TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài :
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH CỦA
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : HOÀNG THỊ THANH HUYỀN
Lớp : A1- K44A- QTKD.
Giáo viên hướng dẫn : THS. NGUYỄN THÚY ANH Hà Nội - 2009
Nguồn vốn dành cho hoạt động đầu tư của SAM từ giai
đoạn năm 2005- 2008.
51
Bảng 7
Một số chỉ tiêu tài chính của Sacom so với ngành năm 2007
52
Biểu đồ 2
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư tài chính của SAM.
53
Biểu đồ 3
Lượng tiền đầu tư ngắn hạn của Sacom từ năm 2006 - 2008
54
Bảng 8
Một số chỉ tiêu hiệu quả đầu tư tài chính ngắn hạn.
55
Bảng 9
Các chỉ tiêu hoạt động đầu tư chứng khoán dài hạn của
SAM
57
Biểu đồ 4
Biến động giá chứng khoán của HPG, CSG, ALP.
59
Bảng 10
Một số công ty góp vốn đầu tư liên kết của SAM trong giai
đoạn 2007 – 2008
60
Bảng 11
Chỉ tiêu tài chính dự án liên doanh sản xuất cáp quang.
62
Bảng 12
84
Biểu đồ 9
Thu nhập từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh
86
Biểu đồ10
Thu nhập từ bán chứng khoán đầu tư năm 2006 – 2008.
87
Biểu đồ 11
Lợi nhuận từ đầu tư dài hạn của ACB.
89
Biểu đồ 12
Sự thay đổi giá chứng khoán từ 6/10/2006 – 13/1/2009
95 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐTTC
Đầu tư tài chính
VCSH
Vốn chủ sở hữu
NHTM
Ngân hàng Thương mại
IAS 39
International Accounting
Standards 39
Chuẩn mực kế toán quốc tế
số 39
thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của các doanh
nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.
T
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 4
3. Phạm vi nghiên cứu
Khoá luận xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu là hoạt động đầu tư
tài chính của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên năng lực có hạn ở khoá luận
này em chỉ nghiên cứu trên doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và từ
đó so sánh với hoạt động đầu tư của một số loại hình doanh nghiệp khác
(không xét đến các doanh nghiệp đầu tư tài chính chuyên nghiệp như các
công ty đầu tư tài chính và các quỹ đầu tư tài chính).
Doanh nghiệp hoạt động sản xuất thường coi hoạt động đầu tư tài chính
chỉ là một phần nhỏ bên cạnh hoạt động sản xuất- kinh doanh chính. Loại
hình này dừng lại phân tích hoạt động đầu tư tài chính của Công ty Cổ phần
Cáp và Vật liệu Viễn thông (SAM).
Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngoài sản xuất-kinh doanh như
lĩnh vực ngân hàng và bảo hiểm. Loại hình này dừng lại phân tích hoạt động
đầu tư tài chính của Ngân hàng cổ phần Á Châu, và công ty cổ phần bảo hiểm
Bảo Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng một số biện pháp nghiên
cứu cơ bản:
Phương pháp thu thập số liệu:
- Số liệu thứ cấp: từ các báo cáo, tài liệu của các doanh nghiệp phân
tích và tham khảo các tài liệu có liên quan.
- Số liệu sơ cấp: Quan sát, tiếp cận, tìm hiểu và quan sát thực tế.
Phương pháp phân tích số liệu:
- Phương pháp so sánh, tổng hợp: lấy số liệu của doanh nghiệp thực tập
doanh nghiệp là tất cả nguồn lực kinh tế mà đơn vị đang nắm giữ, sử dụng
cho hoạt động của đơn vị, thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Đơn vị có quyền sở hữu hoăc quyền kiểm soát và sử dụng trong thời
gian dài.
- Có giá phí xác định.
- Chắc chắn thu được lợi ích trong tương lai từ việc sử dụng từ các
nguồn này.
Xét về khả năng tạo của cải cho Xã hội, tài sản trong doanh nghiệp có
thể phân thành tài sản thực (real asset) và tài sản tài chính (financial asset).
