Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị ngành cơ khí chế tạo việt nam đề xuất giải pháp thúc đẩy đổi mới công nghệ giai đoạn 2010 2020 phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa - Pdf 13


BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU CƠ KHÍ BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
CẤP BỘ NĂM 2010 Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU, KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI CÔNG
NGHỆ, THIẾT BỊ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO VIỆT NAM. ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ GIAI
ĐOẠN 2010-2020 PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CNH-HĐH”
Kí hiệu: 207.10RD/HĐ-KHCN

NAM. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG
NGHỆ GIAI ĐOẠN 2010-2020 PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CNH-
HĐH”
Kí hiệu: 207.10RD/HĐ-KHCN

Viện Nghiên cứu Cơ khí Chủ nhiệm Đề tài
TS. Đào Duy Trung

Hà Nội – 12/2010

M U V PHM VI NGHIấN CU

1. S cn thit v xut x ti
Trong bi cnh ton cu húa v hi nhp kinh t quc t ngy nay,
i mi cụng ngh, thit b ó v ang tr thnh mt trong nhng yu t
quan trng quyt nh nng lc cnh tranh ca doanh nghip mi nc núi
chung, doanh nghip Vit Nam núi riờng.
Gần nửa thập kỷ qua, quá trình đổi mới cụng ngh đã tác động mạnh
mẽ làm thay đổi về chất toàn bộ thế giới và trở thành động lực cho sự phát
triển khoa học kỹ thuật và kinh tế, một động lực mà thiếu nó, dù một quốc
gia hay khối quốc gia hùng mạnh sẽ mất tính năng động, rơi vào sự trì trệ và
vấp phải những khó khăn to lớn về kinh tế xã hội.

Mt khỏc vic i m
i cụng ngh cho cỏc ngnh kinh t, cng nh
ngnh cụng nghip núi chung v c khớ núi riờng cng rt quan trng, mang
li ý ngha quyt nh cho s phỏt trin ca nn kinh t, ỏp ng kh nng
hi nhp kinh t quc t, nhm tham gia cú hiu qu vo t chc thng mi
ln nht hnh tinh WTO, ỏp ng cú hiu qu vo s nghip Cụng nghip
húa v hin i húa (CNH v HH).
Trong nh
ng nm i mi va qua, nhiu doanh nghip Vit Nam ó
khụng ngng vn lờn, mnh dn b vn u t i mi cụng ngh, tng
bc lm ch cụng ngh nhp ngoi, t ú ó to ra nhng sn phm cú cht
lng, cú kh nng cnh tranh cao c th trng trong nc v quc t.
Tuy nhiờn, trỡnh cụng ngh ca Vit Nam hi
n nay nhỡn chung vn rt
thp so vi mc trung bỡnh ca khu vc v quc t; nhiu doanh nghip vn
cha quan tõm ti u t i mi cụng ngh, dn n u t cho i mi
cụng ngh ca cỏc doanh nghip trung bỡnh ch mc 0,3% doanh thu so

i mới các sản phẩm, cho đào tạo và đào tạo lại
con người. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể hỗ trợ gián tiếp các doanh nghiệp
thông qua đầu tư vào cơ sở hạ tầng (cả phần cứng và phần mềm) để tạo điều
kiện cho doanh nghiệp dễ dàng thực hiện các dự án đổi mới công nghệ. Tuy
nhiên, chính sách của Nhà nước cũng cần phù hợp với các quy định c
ủa Tổ
chức Thương mại Thế giới liên quan tới các biện pháp tài trợ cho doanh
nghiệp.
Hơn nữa, các vấn đề nghiên cứu đề xuất này trong lĩnh vực Cơ khí chế
tạo hiện nay chưa được nghiên cứu tại Việt Nam. Do đó, việc cho nghiên
cứu đề tài là cần thiết, có ý nghĩa định hướng chiến lược đổi mới công nghệ
cho các doanh nghiệp, các tổ chức cơ sở
kinh doanh khác, cho quản lý vĩ mô
của nhà nước, kể cả gián tiếp đổi mới công tác và hoạt động nghiên cứu
phát triển phục vụ cho mục tiêu đổi mới công nghệ chung.
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu
Cùng với các chính sách, cơ chế đồng bộ đã được Nhà nước, Bộ/Ngành
ban hành còn hiệu lực, các quy định của Tổ chức Thương mại Quốc tế
(WTO) có liên quan, mục đích chính của đề tài là: trên cơ sở nghiên c
ứu
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 8

thực trạng đổi mới công nghệ các doang nghiệp trong ngành cơ khí, đề xuất
các giải pháp, cơ chế chính sách đổi mới công nghệ cho sự phát triển ngành
cơ khí chế tạo, đáp ứng sự nghiệp CNH và HĐH thời gian tới.
Nội dung của đề tài là đưa ra cơ sở lý luận, tổng quan kinh nghiệm

