TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
o0o
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài :
MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG
CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CHO DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Phùng Thị Phƣơng Ngọc
Lớp : Trung 1
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Xuân Nữ
Hà Nội, tháng 04 năm 2009
39 2.2. THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU CỦA DNNVV VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2000 – 2008 39
2.2.1. KIM NGẠCH XUẤT KHẨU 40
2.2.2. CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT KHẨU 41
2.2.3. THỊ TRƢỜNG XUẤT KHẨU 42
2.3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI CHÍNH
NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CHO DNNVV VIỆT NAM. 43
2.3.1. CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ THÔNG QUA THUẾ 44
2.3.2. CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ VỐN CHO SẢN XUẤT HÀNG XUẤT HÀNG
XUẤT KHẨU CHO DNNVV 52
CHƢƠNG 3: 79
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI
CHÍNH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CHO DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA 79
3.1. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN DNNVV 79
3.2. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN DNNVV GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 80
3.2.1. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT 80
3.2.2. MỤC TIÊU CỤ THỂ 80
3.2.3. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU 80
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ TÀI
CHÍNH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CHO DNNVV 82
3.3.1. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NHÀ NƢỚC 82
3.3.2. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 94
3.3.3. KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 96
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ TRÍCH DẪN 102
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đem đến nhiều cơ
hội và cả những thách thức cho mỗi quốc gia cũng nhƣ mỗi chủ thể của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, đẩy mạnh thƣơng mại quốc tế, tăng cƣờng xuất khẩu hàng hóa là
một yêu cầu cấp thiết trong quá trình chủ động hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Việt Nam đƣợc
Chính phủ và các tổ chức tài trợ nƣớc ngoài xác định là động lực tăng trƣởng trong
thiên niên kỷ mới. Phát triển DNNVV không những góp phần quan trọng vào sự
phát triển kinh tế, khuyến khích xuất khẩu mà còn mang đến sự ổn định, bền vững
thông qua tạo nhiều việc làm giải quyết vấn đề lao động và phúc lợi xã hội. Ở một
nƣớc mà phần lớn lao động làm nông nghiệp nhƣ nƣớc ta thì chính DNNVV là tác
nhân và động lực thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá hƣớng tới xuất khẩu. Quá trình hội nhập thƣơng mại quốc tế của
Việt Nam có thành công hay không phụ thuộc chủ yếu vào năng lực sản xuất xuất
khẩu của các doanh nghiệp, mà trong đó hơn 95% là các DNNVV.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nƣớc ta đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách để
phát triển nền kinh tế trong nƣớc, đáp ứng yêu cầu hội nhập, đặc biệt là đối tƣợng
DNNVV. Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2000, sửa đổi năm 2005 tháo gỡ khó
khăn và tạo điệu kiện dễ dàng cho thành lập doanh nghiệp, số lƣợng doanh nghiệp
đã không ngừng tăng lên. Năm 2001, Chính phủ ban hành Nghị định 90/2001/NĐ-
CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghị định 90) đồng thời thành
lập Hội đồng khuyến khích phát triển DNNVV và Cục Phát triển DNNVV làm cơ quan
đầu mối thực hiện các chƣơng trình hỗ trợ DNNVV.
Cuối năm 2008, nền kinh tế thế giới lâm vào thời kỳ khủng hoảng và suy
thoái trầm trọng, tầm ảnh hƣởng của nó ngày càng sâu rộng ra cho mọi quốc gia
cũng nhƣ từng cá thể của nền kinh tế. Trƣớc bối cảnh đó, các tổ chức kinh tế thế
giới cũng nhƣ từng chính phủ đã nỗ lực chung tay cùng bàn bạc để đƣa ra những
giải pháp hữu ích, kịp thời để đối phó với khủng hoảng. Cùng trong xu thế đó,
đã sử dụng các phƣơng pháp thống kê, tổng hợp, phân tích định tính, phân tích định
lƣợng, các phƣơng pháp so sánh suy luận logic trong quá trình nghiên cứu.