Tài sản thực là các loại tài sản trực tiếp tham gia quá trình sản xuất hàng hóa -
dịch vụ của nền kinh tế như: đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị…Ngược
lại, tài sản tài chính là các loại tài sản không tham gia trực tiếp vào quá trình
sản xuất hàng hóa - dịch vụ, như tiền, chứng khoán và các loại giấy tờ có
giá… Các loại tài sản này chỉ là những chứng chỉ bằng giấy hoặc có thế là
những dữ liệu trong máy tính, sổ sách. Những tài sản này không thể hiện của
cải giàu có của xã hội mà chỉ tham gia đóng góp vào khả năng sản xuất của
nền kinh tế một cách gián tiếp, bởi vì chúng cho phép tách biệt quyền sở hữu
ra khỏi giá trị doanh nghiệp và tạo điều kiện hỗ trợ cho việc chuyển giao các
nguồn vốn các cơ hội đầu tư hấp dẫn thực sự, các tài sản tài chính mang lại
của cải cho các cá nhân và tổ chức nắm giữ chúng.
Do vậy các tài sản thực là các tài sản tạo thu nhập còn các tài sản tài
chính xác định sự phân bổ thu nhập giữa các nhà đầu tư. Các cá nhân có thể
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 7
lựa chọn giữa chi tiêu trong hiệu tại hoặc để dành đầu tư trong tương lai. Để
đầu tư trong tương lai họ có thể chọn tài sản tài chính.
Tài sản tài chính là việc giữ một giá trị cho phép nhận một khoản tiền
(hoặc có tính thanh khoản tương đương tiền) trong tương lai, hoặc khi kỳ hạn
chấm dứt, hoặc khi bán lại tài sản đó cho bên thứ ba một cách trực tiếp hoặc
thông qua trung gian. Tài sản tài chính vừa chứa đựng tính rủi ro nhưng cũng
Nói cách khác, tài sản thực tạo ra lợi tức thuần cho nền kinh tế, còn tài sản tài
chính thì định ra sự phân phối lợi tức hoặc của cải giữa các nhà đầu tư.
1.3. Phân loại tài sản tài chính.
Có nhiều cách phân loại tài sản tài chính:
1.3.1. Theo quyền người cầm giữ tài sản đó.
Công cụ nợ: là loại tài sản tài chính mang lại cho người nắm giữ nó
quyền được hưởng dòng tiền cố định được ấn trước. Ví dụ như trái phiếu kho
bạc; các khoản cho vay… Nói một cách khác, các công cụ nợ có các khoản
lợi tức cố định.
Công cụ vốn: là loại công cụ mà buộc người phát hành phải trả cho
người nắm giữ nó một số tiền dựa trên kết quả đầu tư (nếu có) sau khi thực
hiện xong nghĩa vụ đối với các công cụ nợ. Công cụ vốn thường thấy nhất là
cổ phiếu phổ thông.
1.3.2. Theo thời gian đáo hạn của tài sản tài chính
- Các tài sản tài chính ngắn hạn là các tài sản tài chính với thời hạn
đáo hạn 1 năm hay ít hơn được xem như là ngắn hạn và do đó là thành phần
của thị trường tiền tệ.
- Tài sản tài chính dài hạn là các tài sản tài chính với thời gian đáo
hạn lớn hơn 1 năm là thành phần của thị trường vốn.
a. Tài sản tài chính ngắn hạn
Do có thời gian đáo hạn 1 năm hay ít hơn nên những tài sản tài chính
mua bán trên thị trường tiện tệ chịu mức dao động giá tối thiểu và do đó nó là
loại đầu tư ít rủi ro nhất.
Tài sản tài chính trên thị trường tiền tệ được chia làm các loại sau:
Tín phiếu kho bạc. (Trái phiếu kho bạc)
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 9
Tín phiếu kho bạc là công vụ vay nợ ngắn hạn của Chính phủ do Bộ Tài
chính phát hành để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách Nhà nước và là
một công cụ quan trọng để Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ.
Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua
chịu trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một thời điểm nhất định
cho người thụ hưởng. Hối phiếu được mua bán trên thị trường tiền tệ trong
phạm vi thời hạn hiệu lực (kể từ khi được chấp nhận trả tiền cho đến khi đến
hạn trả tiền). Các ngân hàng thương mại là những tổ chức kinh doanh chủ yếu
về hối phiếu. Họ mua hối phiếu của các doanh nghiệp này rồi bán cho các
doanh nghiệp khác. Hoạt động này có tác dụng thoả mãn một phần quan trọng
nhu cầu thanh toán của khách hàng và mang lại cho ngân hàng một số thu
nhập đáng kể.
- Lệnh phiếu
Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một
số tiền xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người
thụ hưởng.
Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong
quan hệ thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng
không chỉ trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác.
- Tính chất của thương phiếu:
Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát
sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền và
người trả tiền.
Tính bắt buộc: quy định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ
hưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền.
Tính lưu thông: thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng
sang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hóa ra tiền khi
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 11
mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố, tính chất này khiến thương
phiếu trở thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian
hiệu lực và mệnh giá thương phiếu.
- Ích lợi của thương phiếu:
các công cụ phái sinh được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ
hoặc dữ liệu điện tử xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu chứng khoán. Vậy có thể hiểu chứng khoán là một thuật ngữ dùng để chỉ
các giấy tờ có giá, tức là giấy tờ ghi nhận khoản tiền tệ mà người sở hữu
chúng bỏ ra sẽ được hưởng những khoản lợi ích nhất định.
Chứng khoán là hàng hóa của thị trường chứng khoán. Đó là những tài
sản tài chính vì nó mang lại thu nhập và khi cần người sở hữu có thể bán nó
để thu tiền về. Theo sự phát triển của thị trường, hàng hóa ngày càng phong
phú, đa dạng. Nói chung có nhiều cách phân loại chứng khoán.
Căn cứ vào tính chất huy động vốn ta có thể chia chứng khoán thành
ba loại:
- Cổ phiếu (chứng khoán vốn)
- Trái phiếu (chứng khoán nợ)
- Các chứng khoán phái sinh là các chứng khoán thể hiền quyền được
mua cổ phiếu, trái phiếu theo điều kiện nhất định đã được thoả thuận trước.
b1. Cổ phiếu
Định nghĩa:
Theo UBCKNN cổ phiếu là một loại chứng khoán được phát hành dưới
dạng chứng chỉ hay bút toán ghi sổ xác định rõ quyền sở hữu và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần.
Khi mua cổ phiếu những người đầu tư (các cổ đông) sẽ trở thành những người
chủ sở hữu đối với công ty. Mức độ sở hữu đó tùy thuộc vào tỷ lệ cổ phần mà
cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu, các cổ đông cùng nhau chia sẻ mọi thành
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 13
quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty. Trong trường
hợp xấu nhất là công ty phải thanh lý hay phá sản, cổ đông chỉ được nhận
những gì còn lại sau khi công ty đã trang trải xong các khoản nghĩa vụ khác
(như thuế, nợ ngân hàng, hay trái phiếu…) Cổ phiếu là những công cụ không
có thời hạn.
so với cổ đông phổ thông. Kiểu ưu đãi lâu đời nhất vẫn là ưu đãi về cổ tức. Cổ
tức được ấn định một mức tuyệt đối tối đa, trong điều kiện công ty hoạt đọng
bình thường, cổ đông ưu đãi sẽ được hưởng mức cổ tức này, vì thế thu nhập
từ cổ tức cổ phiếu ưu đãi nói chung là cố định. Đổi lại điều đó thì cổ đông ưu
đãi không được tham gia bỏ phiếu, ra quyết định những vấn đề quan trọng của
công ty.
b2. Trái phiếu
Khái niệm:
Trái phiếu là loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho
vay) một khoản nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời
gian cụ thể. Trái phiếu là một loại chứng khoán trung và dài hạn.
Khi thực hiện đầu tư vào trái phiếu, các nhà đầu tư thường quan tâm đến
các đặc trưng của trái phiếu là: mệnh giá của trái phiếu, lãi suất danh nghĩa,
thời hạn trái phiếu, kỳ trả lãi, giá phát hành.