9 Trong quá trình triển khai thực hiện, ngoài các tài liệu tham khảo cần
thiết phải sử dụng, trên cơ sở xây dựng các biểu mẫu lấy số liệu của các Tập
đoàn, Tổng Công ty, Công ty, nhà máy chế tạo và các Viện R-D thuộc lĩnh
vực cơ khí, đề tài đã gửi hồ sơ lấy số liệu tại khoảng 40 cơ sở chế tạo cơ khí
lớn trong cả n
ước và gần 10 Viện chuyên ngành trên, thuộc nhiều Bộ/Ngành,
Tổng cục, khác nhau.
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 10
Chương 1
TỔNG QUAN NGOÀI NƯỚC CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU


Từ 1941 đến 1950: Năm 1946, máy tính điện tử đầu tiên dùng đèn điện
tử (ENIAC) do J.W.Mauchly và J.P.Eckert chế tạo. Năm 1947, thuật ngữ Tự
động hoá (Automation) được D.S. Header của Hãng Ford Motor đặt ra. Cuối

m 1949, bắt đầu áp dụng điều khiển tự động cho nhiều hệ thống, máy móc
và quy trình khác nhau.
Thập kỷ 50: Đầu thập kỷ đã sáng chế ra mạch tích hợp (IC) và máy tính
số đầu tiên. Năm 1952, phát triển kỹ thuật điều khiển số (Numerically
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 11
Controlled-NC) và khởi đầu của máy công cụ. Cuối thập kỷ 50, tăng trưởng
nhanh ngành điện tử và tự động hóa.
Thập kỷ 60: Năm 1960, lần đầu tiên sử dụng rôbốt công nghiệp do
Unimate chế tạo và Ford thực hiện. Giai đoạn 1960-1972, bắt đầu áp dụng
điều khiển số bằng máy tính CNC (Computer Numerically Controlled- CNC)
nhờ tiến bộ của các máy tính mini dẫn đến việc nâng cao năng suất, ch
ất
lượng, độ chính xác đối với sản phẩm cơ khí chế tạo. Trong các năm 1965-
1966, lần đầu tiên IBM và GM (General Motors) áp dụng điều khiển bằng
máy tính cho dây chuyền sản xuất. Năm 1968, bộ điều khiển logic khả lập
trình PLC (Programmable Logical Controllers) đã được thiết kế và sử dụng tại
GM.
Thập kỷ 70: Đầu thập kỷ 70 đã gia tăng các nghiên cứu điều khiển số

đối với các động cơ trợ động nhằm nâng mức độ điều khiển quy trình gia
công. Năm 1971, M.E. Hoff sáng chế ra bộ vi xử lý đầu tiên Intel 4004. Năm
1973, đưa ra khái niệm ban đầu về chế tạo được tích hợp máy tính CIM
12
phương pháp dựa vào máy tính để mã hoá dữ liệu hình học, nên tạo khả năng
cho các quy trình thiết kế và chế tạo được tích hợp cao độ. Hệ CAD tất nhiên
không hiểu được các khái niệm của thế giới thực, chẳng hạn như bản chất hay
chức năng của đối tượng được thiết kế. Hệ CAD thi hành chức năng của mình
nhờ khả năng mã hoá các khái niệm hình học. Do v
ậy, quá trình thiết kế dựa
vào CAD liên quan đến việc chuyển ý tưởng của người thiết kế thành mô hình
hình học. Các nhược điểm khác của CAD đang được khắc phục nhờ R&D
trong lĩnh vực hệ chuyên gia. Lĩnh vực này được hình thành từ các nghiên
cứu về trí tuệ nhân tạo (Actifial Intelligence - AI). Một ví dụ về hệ chuyên gia
bao hàm việc kết hợp thông tin về bản chất của vật liệu, trọng lượng,
ứng lực,
độ bền, độ dẻo vào phần mềm CAD. Nhờ tích hợp được các dữ liệu đó và
những dữ liệu khác vào phần mềm nên hệ CAD có thể biết được những gì mà
người kỹ sư biết khi người đó tạo ra một bản vẽ thiết kế. Sau đó, CAD có thể
bắt chước cách nghĩ của người kỹ sư và thực hiện công việc thiết k
ế. Do công
nghệ CAD/CAM ngày càng hoàn thiện nên đã tạo cơ sở phát triển các công
nghệ gia công như:
Công nghệ tạo nguyên mẫu, đúc và cán nhanh: Ngoài việc tăng cường
các phương pháp gia công truyền thống, công nghệ tạo nguyên mẫu nhanh
đang nổi lên, đem lại cuộc cách mạng cho những khái niệm đang diễn ra, từ
mô hình máy tính đến chi tiết nguyên mẫu đã hoàn tất. Các thiết bị tạo nguyên
mẫu nhanh in hoặc tạo dựng các chi tiết 3D tr
ực tiếp từ mô hình lập thể 3D
CAD bằng các vật liệu polyme. Có 2 công nghệ thường dùng là in lito lập thể
- SLA (Stereo Lithography) và kết tủa. Công nghệ SLA sử dụng tia laser để