3
5. Bố cục của khoá luận
Ngoài Lời mở đầu và kết luận, khoá luận đƣợc chia thành 3 chƣơng:
Chương 1: Lý luận chung về DNNVV và chính sách hỗ trợ tài chính nhằm
nâng cao năng lực xuất khẩu cho DNNVV
Chương 2: Thực trạng áp dụng các chính sách hỗ trợ tài chính nhằm
nâng cao năng lực xuất khẩu cho các DNNVV ở Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các chính sách hỗ trợ tài
chính nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu cho các DNNVV 4
CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ CHÍNH SÁCH
HỖ TRỢ TÀI CHÍNH NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC XUẤT KHẨU CHO
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Một số vấn đề chung về DNNVV
1.1.1. Khái niệm DNNVV
Khi tập trung tƣ bản đã làm hình thành và phát triển những tổ chức kinh
doanh có quy mô khổng lồ thì thuật ngữ “DNNVV” đã xuất hiện để chỉ các đơn vị
kinh doanh có quy mô đối lập. Lúc đầu, tên gọi DNNVV chỉ là quy ƣớc trong giới
kinh doanh nhƣng cùng với thời gian, thuật ngữ này đã đuợc sử dụng ngày càng phổ
biến, ngay cả trong các văn bản chính thức với tƣ cách một khu vực của nền kinh tế.
DNNVV có mặt ở nhiều nền kinh tế nhƣng lại không có một điểm chung
thống nhất giữa các quốc gia về khái niệm cũng nhƣ tiêu thức xác định. Trong khi
Singapore. Malaixia, DNNVV là những doanh nghiệp sử dụng dƣới 200 ngƣời và
vốn đầu tƣ duới 2,5 triệu riggit. Còn với Indonexia và Philipin thì có sự phân loại
chi tiết hơn thành doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ,
trong đó doanh nghiệp siêu nhỏ thuờng là những hộ kinh doanh gia đình[11].
Việc đƣa ra khái niệm và tiêu chí phân loại doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn
về phía các nhà hoạch định chính sách. Vì vậy, Việt Nam đã từng bƣớc có quy định
cụ thể cho phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và các thƣớc đo giá trị của
từng thời kì. Năm 1998, Chính phủ ban hành Công văn số 681/CP-KTN ngày
20/6/1998 về “Định hƣớng chiến lƣợc và chính sách phát triển DNNVV”. Theo đó,
doanh nghiệp có vốn đăng kí dƣới 5 tỷ đồng và/hoặc có số lao động thƣờng xuyên
dƣới 200 ngƣời đuợc coi là DNNVV. Việc áp dụng một hay cả hai tiêu chí này phụ
thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngành, từng lĩnh vực hay địa phƣơng. Đến năm
2001, tiêu chí: “mức sử dụng lao động” đã đƣợc thay đổi lại cho phù hợp với các
quy định quốc tế, tiêu chí giới hạn tối đa về vốn cũng thay đổi cho phù hợp với sức
mua của đồng tiền quốc gia. Theo Nghị định 90/2001/NĐ - CP ngày 23/11/2001
của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV: “DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh
doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng kí
không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300
ngƣời”. 6
Ngày 13/01/2009, Bộ Tài chính ban hành thông tƣ số 03/2009/TT – BTC,
trong đó đề cập đến tiêu chí xác định DNNVV nhƣ sau: Có vốn điều lệ ghi trong
Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tƣ có hiệu lực trƣớc
ngày 01/01/2009 không quá 10 tỷ đồng, trƣờng hợp doanh nghiệp đầu tƣ mới kể từ
ngày 01/01/2009 thì vốn điều lệ ghi trong giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hoặc
giấy chứng nhận đầu tƣ lần đầu không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động sử dụng
bình quân trong quý IV/2008 không quá 300 ngƣời, không kể lao động có hợp đồng
ngắn hạn dƣới 3 tháng, trƣờng hợp doanh nghiệp thành lập mới kể từ ngày
xuất, kinh doanh.
Thứ hai, DNNVV có tính địa phƣơng
Khối lƣợng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà mỗi DNNVV cung cấp rất nhỏ
bé so với nhu cầu của thị trƣờng, do đó, doanh nghiệp rất dễ tiêu thụ hàng hóa cũng
nhƣ tìm nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào. Thực tế, DNNVV có khả năng thích
nghi với những điều kiện khác nhau ở các vùng địa phƣơng. Tổ chức kinh doanh ở
quy mô nhỏ và vừa có khả năng khai thác tốt các nguồn lực tiềm tàng của địa
phƣơng. Trƣớc hết là có thể huy động những khoản vốn nhỏ trong dân vào sản xuất
những mặt hàng phục vụ đời sống, sản xuất ở địa phƣơng. Tiếp đến là huy động
đƣợc nguồn nhân lực đông đảo ở các địa phƣơng, nhất là nhân lực nhàn rỗi theo
thời vụ. Ngoài ra, DNNVV đƣợc phân bố rải ác ở tất cả các địa phƣơng còn do tính
đa dạng của các nguồn lực mà mỗi địa phƣơng có thể cung ứng cho sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc phân bố rải rác nhƣ vậy cũng đặt ra yêu
cầu đối với các nhà hoạch định và thực thi chính sách trong việc đảm bảo tính tiêu
chuẩn hóa của sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trƣờng.
