TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Hƣơng
2. LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM. 18
2.1. SỰ RA ĐỜI CỦA LUẬT THUẾ TNCN VIỆT NAM 18
2.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ TNCN. 19
2.2.1. VỀ ĐỐI TƢỢNG NỘP THUẾ. 19
2.2.2. THU NHẬP CHỊU THUẾ. 20
2.2.3. CĂN CỨ TÍNH THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN CƢ TRÚ 22
2.2.4. BIỂU THUẾ. 26
2.3. NHỮNG ĐIỂM TIẾN BỘ CỦA LUẬT THUẾ TNCN. 27
2.1. BỔ SUNG VÀ QUY ĐỊNH RÕ HƠN VỀ ĐỐI TƢỢNG NỘP
THUẾ. 27
2.2. ĐỔI MỚI CÁCH PHÂN LOẠI THU NHẬP CHỊU THUẾ ĐỂ XÁC
ĐỊNH NGHĨA VỤ THUẾ. 28 2.4. SỬ DỤNG THUẬT NGỮ “THU NHẬP ĐƢỢC MIỄN THUẾ”
THAY CHO “THU NHẬP KHÔNG CHỊU THUẾ” VÀ BỔ SUNG
MỘT SỐ KHOẢN THU NHẬP ĐƢỢC MIỄN THUẾ. 30
2.5. ÁP DỤNG GIẢM TRỪ GIA CẢNH KHI XÁC ĐỊNH NGHĨA VỤ
THUẾ. 30
2.6. ÁP DỤNG GIẢM TRỪ ĐỐI VỚI CÁC KHOẢN ĐÓNG GÓP TỪ
THIỆN, NHÂN ĐẠO. 32
2.7. QUY ĐỊNH GIẢM TRỪ CHI PHÍ CHO CÁ NHÂN KINH
DOANH MỘT CÁCH HỢP LÝ. 33
2.8. ĐIỀU CHỈNH THUẾ SUẤT THEO HƢỚNG GIẢM THUẾ SUẤT
CAO NHẤT, THẤP NHẤT, VÀ TĂNG BẬC THUẾ SUẤT; THỐNG
NHẤT BIỂU THUẾ ĐỐI VỚI NGƢỜI VIỆT NAM VÀ NGƢỜI NƢỚC
NGOÀI. 33
CHƢƠNG II THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ THU NHẬP
CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỂN 35
1.1. MỤC ĐÍCH CỦA CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN. 35
6.3. NHỮNG VẤN ĐỀ VƢỚNG MẮC KHI THỰC HIỆN QUÁ TRÌNH
GIÃN NỘP THUẾ TNCN. 70
6.4. HOÀN TRẢ KHOẢN THUẾ TNCN ĐÃ TẠM THU 72
7. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI
ÁP DỤNG LUẬT THUẾ TNCN 74
7.1. NHỮNG THUẬN LỢI TRONG QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI ÁP
DỤNG LUẬT THUẾ TNCN 74
7.1.1. CÔNG TÁC CHUẦN BỊ KHÁ KỸ LƢỠNG TRƢỚC THỜI
ĐIỂM LUẬT THUẾ TNCN CÓ HIỆU LỰC. 74
7.1.2. NỘI DUNG TIẾN BỘ CỦA LUẬT THUẾ TNCN KHIẾN QUÁ
TRÌNH TRIỂN KHAI CÓ NHỮNG ĐIỂM THUẬN LỢI. 74
7.2. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ
TNCN 76
7.2.1. KHÓ KHĂN TRONG KHÂU QUẢN LÝ THU NHẬP. 76
2
7.2.2. KHÓ KHĂN TRONG CÔNG TÁC TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ
TNCN ĐỐI VỚI ĐỐI TƢỢNG THUỘC KHU VỰC KINH TẾ PHI
CHÍNH THỨC. 77
7.2.3. KHÓ KHĂN DO CÔNG TÁC CHUẨN BỊ TRIỂN KHAI LUẬT
THUẾ TNCN CHƢA THẬT SỰ DẦY ĐỦ. 78
7.2.4. KHÓ KHĂN KHI TRIỂN KHAI ÁP DỤNG LUẬT THUẾ
TNCN TRONG BỐI CẢNH NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI KHỦNG
HOẢNG. 79
CHƢƠNG III BIỆN PHÁP NHẰM TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ LUẬT
THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI VIỆT NAM 81
1. THỰC TẾ TRIỂN KHAI LUẬT THUẾ TNCN Ở MỸ 81
1.1. TRIỂN KHAI KÊ KHAI VÀ THU NỘP THUẾ TNCN TẠI MỸ. 82
4
LỜI MỞ ĐẦU
Sự cần thiết của đề tài
Từ khi nƣớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng và hội nhập với nền
kinh tế toàn cầu, ngày càng có nhiều vấn đề mới về chính sách thuế cần phải
đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống. Và cùng với quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, thu nhập trong dân cƣ có xu thế tăng đồng thời phân hóa giàu
nghèo giữa các tầng lớp dân cƣ cũng sâu sắc thêm. Việc sử dụng các công cụ
thuế nhƣ thế nào và từng sắc thuế mà đặc biệt là thuế TNCN (một trong
những sắc thuế trụ cột của hệ thống thuế hiện đại) đã phù hợp với cơ chế quản
lý kinh tế mới hay chƣa đang là mối quan tâm của các nhà kinh tế cũng nhƣ
đông đảo ngƣời dân. Việc Luật Thuế TNCN ra đời và có hiệu lực vào ngày
1/1/2009 vừa qua thay thế Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập
cao là một bƣớc tiến mới và kèm theo đó là rất nhiều các vấn đề liên quan
phát sinh, trong đó đặc biệt là trong khâu triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN
vào trong cuộc sống. Thực hiện tốt Luật Thuế TNCN đang là nhiệm vụ vô
cùng quan trọng và cấp bách của Nhà nƣớc ta cũng nhƣ ảnh hƣởng khá lớn
đến đời sống của ngƣời dân là đối tƣợng nộp thuế. Chính vì vậy em đã chọn
đề tài “Triển khai áp dụng Luật Thuế TNCN tại Việt Nam” cho khóa luận tốt
nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống rõ những vấn đề cơ bản về thuế TNCN.
- Thực trạng, những vấn đề gặp phải khi triển khai luật thuế TNCN vào
thực tiễn ở Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp nhằm góp phần thực hiện thật hiệu quả Luật
Thuế TNCN.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 6
CHƢƠNG I
TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA
VIỆT NAM
1. SƠ LƢỢC VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1. Lịch sử ra đời của thuế TNCN.
1.1.1. Lịch sử thuế TNCN trên thế giới.
Thuế TNCN (TNCN) đã đƣợc áp dụng từ rất lâu ở các nƣớc phát triển.
Thuế TNCN ra đời lần đầu tiên ở nƣớc Cộng hòa Hà Lan (Dutch Batavian
Republic) vào năm 1797. Sau đó là ở Anh vào tháng 12 năm 1798 thuế
TNCN đã đƣợc áp dụng nhƣ một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang
trải cho cuộc chiến chống lại Napoleon và đƣợc chính thức ban hành vào năm
1842. Sau đó thuế TNCN đã nhanh chóng đƣợc lan truyền sang các nƣớc
công nghiệp khác nhƣ: Đức (1808), Nhật (1887), Mỹ (1913 - đánh thuế thu
nhập với những thu nhập hơn 800 $), Pháp (1914), Liên Xô (1922). Tại Châu
á nhƣ Trung Quốc áp dụng năm 1936, Thái Lan năm 1939, Philipin năm
1945, Hàn Quốc năm 1948. Indonesia năm 1949 Cho đến nay đã có 180
quốc gia áp dụng thuế TNCN.
1
Tuy nhiên có thể nói hình thức sơ khai nhất của thuế TNCN lại xuất
hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Vào những năm 10 sau Công Nguyên, hoàng đế
Minh Mạng của Trung Quốc đã ban hành một sắc thuế mới - thuế thu nhập,
những chuyên gia và lao động có tay nghề cao phải nộp cho triều đình 10%
lợi nhuận mà họ thu đƣợc.
bắc bộ). Riêng phần thuế ruộng động viên khoảng 7 - 8% sản lƣợng nông
nghiệp.