iểm của các
công nghệ gia công truyền thống với những ưu điểm của công nghệ chế tạo vi
mạch bán dẫn. Với các công nghệ gia công chính xác, chẳng hạn như laser
hoặc gia công bằng tia lửa điện, có thể gia công một loạt các chi tiết một cách
nhanh chóng và đạt hiệu quả về chi phí nhờ một máy công cụ đơn lẻ.
EFAB kết hợp được nhiều ưu điểm củ
a gia công chính xác và công
nghệ chế tạo vi mô, tương tự như máy công cụ CNC, EFAB được thực hiện
bằng một hệ thống duy nhất, hoàn toàn tự động, có khả năng chế tạo các chi
tiết từ khi bắt đầu đến khi kết thúc. Bất kỳ một kỹ sư thiết kế nào đã quen với
CAD 3D đều có thể thực hiện quy trình này. EFAB là công nghệ gia công
hiệu quả để sản xuất lô lớn các chi tiế
t có độ chính xác cao (có thể chế tạo các
chi tiết chứa những phần tử nhỏ hơn 0,001 inch, độ dung sai dưới 0,0001
inch). EFAB kết hợp được các đặc tính về tốc độ cao, dễ sử dụng và linh hoạt
của máy công cụ với các đặc tính về độ chính xác và khả năng mở rộng cấp
độ của công nghệ chế tạo vi mạch bán dẫn.
Công nghệ gia công cắt gọt vi mô (Micro-Tooling): Có nhiều lợi ích
khi s
ử dụng gia công tốc độ cao - HSM (High Speed Machining) với các
nguyên công cắt gọt vi mô. Hiện chưa có định nghĩa thống nhất hoặc các
tham số tuyệt đối về HSM nhưng trong thực tế người ta thường gia công với
tốc độ trục chính là 25.000 vòng/phút hoặc cao hơn.
Công nghệ gia công bằng tia lửa điện: Gia công bằng tia lửa điện EMD
(Electrical Discharge Machining) có thể được ứng dụng để cắt các hình dạng
khác nhau, đặc biệt là các v
ật liệu cứng, chẳng hạn như thép dụng cụ. Quá
trình gia công bằng EMD như sau: Tạo ra một loạt tia lửa điện có tốc độ cao
giữa dụng cụ (điện cực), phôi và chất lỏng điện phân; phôi được nhúng chìm
trong chất lỏng cách điện, chẳng hạn như dầu và được tiệm cận tới dụng cụ;

truyền thống, đó là vật liệu kim loại, vật liệu hữu cơ polyme và vật liệu vô cơ
ceramic. Một loại vật liệu mới khác - vật liệu compozit đ
ang được ưu tiên
phát triển. Compozit chính là sự kết hợp nhân tạo của hai hoặc ba loại vật liệu
cơ bản nói trên.
Vật liệu kim loại, trước hết là thép, vẫn giữ vai trò then chốt trong
ngành công nghiệp chế tạo. Trong những thập kỷ gần đây công nghệ vật liệu
đang đi vào nghiên cứu và sử dụng các loại thép có chất lượng cao như thép
hợp kim thấp độ bền cao, thép hợp kim hoá vi lượ
ng, thép nitơ, thép kết cấu
siêu bền. Bên cạnh đó, nhôm cũng đóng vai trò không nhỏ trong ngành công
nghiệp chế tạo. Hợp kim nhôm có độ bền cao, chống ăn mòn tốt, đã trở thành
loại vật liệu thích hợp trong ngành công nghiệp chế tạo ô tô, máy bay, tàu
thuỷ.
Vật liệu polyme, có nhiều ưu điểm như tính dẻo cao, tính ổn định hoá
học cao trong nhiều môi trường cùng với khả năng dễ tạo hình và gia công
nế
u có, phạm vi ứng dụng rộng. Tuy nhiên, polyme là vật liệu kết cấu nên có
những hạn chế vì độ bền chưa cao, khả năng chịu nhiệt thấp, tuổi thọ ngắn.
Vật liệu gốm thường, chỉ sử dụng giới hạn trong nhóm vật liệu chịu
lửa, vật liệu cắt gọt nhưng hiện người ta đang phát triển vật liệu gốm kết cấ
u.
Các loại động cơ chế tạo từ gốm kết cấu hệ cacbit đã được nghiên cứu chế thử
và mở ra kỷ nguyên mới cho việc sử dụng động cơ chạy bằng nhiên liệu
hydro có hiệu quả cao, không gây ô nhiễm môi trường. Gốm thuỷ tinh cũng là
một loại gốm kết cấu đầy tiềm năng.
Vật liệu compozit, về thực chất là một kiể
u lai, giữa hai hoặc nhiều loại
vật liệu, sao cho tính chất của chúng bổ sung cho nhau. Đối với compozit kết
cấu thì yêu cầu về độ bền cao, tính dẻo tốt là những yêu cầu hàng đầu. Việc