Bản chất của trái phiếu là một chứng khoán nợ, tiền gốc và lãi trái phiếu
phải được trả trước khi trả cổ tức, việc không trả được tiền lãi và gốc có thể
dẫn tới việc phá sản và thanh lý tài sản công ty.
Phân loại:
(1) Căn cứ vào đối tượng phát hành chia ra làm 3 loại:
Trái phiếu chính phủ: mục đích để bù đắp thâm hụt ngân sách, trợ cho
các công trình công ích, hoặc làm công cụ điều tiết kinh tế. Trong các tài sản
tài chính trên thị trường vốn thì trái phiếu chính phủ có độ thanh khoản cao,
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 15
không có rủi ro thanh khoản, và làm căn cứ xác định lãi suất các công cụ nợ
khác. Có thể kể đến 2 loại trái phiếu chính phủ như sau: (1) Trái phiếu kho
bạc (Treasury Bonds): do kho bạc thay mặt chính phủ phát hành để huy động
vốn dài hạn nhằm tài trợ cho chi tiêu ngân sách nhà nước. (2) Công trái nhà
nước (State Bonds): là loại trái phiếu dài hạn được đặc biệt phát hành từng
hoặc “đặt mua” với giá thấp hơn giá thị trường hiện hành cảu cổ phiếu. Các
chứng quyền thường có kỳ hạn ngắn trong vài tuần. Khi một công ty cô rphần
muốn tăng vốn bằng cách phát hành thêm một số cổ phiếu mới, công ty sẽ
trao cho những người đang sở hữu cổ phiếu của công ty một số đặc quyền hay
cơ hội mua những cổ phiếu mới phát hành thêm tỷ lệ với cổ phiếu mà họ đang
nắm giữ. Mỗi cổ đông được hưởng ưu đãi sẽ được nhận một tờ chứng quyền
(rights certificate), thể hiện số lượng quyền được mua cổ phiếu. Nếu một cổ
đông muốn thực hiện quyền đặt mua của mình, anh ta điền vào tờ chứng
quyền và gửi đến công ty. Ngược lại nếu không muốn thực hiện nghĩa vụ của
mình thì có thể bán lại trên thị trường chứng khoán.
- Chứng khế (warrants): còn được gọi là quyền dự tính ưu tiên mua cổ
phiếu mới. Một chứng khế thường được phát hành gắn liền với một loại trái
phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu nó được quyền mua cổ
phiếu thường theo một giá định trước được gọi là giá đặt mua trong một thời
hạn nhất định. Giá định trước chứng khế cao hơn giá trị thị trường hiện hành
của cổ phiếu thường và chứng khế có kỳ hạn dài hơn chứng quyền khoảng
một vài năm. Việc phát hành chứng khế giúp cho việc chào bán cổ phiếu ưu
đãi, trái phiếu được thuận lợi.
- Hợp đồng kỳ hạn: là một thoả thuận giữa người mua và người bán thực
hiện một giao dịch hàng hoá hoặc chứng khoán ở một thời điểm chắc chắn
trong tương lai với khối lượng và mức giá xác định. Hợp đồng kỳ hạn không
trao đổi trên thị trường, không được định giá hàng ngày, không theo tiêu
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 17
chuẩn của thị trường riêng biệt, ngày thực hiện hợp dồng được xác định tuỳ
theo từng hợp đồng.
- Các hợp đồng tương lai (Futures contracts) là hợp đồng mà trong đó
người bán cam kết giao một số hàng hoá nào đó hay chứng khoán với một giá
nhất định tại một ngày nhất định trong tương lai được xác định trứơc tại thời
điểm ký kết hợp đồng. Để tránh thiệt hại khi hợp không được tôn trọng, cả hai
bán, khi sử dụng quyền chọn để đầu cơ nhà đầu tư sẽ mua quyền chọn mua.
b4. Tài sản tài chính dài hạn khác.