3
Thời nhà Nguyễn và Pháp đô hộ:
Về cơ bản thời nhà Nguyễn vẫn giữ nguyên các sắc thuế nhƣ đã có
dƣới các triều đại phong kiến trƣớc, trong đó có thuế thân và còn đƣa ra thêm 2
Trích sách Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới và định hƣớng vận dụng ở Việt Nam- PGS.TS Lê Văn Ái,
TS Đỗ Đức Minh.
3
Nhƣ 2
8
các loại thuế khác. Nhìn chung thuế dƣới triều Nguyễn là nặng nề phức tạp
mang tính vơ vét, bóc lột. Ngoài ra còn do hệ thống quan lại tham nhũng từ
trên xuống dƣới, thu trực tiếp hoặc qua đấu thầu lạm bổ, sách nhiễu nhân dân,
dẫn đến nhiều cuộc nổi dậy chống thuế.
Và dƣới thời Pháp thuộc chế độ thuế thân là một chế độ thuế gian lận
và tùy tiện, là thuế lũy tiến ngƣợc với tài sản. Tình trạng này gây ra những lời
phê bình, ca thán vô cùng thống thiết dƣới thời Pháp thuộc.
Tóm lại, chính sách thuế thân dƣới các triều đại phong kiến và nhất là
dƣới thời Pháp thuộc là một mối kinh hoàng của ngƣời nông dân Việt Nam, là
một thứ thuế bất công đánh đồng loạt vào ngƣời giàu lẫn ngƣời nghèo, là thứ
thuế mà mọi ngƣời mong muốn xóa bỏ. Tuy có nhiều nhƣợc điểm nhƣng một
điểm đáng lƣu ý là một dạng của thuế - sơ khai thuế TNCN đã có mặt ở Việt
của chính quyền Sài Gòn cũ là luật thuế TNCN khá chặt chẽ, phù hợp với chế
độ thuế TNCN của các nƣớc có nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trƣờng
nhƣng mới chỉ đáp ứng đƣợc một phần của một luật thuế TNCN hoàn chỉnh.
Sau năm 1975
Vào ngày 01/4/1991 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu
nhập cao đã đƣợc ban hành và áp dụng nhƣ luật thuế TNCN hoàn chỉnh, đầu
tiên ở Việt Nam. Pháp lệnh tồn tại khá lâu (có hiệu lực trong thời gian 18 năm
từ năm 1991 đến hết năm 2008), đã có sửa đổi bổ sung 7 lần cho hoàn chỉnh
hơn vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999, 2001 và 2004. Tuy còn một
số điểm bất hợp lý nhƣng Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập
cao đã có những đóng góp vô cùng quan trọng trong quá trình bƣớc đầu tiến
hành áp dụng thuế TNCN tại Việt Nam.
Sau 18 năm tồn tại, Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngƣời có thu nhập
cao đã bị thay thế bởi Luật thuế TNCN đƣợc Quốc hội khoá 12 thông qua
ngày 21/11/2007 và đã có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2009 vừa qua.
Đây đƣợc đánh giá là Luật về thuế TNCN hoàn chỉnh nhất ở Việt Nam từ
trƣớc đến nay, và đƣa luật thuế TNCN của Việt Nam gần với xu hƣớng thuế
TNCN trên thế giới hơn. Tuy luật thuế TNCN đƣợc đánh giá là có nhiều điểm
10
tiến bộ nhƣng thực tế quá trình triển khai áp dụng Luật thuế này vẫn gặp khá
nhiều vấn đề khó khăn cần đƣợc khắc phục.
1.2. Khái niệm thu nhập và thuế TNCN
Định nghĩa Thuế TNCN.
Về nguyên tắc bất cứ một cá nhân hay pháp nhân nào khi nhận đƣợc
thu nhập dƣới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn
nào (do lao động hay đầu tƣ…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp
cho nhà nƣớc dƣới dạng thuế thu nhập.