hết sức quan trọng.
Vai trò của khoa học vật liệu cũng không hề thay đổi ở kỷ nguyên
thông tin ngày nay, nếu không chế tạo được vật liệu silic có độ tinh khiết đến
99,99999% thì sẽ không có chip máy tính, điện thoại tế bào hoặc mạng cáp
quang. Nhữ
ng thập kỷ vừa qua, ngành hoá vô cơ đã điều chế được vô số kim
loại, hợp kim và gốm, giúp máy bay có thể bay cao hơn và nhanh hơn, giúp
ôtô trở nên nhẹ hơn và tiết kiệm nhiên liệu hơn
Ngày nay, một lần nữa khoa học vật liệu lại đang chuẩn bị biến đổi thế
giới. Không thoả mãn với những nguyên vật liệu khai thác được trong lòng
đất, các nhà nghiên cứu đang lao vào khám phá và tạo ra các cấu trúc hoàn
toàn mới. Họ thực hiện điều đó bằng cách phá vỡ những bức rào ngăn cách
giữa hoá hữu cơ và hoá vô cơ, điều mà chỉ cách đây ít lâu vẫn bị coi là giả
khoa học (Pseudo-Science). Những hợp chất vô-hữu cơ của ngày mai sẽ được
điều chế để phục vụ đúng nhu cầu theo phương pháp từ dưới đi lên, từ nhỏ
đến lớn, tức là ghép nh
ững nguyên tử hoặc phân tử với nhau để nhận được
những tính chất chính xác theo đúng nhu cầu sử dụng. Arden Bemen, một kỹ
sư ở trường Đại học Durdue gọi giai đoạn này là buổi bình minh của một kỷ
nguyên vật liệu mới, với sự đáp ứng từng nhu cầu sử dụng cụ thể. Kỷ nguyên
này sẽ ra đời những loại vật liệu mà ngay cả
tạo hoá cũng phải ghen tỵ. Đó sẽ
là những chất phun phủ có chứa những hạt gốm vô cùng nhỏ, giúp vật liệu có
khả năng chống mài mòn, những dược phẩm và chất dẻo mới, là những pin
sắt - polyme có điện lượng lớn gấp đôi so với những loại pin chúng ta dùng
hiện nay. Có thể, chúng ta sẽ có được những tấm kim loại - compozit để làm
vỏ ôtô có khả năng phụ
c hồi lại hình dáng cũ sau khi bị biến dạng bởi những
cú va đập. Sẽ ra đời những vật liệu compozit nhẹ và dai để tăng công suất của
động cơ phản lực. Sẽ xuất hiện những vật liệu thông minh, mô phỏng các hệ

đổi sâu rộng lớn của thế giới, nhất là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách
mạng KH&CN hiện đại, mà đặc trưng là các ngành công nghệ cao như công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ v
ật liệu mới - công nghệ nano,
công nghệ năng lượng mới, công nghệ hàng không và vũ trụ đang tác động
sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị quốc tế, làm thay
đổi diện mạo thế giới đương đại. Trong sự phát triển vĩ đại đó, ngành công
nghiệp cơ khí chế tạo đóng vai trò có tính nền tảng và có sự hiện diện hầu như
trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội của cộng đồng quốc tế. Chính vì vậy,
xu hướng phát triển KH&CN cơ khí chế tạo vẫn được chú trọng và chủ yếu
tập trung phát triển một số lĩnh vực sau đây.
1.1.3.1. Về thiết kế và quy trình gia công chế tạo
Tiếp tục nghiên cứu và nâng cấp hệ CAD/CAM, trong đó chú trọng
phát triển các loại phần mềm ứng dụng, phầ
n mềm thông minh tiện lợi trong
giao diện người - máy, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong thiết kế và gia
công chế tạo. Đến năm 2030, sẽ thay đổi một cách căn bản phương thức thiết
kế, các nhà thiết kế chủ yếu làm việc bằng máy tính trực tuyến (On-Line).
Thiết kế sản phẩm có sử dụng các vật liệu trí tuệ. Thiết kế và lập kế hoạch chế
tạo số
và ảo. Phương thức thiết kế theo kiểu môdun cho các hệ thống chế tạo
liên tục. Tập trung hơn vào tự động hoá các dây chuyền chế tạo, các quy trình
tiên tiến nhất. Phát triển công nghệ gia công ở cấp nano (trong phạm vi 0,1-
100 nano) để tạo ra các cấu trúc nano. Chế tạo ở cấp phân tử để tạo dựng các
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 17
hệ thống từ cấp nguyên tử hoặc phân tử. Tập trung nghiên cứu để tạo ra các