Chứng chỉ vốn góp với các doanh nghiệp khác. Ngoài các công cụ vốn
như cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch hoặc cổ phiếu trên thị trường tự do
(OTC) thì chứng chỉ vốn góp với các doanh nghiệp khác cũng được coi là tài
chính dài hạn. Các doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi, hoặc nguồn
vốn đầu tư không có hiệu quả từ các hoạt động sản xuất kinh doanh đem góp
vốn với các doanh nghiệp khác nhằm sinh lời trong tương lai. Lúc này doanh
nghiệp đầu tư “bán cả quyền sử dụng và quyền sở hữu vốn” trong thời gian
hữu hạn (góp vốn liên doanh) hoặc vô hạn (góp vốn cổ phần).
Bất động sản đầu tư: các doanh nghiệp sử dụng vốn để đầu tư vào bất
động sản sẽ nắm giữ giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ đó, doanh
nghiệp có thể mua bán trao đổi giấy tờ này để tạo nên tính thanh khoản cho
bất động sản và luân chuyển vốn trong nền kinh tế quốc dân. II. HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP.
2.1. Khái niệm và sự cần thiết của hoạt động đầu tƣ tài chính.
2.1.1. Khái niệm và phân loại hoạt động đầu tư trên giác độ kinh tế.
Có nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư nhưng khái niệm chung nhất đó là:
“Đầu tư nói chung là sự bỏ ra, sự hy sinh nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 19
động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực
đã bỏ ra để đạt được kết quả đó”
2
.
Có thể phân loại hoạt động đầu tư theo nhiều tiêu thức khác nhau như
theo tính chất của hoạt động đầu tư; theo độ dài thời gian đầu tư, theo quan hệ
quản lý trong hoạt động đầu tư.
Hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp là các hoạt động đầu tư
vốn vào các lĩnh vực kinh doanh khác, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp nhằm mục đích mở rộng cơ hội thu lợi nhuận cao và hạn
chế rủi ro trong hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
3
Như vây, hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp là tận dụng mọi
tài sản, nguồn vốn nhàn rỗi hoặc sử dụng kém hiệu quả và cơ hội kinh doanh
để tham gia vào các quá trình kinh doanh ngoài hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nhằm mục đích thu lợi nhuận tối đa trong kinh doanh.
Trong nền kinh tế có 2 đối tượng tham gia vào hoạt động đầu tư tài
chính:
- Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: đối với các doanh nghiệp này thì
hoạt động đầu tư tài chính là hoạt động đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh
khác, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm thu lời
trong tương lai. Hoạt động đầu tư tài chính của các doanh nghiệp này khá
phong phú: hoạt động mua bán chứng khoán, hoạt động đầu tư bất động sản,
hoạt động cho thuê tài chính…
- Trung gian tài chính: các trung gian tài chính tham gia vào hoạt động
đầu tư tài chính chủ yếu là các quỹ đầu tư, công ty đầu tư tài chính, ngân hàng
thương mại, ngân hàng cổ phần, và bảo hiểm. Đối với quỹ đầu tư và công ty
đầu tư tài chính thì hoạt động đầu tư tài chính lại được coi là hoạt động sản
xuất kinh doanh chính, bởi vậy trong khóa luận này, loại hình doanh nghiệp 3
Phân tích hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp, PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, Nhà xuất bản
tài chính, 2005
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 21
doanh nghiệp này sang các doanh nghiệp khác nhằm tận dụng tối đa năng lực
sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Do vậy, việc sử dụng vốn có hiệu
quả hơn. Ngoài ra, hoạt động đầu tư còn có tác động không nhỏ đến sự phát
triển của các ngành, các lĩnh vực trong nên kinh tế, tạo ra công ăn việc làm
cho người lao động, góp phần ổn định xã hội, tăng thu cho ngân sách Nhà
nước, tăng tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân.