Tuy nhiên khi xây dựng chính sách thuế TNCN các quốc gia đều quan tâm
giải quyết các vấn đề sau đây:
Xác định thu nhập chịu thuế:
Xác định đúng đắn thu nhập chịu thuế là cơ sở tính thuế thu nhập chính
xác. Thu nhập chịu thuế của một cá nhân trong kỳ tính thuế là tổng thu nhập
trừ đi tổng các khoản đƣợc giảm trừ. Tổng thu nhập của một đối tƣợng tính
thuế sẽ không bao gồm những khoản miễn thuế. Để xác định tổng thu nhập
cần phải xác định từng khoản cấu thành tổng thu nhập theo từng loại thu nhập
cụ thể, tức là xem xét tổng thu nhập đƣợc hình thành từ những nguồn nào.
Tuy nhiên không phải mọi khoản thu nhập của ngƣời nộp thuế đều đƣa vào
đối tƣợng tính thuế. Tùy theo mục đích đánh thuế mà có khoản thu nhập
không đƣa vào đối tƣợng đánh thuế.
Muốn xác định thu nhập chịu thuế chính xác cần phải xem xét các vấn
đề nhƣ
Nguồn gốc của thu nhập: Thu nhập của cá nhân có thể phân thành các
nguồn cơ bản nhƣ: Thu nhập từ lao động (giữ vị trí quan trọng và
chiếm tỷ trọng khá lớn trong thu nhập chịu thuế ở các nƣớc phát triển:
tiền lƣơng, các khoản trợ cấp do ngƣời chủ lao động cung cấp phục vụ
lợi ích của ngƣời làm công, các khoản bồi hoàn…); phúc lợi của ngƣời
làm công (thông thƣờng nhƣ nhà ở, sử dụng phƣơng tiện đi lại do ngƣời
chủ lao động cung cấp…); thu nhập từ hoạt động kinh doanh; thu nhập
từ vốn, tài sản hay gọi là thu nhập từ đầu tƣ; các khoản thu nhập bất
thƣờng khác.
Đánh thuế trên cơ sở cƣ trú hay nguồn phát sinh thu nhập: (1) Hệ thống
thuế dựa vào tình trạng “cƣ trú” đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới.
12
Theo hệ thống này, các cá nhân cƣ trú ở một nƣớc phải nộp thuế tại
13
tính chất chi phí liên quan trực tiếp đến việc tạo ra thu nhập nhƣ chi phí đi lại,
ăn ở… kể cả các khoản đóng bảo hiểm) và giảm trừ có tính chất xã hội (các
khoản giảm trừ mang tính chất chi trợ cấp có tính xã hội nhƣ giúp đỡ ngƣời có
hoàn cảnh khó khăn, chi nuôi dƣỡng, bảo trợ ngƣời già, tàn tật…). Phƣơng pháp
miễn trừ cá nhân đảm bảo sự công bằng và thƣờng đƣợc áp dụng ở những nƣớc
có trình độ phát triển kinh tế và dân trí cao, hệ thống lƣu trữ và kiểm soát thông
tin tốt.
Đối với các nƣớc chậm phát triển thƣờng không đủ điều kiện để áp
dụng phƣơng pháp này mà chủ yếu áp dụng phƣơng pháp giảm trừ tiêu chuẩn.
Phƣơng pháp này thực hiện thông qua việc xác định mức khởi điểm chịu thuế
- đó là mức thu nhập trung bình xã hội đảm bảo trang trải đủ những chi phí
cần thiết cả về mặt kinh tế và xã hội theo quan niệm và tập quán của từng
nƣớc. Phƣơng pháp giảm trừ tiêu chuẩn tuy không công bằng vì mức chi phí
cần thiết bị cào bằng giữa các đối tƣợng nộp thuế nhƣng lại đảm bảo cho thuế
TNCN dễ tính toán, đơn giản hơn, do đó tiết kiệm chi phí hành thu và chi phí
chấp hành, tuân thủ luật thuế. Việt Nam đang áp dụng phƣơng pháp giảm trừ
tiêu chuẩn này.
Thuế suất thuế TNCN.
Đối với thuế TNCN thông thƣờng áp dụng biểu thuế suất lũy tiến (bao
gồm thuế suất lũy tiến toàn phần và lũy tiến từng phần). Trong đó biểu thuế
lũy tiến từng phần đƣợc coi là đảm bảo công bằng hơn và không gây ra mâu
thuẫn “mức tăng của thuế lớn hơn mức tăng của căn cứ tính thuế” tại điểm
tiếp giáp giữa hai bậc thuế.