fulleren và các bảng nano, phát triển các cấu trúc nano từ nhiều loại vật liệu.
Nghiên cứu chế tạo các động cơ cỡ nano, máy móc kích cỡ nano.
1.1.3.3. Về công nghệ chế tạo: Phát triển các hệ thống chế tạo thông minh
(Intelligent Manufacturing Systems - IMS). Các hệ thống thông minh
(Intelligent System- IS) hứa hẹn rất lớn trong các quy trình chế tạo tự động
hoá công nghiệp và các doanh nghiệp trong tương lai. Các hệ thống này đang
thu hút được sự quan tâm ngày càng tăng c
ủa các ngành công nghiệp và đang
được ứng dụng vào toàn bộ phạm vi của các hoạt động chế tạo để tạo được
sức cạnh tranh toàn cầu. Giá trị và tác động của các công nghệ IS còn to lớn
hơn so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, góp phần đưa lại kỷ
nguyên mới của các ngành công nghiệp chế tạo. IS được định nghĩa là các hệ
thống, trong đó mô phỏng và áp dụng tích cực một số khía cạnh của trí tuệ
con người nhằm thực thi nhiệm vụ. Hơn thế nữa, IS còn cố gắng nâng cao
năng lực như con người để cảm thụ, suy luận và ra quyết định hành động. IS
tạo khả năng cho các máy móc/thiết bị dự đoán được các yêu cầu và ứng phó
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 18
hữu hiệu trong những hoàn cảnh phức tạp, chưa biết trước và chưa thể dự báo
trước.
IMS là chương trình hợp tác R&D trong ngành công nghiệp cơ khí chế
tạo ở quy mô toàn cầu. Tham gia vào IMS là các công ty/doanh nghiệp, các
nhà cung cấp, người tiêu dùng, các tổ chức nghiên cứu, trường đại học và các
Chính phủ của các nước/khối nước là EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sỹ và
Mỹ. Chương trình gồm 2 giai đoạn: Giai đ
oạn 1 từ 1995 đến 2005; giai đoạn
2 từ 2005 trở đi.

Dưới đây, giới thiệu một số vấn đề: tổ chức và Luật KHCN; chính sách
KHCN và chính sách KHCN thế kỷ 21, các chương trình RD quốc gia,
1.2.1.1. Luật KH&CN và tổ chức hoạt độ
ng tại Hàn Quốc
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 19
Bộ KH&CN Hàn Quốc được thành lập từ năm 1967, có các chức năng
chính:
a/ Tạo dựng hệ thống chính sách phát triển KH&CN:
Tạo dựng chính sách đầu tư CN&TK (R&D), phát triển các nguồn nhân
lực, thông tin KH&CN và hợp tác quốc tế về KH&CN;
Trợ giúp nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng do Chính phủ lãnh
đạo với sự hỗ trợ của các Viện, các trường Đại học và các Viện nghiên cứu tư
nhân;
Làm kế
hoạch, xúc tiến và hỗ trợ triển khai nòng cốt về khoa học và
công nghệ hướng tương lai và công nghệ có quy mô lớn và trình độ cao;
Đạt tới độ tin cậy kiểm soát tự động về an toàn công nghệ hạt nhân;
Nâng cao trình độ nhận thức đại chúng về KH&CN.
b/ Hội Đồng KH&CN và đổi mới chính sách quốc gia được thành lập do
Tổng thống làm Chủ tịch, các thành viên gồm các Bộ Trưởng liên quan
KH&CN và các Uỷ viên.
c/ Luật xúc tiến KH&CN được ban hành n
ăm 1960. Từ năm 1970 – 1980 có
các Luật thành lập các Viện nghiên cứu, Giáo dục - đào tạo và gia tốc phát
triển KH&CN. Năm 1997 có Luật đặc biệt về đổi mới KH&CN. Năm 2001 ra
đời luật khung mới thay thế cho luật khung KH&CN trước.