- Thông qua các hoạt động đầu tư tài chính, cho phép các doanh nghiệp
tận dụng mọi nguồn vốn và tài sản nhà rỗi hoặc sử dụng kém hiệu quả vào
lĩnh vực kinh doanh khác, có thể đạt được mức lợi nhuận cao hơn, góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh khác, có thể đạt được
mức lợi nhuận cao hơn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Thêm vào đó, hoạt động đầu tư tài chính với
đặc trưng về tính linh hoạt, tạo cơ hội cho chủ thể đầu tư dễ dàng chuyển dịch
nguồn lực từ các cơ hội có hiệu quả thấp đến các cơ hội có hiệu quả cao, góp
phần làm giảm chi phí cơ hội.
- Khi các khoản hoạt động đầu tư tài chính chiếm một tỷ lệ khá lớn, đặc
biệt là hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp đạt được danh mục đầu
tư hợp lý - đạt hiệu quả kinh tế cao, có thể giúp cho doanh nghiệp tăng trưởng
vốn nhanh và hạn chế được những rủi ro về tài chính của doanh nghiệp.
- Qua việc phân tích tình hình thực hiện hoạt động đầu tư tài chính,
quản trị doanh nghiệp có thể điều chính và phân bổ các nguồn lực trong kinh
doanh một cách hợp lý hơn, tạo khả năng thu lợi nhuận cao hơn, góp phần
nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3. Các phƣơng thức đầu tƣ tài chính.
Thực chất của hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp là dùng vốn
để mua các tài sản tài chính như đã phân tích ở phần I trong chương I này như
chứng khoán: cổ phiếu, trái phiếu chính phủ, trái phiếu địa phuơng, trái phiếu
công ty, tín phiếu kho bạc… với mục đích hưởng lãi hoặc mua vào, bán ra để
Hiệu quả hoạt động đầu tư tài chính của doanh nghiệp Việt Nam
Hoàng Thị Thanh Huyền A1-K44-QTKD Trang 23
phiếu của công ty lớn có khả năng thanh khoản cao, thời hạn ngắn và ít rủi ro.
Như vậy đối với đầu tư vốn nhàn rỗi ngắn hạn vào các tài sản loại này là thích
hợp nhất. Vì vậy đây chính là lĩnh vực ít bị bỏ qua của các doanh nghiệp.
+ Hoạt động gửi tiền tại Ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác hoặc
cho các đơn vị khác vay vốn với thời hạn không quá một năm. Đây là hình
thức đầu tư ngắn hạn và đơn giản nhất. Hình thức đầu tư này có một số đặc
trưng như: kỹ thuật tính toán hết sức đơn giản, các doanh nghiệp có thể tính
toán tương đối chính xác các khoản thu nhập trong tương lai; mức độ an toàn
vốn cao: Nếu doanh nghiệp lựa chọn các ngân hàng thương mại có tiềm lực
tài chính mạnh, uy tín thì khả năng không trả nợ là rất hiếm xảy ra. Mặt khác,
hoạt động của các tổ chức này cũng luôn luôn đặt dưới sự giám sát chặt chẽ
của Nhà nước, đặc biệt là tính thanh toán của chúng, tuy nhiên cũng vẫn
không thể tránh khỏi những rủi ro có tính hệ thống như rủi ro lạm phát, sự bất
ổn về lãi suất; Lãi suất không ổn định theo sự điều chính vĩ mô nên kinh tế
bằng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung Ương; Thời hạn đầu tư ngắn: do
lãi suất trên thị trường luôn biến động nên các ngân hàng thương mại chỉ thực
hiện huy động các loại tiền gửi ngắn hạn có kỳ hạn hoặc không có kỳ hạn để
kịp thời điều chỉnh lãi suất huy động cho phù hợp với lãi suất trên thị trường,
bởi vậy sẽ không hiệu quả nếu các doanh nghiệp đầu tư các nguồn vốn dài
hạn của mình vào loại đầu tư này.
- Hoạt động mua bán tài sản tài chính trên thị trường vốn với thời hạn
nắm giữ nhỏ hơn một năm.
+ Hoạt động mua bán chứng khoán ngắn hạn: phản ánh các khoản tiền
mua cổ phiếu, trái phiếu có thời hạn thu hồi vốn dưới một năm, với mục đích
bán ra bất cứ lúc nào để kiếm lời.