Thứ ba, DNNVV thƣờng sử dụng công nghệ đơn giản
Đặc tính này xuất phát từ quy mô vốn. Công nghệ đơn giản có thuận lợi là
suất đầu tƣ thấp, có thể sử dụng nhiều nhân công và phần lớn là lao động phổ thông,
chi phí tiền lƣơng cho nhân công không cao, hiệu suất sử dụng máy móc cao do tính
chuyên dụng của chúng thấp (các máy công cụ càng đơn giản, càng có thể sử dụng
vào nhiều công đoạn sản xuất các loại sản phẩm khác nhau). Song, điều này cũng
gây không ít khó khăn cho chính doanh nghiệp cũng nhƣ các nhà hoạch định chính
sách. Đó là, trình độ công nghệ thấp cộng với trình độ tay nghề của ngƣời lao động
thấp kéo theo năng suất lao động thấp và mức phế phẩm cao, do đó chất lƣợng hàng 8
hóa thấp và mức sử dụng tài nguyên cao. Công nghệ thô sơ còn gây ô nhiễm môi
trƣờng, nhất là trong các ngành chế biến có sử dụng hóa chất và các ngành có lƣợng
chất thải lớn.
9
quyết khó khăn, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DNNVV, một trong số đó là
lĩnh vực xuất khẩu.
1.1.3. Vai trò của DNNVV
Có mặt ở tất cả các lĩnh vực, các ngành kinh tế quốc dân, các địa phƣơng,
DNNVV chứng minh tính không thể thiếu của nó trong bất cứ nền kinh tế thị
trƣờng nào.
Đóng góp phần quan trọng vào tổng sản lƣợng quốc nội
DNNVV đóng góp phần quan trọng vào tổng sản lƣợng hàng hóa, dịch vụ
của nền kinh tế. Ở Việt Nam, 95% doanh nghiệp có quy mô thuộc loại vừa và nhỏ,
phân bố ở hầu khắp các địa phƣơng. Hàng năm, khu vực này đóng góp cho nền kinh
tế khoảng 40% tổng sản phẩm quốc nội, 30% tổng sản lƣợng công nghiệp, gần 80%
tổng mức bán lẻ, và trên 60% tổng lƣợng vận chuyển hàng hóa, doanh thu chiếm
22,07%, lợi nhuận chiếm 11,78%, nộp ngân sách chiếm 17,46%.[3]
Đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trƣờng
Vai trò của DNNVV đối với việc thỏa mãn nhu cầu thị trƣờng không chỉ thể
hiện ở các con số tỷ lệ đóng góp vào tổng sản phẩm xã hội. Cái thiết thực hơn đối
với phúc lợi kinh tế xã hội là nó thỏa mãn đƣợc những nhu cầu đa dạng của đời
sống và sản xuất mà sản xuất lớn không bao quát hết đƣợc. Đó là những nhu cầu về
các dịch vụ tại chỗ, về những mặt hàng mang tính địa phƣơng, cần số lƣợng nhỏ
(tính đặc dụng, tính đơn chiếc), hay những hàng hóa và dịch vụ có chất lƣợng ở tiêu
chuẩn thấp phù hợp với khả năng thanh toán của một bộ phận dân chúng, các mặt
hàng truyền thống hay hàng thủ công,… mà sản xuất hàng loạt không thể đáp ứng
đƣợc. DNNVV phân bố ở hầu khắp các địa bàn có khả năng cung cấp cho thị
trƣờng địa phƣơng những hàng hóa và dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống dân cƣ,
phù hợp với thị hiếu và khả năng thanh toán của các tác nhân trong vùng.