trợ và tạo nền móng xây dựng năng lực KH&CN nội sinh, đòi hỏi sự tăng
trưởng tổng hợp về công nghiệp qua cải tiến công nghiệp tạo năng suất và hệ
thống chế tạo được nâng cấp tiền tiến, đòi hỏi nguồn nhân lực lớn là các nhà
khoa học và công nghệ trình độ cao với sự giáo dục nâng cấp và mở rộng
chương trình đào tạo c
ập nhật khoa học, công nghệ từ nước ngoài. Mặt khác,
chương trình R & D quốc gia từ năm 1982 hướng xây dựng đội ngũ nghiên
cứu triển khai (RD) nội sinh hướng vào các đổi mới công nghệ có các đặc
trưng chung nhất. Trong thời kỳ này ra đời thành phố khoa học, thành phố
Taedeok với các việc nghiên cứu công và tư cùng với sự hợp tác toàn diện và
có sự hợp tác nhanh đặc biệt về số lượng và loại hình các lab RD tư nhân.
Thành phố khoa học Taedeok trở thành cái nôi nghiên cứu khoa học
của Hàn Quốc đã thu hút 20.000 nhà nghiên cứu. Do đó, Hàn Quốc đã có 236
sáng chế được đăng ký vào Mỹ năm 1990 (xếp thứ 16 của các nước có sáng
chế vào Mỹ).
- Thập kỷ 90 (của thế kỷ 20) là kỷ nguyên biến đổi lớn và thách thức
lớn của Hàn Quốc. Hàn Quốc coi KH&CN và đổi mới công nghệ là chìa
khoá phát triển quốc gia, việc quản lý nhà nước chuyển sang pha đặc bi
ệt là
pha xây dựng nhanh năng lực KH&CN. Chính phủ có nhiều đổi mới với điều
khoản đặc biệt về KH&CN trong kế hoạch 5 năm (1997 - 2002) với dự án
quốc gia thực hiện đủ các tiêu chí trở thành quốc gia tiền tiến (từ nước công
nghiệp mới, NICs, sang nhóm các nước công nghiệp phát triển G7) và việc từ
nghiên cứu triển khai chuyển sang pha chủ động nghiên cứu sáng tạo (năm
2003 Hàn Quố
c đã chế tạo thành công Microchip có kích thước 90 nanomet,
nhỏ nhất thế giới; Nhật Bản cũng thành công kỷ lục này vào năm 2003, các
nước Mỹ, Đức … còn ở 120 nanomet).
1.1.1.2.3. Chính sách KH&CN và đổi mới công nghệ thế kỷ 21 của Hàn
Quốc

lực KH&CN, đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ và thương mại hoá –
toàn cầu hoá các hoạt động KH&CN, nhằm đưa Hàn Quốc vào hàng 10
cường quốc KH&CN của thế giới.
Cùng với hoạt động trên, Hàn Quốc đẩy mạnh KH&CN và đổi mới
công nghệ vùng, từ đó dẫn đến triển khai toàn quốc. Chính phủ tạ
o dựng
KH&CN và đổi mới công nghệ vùng toàn diện 5 năm và xúc tiến công nghệ
theo 6 chương trình: Triển khai các năng lực công nghệ vùng (địa phương)
theo công nghệ chiến lược; tạo ra các trung tâm trong các vùng hoạt động đổi
mới công nghệ; phát triển các nguồn nhân lực KH&CN địa phương; thiết lập
hệ thống thông tin KH&CN vùng; hình thành hướng dẫn văn hoá từ thành tựu
đổi mới KH&CN cho người dân, tránh lãng phí thời gian chơi game và
chuyển thành các trò chơi về đổi m
ới và ứng dụng công nghệ mới; tăng đầu tư
về KH&CN qua chính quyền vùng; năm 2003 tập trung vào công nghệ then chốt
cho sự phát triển công nghiệp vùng để đổi mới nhanh chóng toàn vùng.
1.2.1.3. Các chương trình quốc gia về R&D và đổi mới công nghệ
Hoạt động KHCN và đổi mới thiết bị công nghệ của Hàn Quốc luôn
gắn bó chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau. Khởi thảo và tiến hành từ năm 1982, tạo
ra sức m
ạnh và sức cạnh tranh về công nghệ, đóng góp vào phát triển công
nghiệp và kinh tế, cải thiện chất lượng cuộc sống không ngừng, và nay
chuyển dịch sang loại hình kinh tế có nền tảng tri thức. Đến năm 2010, Chính
phủ khuyến khích việc sử dụng có hiệu quả các nguồn KH&CN và đổi mới
công nghệ trên cơ sở “chọn lọc và tập trung”.
Các chương trình R&D quốc gia hiện thời đầu thế k
ỷ 21 là sự khởi đầu
của sáng tạo từ các Lab nghiên cứu quốc gia, các chương trình công nghệ sinh
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH”

ng và thế giới. Hàn Quốc phát triển công nghệ nano 10 năm
đầu thế kỷ 21 dưới chương trình khung nghiên cứu và phát triển quốc gia với
trung tâm chế tạo-nano (nano – Fabrication center).
4) Về phát triển nguồn nhân lực hàng đầu trình độ cao phục vụ cho đổi
mới và phát triển công nghệ, cho nghiên cứu phát triển Hàn Quốc phải đào
tạo đến năm 2015 khoảng 19.000 cán bộ khoa học có trình độ từ tiến sĩ trở lên
nhằm đ
áp ứng với các chương trình trên, yêu cầu cần đạt chất lượng đỉnh
trong sự phát triển giáo dục và đào tạo để chuẩn mực hướng nuôi dưỡng sự
sáng tạo cho thế hệ trẻ. Do đó nhiệm vụ và chính sách hàng đầu của Hàn
Quốc là biến đổi các Viện và trường đại học sang hướng nghiên cứu có sự trợ
giúp tài chính của Nhà nước với đào tạo các loại hình nhân lực nghiên cứu
đặc biệt. Viện Korean Advanced Institute of Science and Technology là mẫu
hình tốt về đại học định hướng nghiên cứu. Viện này thành lập năm 1971, đã
đào tạo 37.654 người tốt nghiệp, 6980 Tiến sĩ (Ph.D), trong đó có 145 nhận
học vị Tiến sĩ Khoa học đến hết năm 2006.
Hàn Quốc đặc biệt quan tâm đến chiến lược phát triển giáo dục, coi
phát triển giáo dục là điều kiện sống còn của Hàn Quốc. Nh
ững năm gần đây
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 23
khi thế giới xuất hiện kinh tế tri thức thì Hàn Quốc càng coi trọng nhân tài
cùng với việc đẩy mạnh nhập kỹ thuật tiên tiến để phát triển sản xuất. Họ chú
trọng tuyên truyền rộng rãi về ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến lược đào
tạo, bồi dưỡng nhân tài đối với sự phát triển đất nước trong tương lai
5) Chính sách hạt nhân Hàn Quốc: ứng dụng cho hoà bình và an toàn
h