Khi xây dựng biểu thuế của thuế thu nhập cá nhân, các quốc gia thƣờng
sử dụng một số nguyên tắc sau:
Thứ nhất, đánh thuế cùng một mức vào thu nhập tổng hợp, với số
lƣợng thuế suất vừa phải để có thể quản lý tốt hơn. 15
không thể vận dụng đƣợc phƣơng pháp trực tiếp này đƣợc. (Canada, Mĩ áp
dụng phƣơng pháp thu trực tiếp này)
Trên thực tế, các nƣớc có nền kinh tế phát triển mặc dù đã xây dựng
cho mình chế độ thuế TNCN khá hoàn chỉnh cũng thƣờng chỉ sử dụng
phƣơng pháp khấu trừ tại nguồn mà thôi. ở Việt Nam cũng áp dụng phƣơng
pháp khấu trừ tại nguồn.
1.3. Vai trò của thuế TNCN.
Các nƣớc châu Âu coi thuế TNCN là “Nữ hoàng” của các loại thuế, ở
châu Á nhƣ Nhật Bản lại gọi thuế TNCN là “Vua” của các loại thuế. Sắc thuế
này có vị trí quan trọng bậc nhất ở hầu hết các quốc gia trên thế giới do nó có
vai trò vô cùng lớn.
1.3.1. Thuế TNCN là một công cụ phân phối đảm bảo công bằng xã
hội.
Một trong những khiếm khuyết của kinh tế thị trƣờng là sự phân phối
không công bằng và đi liền với nó là quá trình phân hóa giàu nghèo trong xã
hội. Trong hệ thống thuế thƣờng áp dụng hai loại thuế: thuế gián thu và thuế
trực thu. Thuế TNCN là một hình thức thuế trực thu đánh trực tiếp vào thu
nhập nhận đƣợc của từng cá nhân, điều tiết thu nhập của ngƣời nộp thuế theo
khả năng của họ. Vì thế, thuế TNCN đảm bảo sự công bằng theo chiều dọc.
Nếu chỉ áp dụng các loại thuế gián thu thì mới thực hiện đƣợc công bằng theo
chiều ngang (tức là tất cả mọi ngƣời đều phải nộp thuế nhƣ nhau không phân
biệt khả năng của họ). Thông qua đánh thuế TNCN, Nhà nƣớc thực hiện điều
tiết thu nhập của những ngƣời có thu nhập cao, nhờ đó san bằng tƣơng đối sự
chênh lệch về thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội.
Để thấy rõ vai trò đó của thuế TNCN, có thể sử dụng đƣờng cong
Lorenz dƣới đây:
Nhƣ chú thích 2. Thu nhập đƣợc phân
phối công bằng
Thu nhập trƣớc thuế
Thu nhập sau thuế
GDP (%)
Dân cƣ (%)
17
bằng một sắc thuế là thuế TNCN, chỉ đóng góp đƣợc 4,1% tổng thu Ngân
sách nhà nƣớc trong khi tỷ lệ đó ở một số nƣớc Asean (Thái Lan, Philippines,
Malaysia…) khoảng 12-16%, các nƣớc đang phát triển khoảng 13-14%, các
nƣớc phát triển (Mỹ, Anh, Nhật, Pháp, Đức…) khoảng 30-40% tổng thu nhập
ngân sách quốc gia.