Là loại hình kinh doanh bổ sung cho kinh doanh lớn
Sản xuất lớn cần các nguồn lực lớn. Doanh nghiệp lớn vì thế thƣờng đóng ở
các trung tâm kinh tế, có thị trƣờng lớn, thuận tiện đƣờng giao thông và các dịch vụ.
doanh nghiệp nhỏ có các chỉ số tƣơng ứng là 91%, 90% và 85%; doanh nghiệp vừa:
90%, 88% và 80%. Song các doanh nghiệp lớn chỉ số mức thỏa mãn về số lƣợng
nguyên liệu thô chỉ đạt 58%, về chất lƣợng nguyên liệu thô chỉ đạt 62%, nhƣng thỏa
mãn về năng lƣợng khá cao với 89% [11]. Có thể nói, trong điều kiện nguồn nguyên
liệu chƣa đƣợc quy hoạch thành vùng chuyên canh để có thể cung ứng với số lƣợng 11
lớn, chất lƣợng đạt tiêu chuẩn, thì tổ chức kinh doanh theo quy mô vừa và nhỏ là
phƣơng thức cho phép tận dụng đƣợc những khả năng tiềm tàng của địa phƣơng.
Góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển đồng đều giữa các vùng
Khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi ngƣời dân tham gia kinh doanh một
mặt giúp tăng thu nhập, mặt khác để họ làm quen với cơ chế thị trƣờng, nhờ đó xóa
bỏ dần các vấn đề xã hội do nghèo đói sinh ra. Tổ chức kinh doanh ở quy mô vừa và
nhỏ dễ đƣợc chấp nhận ở thời kỳ đầu khi vốn liếng còn nhỏ, kinh nghiệm còn hạn
chế và các quan hệ kinh doanh còn mong manh. Phân bố rộng khắp các địa bàn,
DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong nông nghiệp, nhờ đó
làm thay đổi bộ mặt nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hoạt động trên hầu hết các lĩnh
vực, các ngành kinh tế quốc dân, DNNVV có thể đáp ứng nhu cầu mọi mặt của sản
xuất, đời sống ngay tại địa bàn tuy rằng trên một góc độ nào đó, mức độ thỏa mãn
nhu cầu ngƣời tiêu dùng của sản phẩm từ khu vực này có thể chƣa hoàn hảo. Nhờ
sự có mặt của DNNVV, chênh lệch giữa các địa phƣơng, các vùng, các tầng lớp dân
cƣ ngày càng thu hẹp lại.
Là tiền đề tạo ra các doanh nghiệp lớn
Thị trƣờng là nơi kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp. Trải qua thử thách đó, tự mỗi doanh nghiệp sẽ hoặc là ổn định, phát
triển hay phải rút khỏi thị trƣờng. Nhƣng không phải lúc nào doanh nghiệp nhỏ
cũng có thể tự tích lũy để trở thành doanh nghiệp lớn hơn. Tập trung tƣ bản là hình
thức đƣợc lịch sử biết đến nhƣ một phƣơng thức có hiệu quả và không tốn thời gian.
Liên kết, hợp tác, hợp nhất,…giữa các DNNVV có thể nhanh chóng hình thành
ngay trang thiết bị, các thiết kế mẫu và thị trƣờng tiêu thụ trong hoàn cảnh thiếu vốn,
thiếu kinh nghiệm cũng nhƣ các mối quan hệ thƣơng trƣờng. Thực tế, nhiều doanh
nghiệp đã trƣởng thành và trở nên độc lập sau một thời gian thực hiện sản xuất gia
công cho nƣớc ngoài.
Góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu
DNNVV có ƣu thế trong việc phát triển sản xuất các mặt hàng truyền thống,
hàng thủ công nhờ tổ chức đƣợc các cơ sở sản xuất nhỏ, nằm rải rác trong các vùng
nông thôn, nơi có lao động nhàn rỗi thời vụ và lao động thủ công ở các làng nghề.
Hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu không tập trung cũng đƣợc loại hình doanh
nghiệp này khai thác theo phƣơng thức đặt hàng các hộ gia đình. Hình thức xuất
khẩu hàng thủ công, mỹ nghệ, hàng truyền thống rất đƣợc các thị trƣờng quốc tế ƣa 13
chuộng. Nhờ đó, doanh nghiệp mang lại nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia, tăng tích
lũy cho bản thân doanh nghiệp.
Góp phần tạo dựng một hệ thống thị trƣờng đồng bộ
Tham gia vào sản xuất, kinh doanh thƣơng mại hay dịch vụ, DNNVV góp
phần phát triển không chỉ thị trƣờng đầu ra hàng hóa dịch vụ, mà cả thị trƣờng các
yếu tố đầu vào của sản xuất: thị trƣờng vốn vay, thị trƣờng tƣ liệu sản xuất, thị
trƣờng lao động, thị trƣờng công nghệ Các thị trƣờng này trở nên sôi động do số
lƣợng DNNVV rất lớn, phân bố ở rộng khắp các vùng, miền, hoạt động trong hầu
hết các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế. Hoạt động của DNNVV còn làm tăng áp
lực cạnh tranh trên các thị trƣờng, tạo động lực cho sự phát triển. Đặc biệt nó thúc
đẩy phát triển thị trƣờng địa phƣơng, nhất là ở những vùng xa xôi còn nghèo nàn,
lạc hậu.