trong công nghiệp và các giải pháp khác nhau rất linh hoạt. Các doanh nghiệp
tư hữu đượ
c giảm thuế và được trợ giúp tài chính vào đầu tư các trung tâm
nghiên cứu của họ, giảm thuế nhập khẩu và các trang bị, vật tư, phụ kiện
trong nghiên cứu và phát triển. Các doanh nghiệp nhỏ và trung bình không thể
thành lập các trung tâm nghiên cứu riêng, được luật và chính sách khuyến
khích liên kết nghiên cứu với các trung tâm khác.
Các số liệu thống kê ở Hàn Quốc cho thấy, trong khoảng 10 năm (1990
– 2000) đầu tư cho KH&CN, Hợp tác KH&CN và đổi mới công nghệ của nhà
nướ
c Hàn Quốc tăng 13,5%, của doanh nghiệp tăng 26,4%. Tỷ lệ chi phí của
chính phủ cho RD/GDP từ 2,31 – 2,81% nhưng chỉ khoảng 70 tổng chi phí
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 24
này dành cho công nghiệp hoá, chiếm khoảng 20% chi phí R&D cho công
nghiệp hoá, còn khoảng 80% là kinh phí do khu vực tư nhân đầu tư cho R&D.
Như vậy tính riêng tỷ lệ đầu tư cho R&D và đổi mới công nghệ trong lĩnh vực
công nghiệp hoá của nhà nước và tư nhân gộp chung có thể tương ứng
khoảng 10,5% GDP. Năm 1999 GDP Hàn Quốc đạt 406,9 tỷ USD (xếp thứ
13 trên thế giới) thì kinh phí cho R&D tổng lên tới 34.58 tỷ USD là rất lớn!
Mỹ và Nhật còn đầu tư cho R&D v
ới tỷ lệ cao hơn Hàn Quốc. Thử đối chiếu
với Việt Nam năm 2000 với GDP khoảng 30 tỷ USD và tổng chi phí cho phát
triển KH&CN nói chung là 0,47% - riêng cho R&D là 0,23% ước khoảng
13.000 người có trình độ R&D tương đương 70 triệu USD và bằng 1/500 của
Hàn Quốc (cần chú ý thêm là gần như không có phần kinh phí của khối doanh
nghiệp tư nhân góp vào, mà kinh phí R&D của nhà nước cũng phân bố đến

nhất thế giới, chế tạo gốc từ động cơ Diesel công suất lớn nhất trên 4000CV –
10.000CV, vật liệu làm vỏ tàu, các hệ thiết bị cơ khí cho lái, bốc xếp hàng, hệ
đi
ện tử viễn thông đến trang bị nội thất hiện đại và sang trọng…
- Trong ngành thép: Hàn Quốc sản xuất khoảng 46,3% triệu tấn
thép/năm (nguồn IISI 2004) từ khâu sản xuất phôi (Hàn Quốc gần như không
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 25
có mỏ quặng) đến sản xuất đủ các chủng loại thép xây dựng, thép kết cấu,
thép hợp kim… cung cấp mọi ngành công nghiệp và xuất khẩu;
- Trong công nghiệp ô tô: Hàn Quốc có tới 5 nhà sản xuất đại gia
Daewoo, Hyundai, KIA Motor, Woori Auto Sales Co…, xếp trong bảng 1.000
công ty hàng đầu thế giới và xếp thứ 5 về công nghiệp ô tô thế giới.
- Trong công nghiệp điện tử - viễn thông: Hàn Quốc có phát triển nổi
bật từ chế tạ
o được vi chíp nhỏ nhất thế giới (90 nanomet) giúp cho việc sản
xuất điện thoại di động đa chức năng mới nhất, đến phóng nhiều vệ tinh
truyền thông, sản xuất mạch in trên 20 lớp, TV màn hình phẳng tinh thể lỏng
kỹ thuật số, thiết bị chủ trong công nghệ thông tin…
- Thành phố Daedok là thành phố khoa học có diện tích 27,8 km
2
, tổ
chức kiểu thung lũng “Silicon Hàn Quốc”, nơi tập trung nghiên cứu phát
triển KHCN nhằm đổi mới và áp dụng nhanh chóng các thành tựu đổi mới kỹ
thuật công nghệ vào thực tế, bao phủ 93 công viên khoa học xuất khẩu chiếm
diện tích 0,6km
2