Bảng 1.2 - Doanh thu thuế TNCN so với GDP của một số nƣớc
trên thế giới
Quốc gia
Tỉ lệ (%)
thuế/GDP
2003
Tỉ lệ (%)
thuế/GDP
2004
Tỉ lệ (%)
thuế/GDP
Finland
13.6
13.2
13.5
13.2
13.0
5
Belgium
14.0
13.8
13.7
13.1
13.0
6
Canada
11.8
11.8
11.9
12.1
12.5
7
Italy
10.5
10.4
10.4
10.8
11.2
8
United
Kingdom
Thuế TNCN không chỉ là công cụ huy động nguồn thu ngân sách Nhà
nƣớc, thực hiện công bằng xã hội, mà còn giữ vai trò điều tiết nền kinh tế
quốc dân. Thuế TNCN đƣợc sử dụng nhƣ một công cụ linh hoạt để điều tiết vĩ
mô, kích thích tiêu dùng hoặc đầu tƣ để phát triển kinh tế. Một trong những lý
thuyết căn bản của Keynes về tính hữu dụng giảm dần của thu nhập cho rằng
mức thu nhập càng cao thì tính hữu dụng của nó càng thấp, con ngƣời có xu
hƣớng tăng tiêu dùng của mình theo tốc độ tăng của thu nhập, nhƣng không
phải tăng theo cùng mức tăng của thu nhập. Cùng với tốc độ tăng của thu
nhập thì tốc độ tiết kiệm tăng nhanh hơn bởi vậy cần thiết phải có chính sách
thuế đánh vào thu nhập đƣa vào tiết kiệm để kích thích tiêu dùng và tăng đầu
tƣ phát triển kinh doanh. Cũng theo Keynes thì khuynh hƣớng tiêu dùng ở
những ngƣời có thu nhập thấp sẽ cao hơn ở những ngƣời có thu nhập cao. Do
vậy, để tăng phúc lợi xã hội cần thiết phải điều tiết bớt thu nhập của những
đối tƣợng có thu nhập cao và phân phối lại cho những đối tƣợng có thu nhập
thấp hơn.
Bên cạnh đó, thông qua chính sách miễn thuế, ƣu đãi… thuế TNCN có
thể tác động trực tiếp đến định hƣớng tiêu dung và đầu tƣ theo hƣớng có lợi,
thực hiện mục tiêu điều chỉnh kinh tế của nhà nƣớc. Vì vậy, ở mỗi thời kỳ
phát triển khinh tế khác nhau, tùy theo yêu cầu điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà
chính sách thuế TNCN ở mỗi nƣớc đƣợc xây dựng phù hợp.
2. LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN CỦA VIỆT NAM.
2.1. Sự ra đời của Luật thuế TNCN Việt Nam
Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lƣỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau
gần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày
20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nƣớc Cộng hoà XHCH Việt nam khoá
19
XII đã thông qua Luật thuế TNCN (TNCN) với hơn 79% số phiếu tán thành.
nhân không cƣ trú có thu nhập chịu thuế quy phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.
Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dƣơng lịch
hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt
Nam.
Có nơi ở thƣờng xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thƣờng
trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.
Cá nhân không cƣ trú là ngƣời không đáp ứng một trong những điều kiện
trên.
2.2.2. Thu nhập chịu thuế.
Thu nhập chịu thuế TNCN gồm các loại thu nhập sau đây, trừ thu đƣợc
miễn thuế:
Thu nhập từ kinh doanh, bao gồm:
Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ;
Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép
hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật.
Thu nhập từ tiền lương, tiền công, bao gồm:
Tiền lƣơng, tiền công và các khoản có tính chất tiền lƣơng, tiền công.
Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy
định của pháp luật về ƣu đãi ngƣời có công, phụ cấp quốc phòng, an
ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công
việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ
cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ
cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con
hoặc nhận nuôi con, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp
21
hƣu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc
Thu nhập từ chuyển nhƣợng quyền thuê đất, thuê mặt nƣớc;
Các khoản thu nhập khác nhận đƣợc từ chuyển nhƣợng bất động sản.
Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm:
Trúng thƣởng xổ số;
Trúng thƣởng trong các hình thức khuyến mại;
Trúng thƣởng trong các hình thức cá cƣợc, casino;
Trúng thƣởng trong các trò chơi, cuộc thi có thƣởng và các hình thức
trúng thƣởng khác.
Thu nhập từ bản quyền, bao gồm:
Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tƣợng của
quyền sở hữu trí tuệ;
Thu nhập từ chuyển giao công nghệ.
Thu nhập từ nhượng quyền thương mại.
Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức
kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu
hoặc đăng ký sử dụng.
Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức
kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu
hoặc đăng ký sử dụng.
2.2.3. Căn cứ tính thuế đối với cá nhân cƣ trú
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh.
Thu nhập chịu thuế từ kinh doanh đƣợc xác định bằng doanh thu trừ
các khoản chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập chịu thuế từ kinh
doanh trong kỳ tính thuế.
Doanh thu là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền
cung ứng hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Thời điểm xác định doanh thu là thời