nhưng giữa Anh và Pháp đã có sự thoả thuận ngầm. Cho nên, cuối cùng
Xiêm đã phải chấp nhận ký các Hiệp ước với Pháp nhằm giải quyết vấn đề
Campuchia và Lào. Còn thực dân Anh muốn tránh sự đụng độ với Pháp cho
nên đã chủ trương biến Xiêm thành nước đệm giữa hai hệ thống thuộc địa của
hai nước (Đông Dương thuộc Pháp và Mianma, bán đảo Mã Lai thuộc Anh).
Từ đó Hiệp ước Anh- Pháp ra đời vào tháng 1/1896. Và như vậy có thể thấy

thuộc địa và phụ thuộc vào các nước thực dân phương Tây.
Đồng thời với quá trình xâm nhập và xâm lược của các nước phương
Tây thì tình hình kinh tế- xã hội của các nước Đông Nam Á nói chung, Đông
Nam Á lục địa nói riêng có nhiều chuyển biến đáng kể.
Trong lĩnh vực kinh tế đã xuất hiện những mầm mống của quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Thị trường trong nước được mở rộng. Việc giao lưu
buôn bán giữa các vùng trong mỗi nước, giữa các nước trong khu vực cũng
như với các nước ngoài khu vực được tăng cường hơn, đặc biệt là sự giao lưu
buôn bán với các nước phương Tây. Hàng xuất khẩu chủ yếu của các nước
này là lúa gạo, gỗ tếch, hồ tiêu và một số hương liệu khác. Nghề thủ công
Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

cũng có một bước phát triển đáng kể, đặc biệt là ngành dệt vải v.v.. Trong các
nước như Miến Điện, Xiêm, Đại Việt đã xuất hiện một số công trường thủ
công như xưởng đóng tàu thuyền, khai thác mỏ (sắt, chì, đồng), sản xuất các
loại đồ dùng trong cung Vua v.v.. Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất mới này
được nảy sinh nhưng lại chịu sự kìm hãm của các thể chế phong kiến nên nó
phát triển một cách hết sức chậm chạp và yếu ớt. Chính vì thế, cho đến trước
khi chủ nghĩa thực dân phương Tây đô hộ các nước Đông Nam Á nói chung,
Đông Nam Á lục địa nói riêng thì nền kinh tế của các nước này chủ yếu vẫn
là kinh tế nông nghiệp, mang tính chất tự nhiên và một số nghề thủ công nhỏ
bé, què quặt. Phải đợi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nền kinh tế của
các nước này mới thực sự chuyển biến đáng kể.
Trong lĩnh vực xã hội ít nhiều cũng có sự xáo trộn, chẳng hạn như sự
xuất hiện của các cộng đồng người Châu Âu đến sinh sống ở một số trung

ách cai trị và bóc lột, tiến hành khai thác thuộc địa thì kinh tế- xã hội của các
nước Đông Nam Á nói chung, Đông Nam Á lục địa nói riêng mới thực sự có
nhiều chuyển biến quan trọng.

Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Khoá luận tốt nghiệp

Chương 2 :
SỰ BIẾN ĐỔI KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
LỤC ĐỊA ( CUỐI THẾ KỶ XIX, ĐẦU THẾ KỶ XX ) DƯỚI TÁC
ĐỘNG CỦA THỰC DÂN PHƯƠNG TÂY.
Có thể nói đến cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hầu hết các nước Đông
Nam Á (trừ vương quốc Xiêm vẫn còn giữ được độc lập trên danh nghĩa) đều
bị bọn thực dân phương Tây biến thành thuộc địa, thuộc địa nửa phong kiến
hoặc là nước phụ thuộc. Sau đó, chúng nhanh chóng thi hành các chính sách
cai trị và bóc lột của mình.
2.1. Sự biến đổi kinh tế - xã hội của ba nước Đông Dương ( cuối thế
kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ).
2.1.1 Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân Pháp.
Để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác và bóc lột thuộc
địa sau khi bình định xong Đông Dương, thực dân Pháp liền thiết lập một bộ
máy hành chính cai trị chặt chẽ của chúng trên vùng đất này.
Lúc đầu chúng tìm mọi cách chia rẽ đất nước và chia rẽ dân tộc của ba
nước Đông Dương hòng phân tán lực lượng để dễ bề cai trị, nhưng về sau sự
chia rẽ đó lại gây nên tình trạng không thống nhất trong khâu quản lý. Do đó
buộc chúng phải quan tâm đến sự thống nhất của bộ máy thuộc địa toàn Đông

Công sứ người Pháp. Toàn bộ hệ thống chính quyền dưới tỉnh là phủ, huyện,
châu (miền núi), xã trên toàn lãnh thổ Việt Nam đều do người Việt quản lý,
tầng lớp này cấu kết với thực dân Pháp, làm tay sai cho chúng tiếp tục áp bức,
bóc lột nhân dân.
Đối với Lào, sau khi chiếm xong đất nước này vào năm 1893, thực dân
Pháp chia Lào thành hai khu vực: miền Thượng Lào gồm 6 tỉnh lấy Luông
Pha Băng làm thủ phủ; miền Hạ Lào gồm 7 tỉnh lấy Khổông làm thủ phủ. Để
nắm lấy từng tỉnh Pháp cử đến mỗi tỉnh một tên “uỷ viên Chính phủ” có
quyền hành lớn như Công sứ. Năm 1899 để dễ bề cai trị, chúng đã hợp nhất
hai miền thành một khu vực lấy Viêng Chăn làm thủ phủ. Cũng giống như ở
Việt Nam, bên cạnh Vua Lào còn có một vị Khâm sứ người Pháp quản lý về
hành chính và ngoại giao, ngôi Vua chỉ còn là hư vị. Cả nước chia thành 9
tỉnh, dưới tỉnh là các mường, dưới mường là tàxẻng, mỗi tàxẻng có nhiều bản.
Từ mường trở xuống là do người Lào trực tiếp quản lý.
Cũng giống như ở Việt Nam, Lào, bên cạnh vua Campuchia cũng là một
vị Khâm sứ người Pháp, bên cạnh các viên quan đứng đầu cấp Tỉnh là một

Nguyễn Thị Hiên

43E 2- Sử


Trích đoạn Sự biến đổi kinh tế xó hội của Vương quốc Xiờm (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX).
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status