ọc mà ít chú ý đến tác động kinh tế của việc đổi mới thiết bị
công nghệ và điều kiện cần thiết để hỗ trợ các hoạt động này, đặc biệt trong
các lĩnh vực dịch vụ. Ví dụ, cho đến nay nhóm chuyên gia được thành lập đã
nhấn mạnh đến tác động toàn cảnh của việc đổi mới công nghệ đến tăng
trưởng kinh tế hoặc mối liên hệ
với các chính sách kinh tế phản ánh một phần
Đề tài Cấp Bộ Công Thương năm 2010: “Nghiên cứu khảo sát thực trạng đổi mới công nghệ, thiết bị
ngành Cơ khí chế tạo. Đề xuất giải pháp……………… sự nghiệp CNH,HĐH” 26
sự thực là chỉ có một số ít các nhà kinh tế tham gia vào nhóm chuyên gia của
Hội đồng CSTP Nhật Bản. Hội đồng CSTP Nhật Bản cần có thêm quyền hạn
để cải tiến điều kiện cơ cấu tổ chức trong việc thực thi đổi mới, đặc biệt đổi
mới công nghệ, trong đó vấn đề đổi mới thiết bị và đào tạo nguồn nhân lự
c
được xem là cực kỳ quan trọng và có ý nghĩa thúc đẩy phát triển nền kinh tế.
Ví dụ các Bộ Ngành đã không thực thi một cách đầy đủ những đề xuất cụ thể
của Hội đồng để cải tiến hệ thống R & D, một phần thông qua các biện pháp
tăng số lượng các công ty R & D, các dự án đổi mới công nghệ có tính chiến
lược quốc gia và huy động các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, gần đây Hội đồng
CSTP Nhật Bản đóng một vai trò tích cực hơn liên quan đến các chính sách
kinh tế. Ví dụ, trong chiến lược tổng thể sáng tạo đổi mới (tháng 6/2006) Hội
đồng CSTP Nhật Bản đã có những đề xuất cụ thể để cải tiến hệ thống R & D
bao gồm cả các biện pháp khuyến khích hợp tác nghiên cứu KH & CN chặt
chẽ.
Những năm gần đây ở Nhật Bản, chính sách hỗ tr
ợ đổi mới công nghệ,
thúc đẩy đầu tư mạo hiểm được khuyến khích và thực thi rất mạnh mẽ và
cũng thu được nhiều kết quả rất khả quan. Cụ thể như sau.
27
Trung Quốc đã nổi lên, vượt qua Nhật Bản, đứng thứ 2 sau Mỹ về đầu
tư cho nghiên cứu phát triển và đặc biệt cho đổi mới công nghệ bắt đầu từ
năm 2006. Trung Quốc đã đầu tư nhiều tỷ USD để đầu tư cho nghiên cứu phát
triển, từ vị thế “công xưởng của thế giới” thành “nguồn tri thức của thế giới

(theo báo cáo mới công bố của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, OECD).
Khoản tiền đầu tư này vượt Nhật Bản và chỉ đứng sau Mỹ.
Để thực hiện công tác đổi mới công nghệ và hoạt động KHCN, từ
những năm đầu thập niên 1990, Trung Quốc đã đầu tư vào khoa học công
nghệ nano. Họ có mạng lưới gồm hơn 20 viện nghiên cứu, 50 trường Đại học
và hơ
n 300 công ty thương mại hoạt động trong lĩnh vực KHCN nano.
Với đội ngũ giỏi hùng hậu, ước tính khoảng hơn 3000 nhà khoa học, trong đó
nhiều người được đào tạo Châu Âu, Nhật Bản và Mỹ, Trung Quốc được xếp
vào một trong năm quốc gia đứng đầu thế giới về lĩnh vực đang phát triển rất
nhanh này.
Theo ước tính, trong giai đoạn 2001 đến 2008 tỷ trọng ngân sách của
Trung Qu
ốc dành cho lĩnh vực nghiên cứu phát triển đã tăng gần gấp đôi, từ
0,72% lên đến 1,38 % tổng quốc nội. Số chuyên gia nghiên cứu của Trung
Quốc cũng tăng lên 77%. Trong một thông cáo báo chí, Trưởng phòng chính
sách KHCN của OECD cho biết: “Có thể nói việc sử dụng ngân quỹ vào thực
hiện công việc nghiên cứu phát triển và số lượng các nhà nghiên cứu khoa
học cho lĩnh vực này của Trung Quốc tăng nhảy vọt thần kỳ
trong những năm
qua”.
Một trong những thay đổi quan trọng nhất trong quá trình cải cách hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status