Tạo điều kiện cho doanh nhân trƣởng thành
Khởi sự với số vốn không đáng kể, con đƣờng kinh doanh tuy chƣa có nhiều
thuận lợi, nhƣng ngƣợc lại đó cũng là bƣớc tập dƣợt để doanh nhân học hỏi, tích lũy
kiến thức và kinh nghiệm. Thực tế có nhiều doanh nhân trƣởng thành từ kinh doanh
hàng nhập khẩu, các giá trị gia tăng, qua đó tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp,
tạo đƣợc niềm tin, mối quan hệ lâu dài với bạn hàng nƣớc ngoài.[2]
1.2.2. Một số chính sách hỗ trợ tài chính nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu cho
DNNVV
1.2.2.1. Chính sách hỗ trợ thông qua thuế
Thuế là khoản đóng góp mang tính bắt buộc, đƣợc Nhà nƣớc quy định thành
luật để ngƣời dân và các tổ chức kinh tế phải thực hiện nộp vào ngân sách Nhà nƣớc
theo từng thời kì nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy Nhà nƣớc.
Nói cách khác, thuế là hình thức động viên, phân phối lại sản phẩm của xã hội, thu
nhập quốc dân do các tổ chức kinh tế và ngƣời dân tạo ra để hình thành quỹ tiền tệ
tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc. Thuế vừa là biện pháp tài
chính huy động nguồn thu cho ngân sách, tạo vốn đầu tƣ, hƣớng dẫn, điều tiết sản
xuất kinh doanh, xuất khẩu vừa là bộ phận cấu thành của chính sách tài khoá quốc
gia. Trong các chính sách tài chính hỗ trợ xuất khẩu cho DNNVV, thuế là một trong
những công cụ quan trọng nhất, đặc biệt là trong xu thế hội nhập hiện nay. Thuế trở
thành một bộ phận không thể thiếu của chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia thông 15
qua các hiệp định thỏa thuận về ƣu đãi thuế quan giữa các nƣớc, qua việc thực hiện
quy định về thuế, trợ cấp và chống trợ cấp của WTO, của các tổ chức khu vực và
thế giới…
Thuế quan là công cụ bảo hộ duy nhất cho sản xuất trong nƣớc mà không trái
với quy định của WTO. Đóng góp thuế là nghĩa vụ của mỗi tổ chức, cá nhân, đây
đƣợc coi là một khoản chi phí, làm tăng thêm gánh nặng về tài chính cho các doanh
nghiệp. Để hỗ trợ doanh nghiệp giảm khó khăn cũng nhƣ nâng cao năng lực xuất
khẩu, các nƣớc thƣờng dành nhiều ƣu đãi cho doanh nghiệp nói chung và doanh
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu nói riêng thông qua các ƣu đãi nhƣ miễn, giảm, giãn
hạn nộp thuế, hoàn thuế đối với hàng xuất khẩu.
phục vụ cho xuất khẩu đều không đánh thuế nhập khẩu hoặc đánh thuế thấp cũng
nhƣ miễn, giảm, hoàn thuế cho các doanh nghiệp xuất khẩu sản xuất hàng hóa. Đây
là một trong những lợi thế cạnh tranh về giá cho các sản phẩm xuất khẩu, điều này
có ý nghĩa đặc biệt đối với các DNNVV tham gia xuất khẩu.
* Thuế giá trị giá tăng
Thuế giá trị giá tăng là loại thế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng. Theo
khái niệm này, thuế giá trị giá tăng là yếu tố cấu thành giá bản sản phẩm hàng hoá,
dịch vụ.
Ở thuế GTGT, chỉ có ngƣời bán hàng (hoặc dịch vụ) lần đầu phải nộp thuế
GTGT trên toàn bộ doanh thu bán hàng (hoặc cung ứng dịch vụ). Còn ngƣời bán
hàng (hoặc dịch vụ) ở các khâu tiếp theo đối với hàng hoá (hoặc dịch vụ) đó chỉ
phải nộp thuế trên phần giá trị tăng thêm. Thuế GTGT là thuế duy nhất thu theo
phân đoạn nhỏ trong quá trình sản xuất, lƣu thông hàng hoá (hoặc dịch vụ) từ khâu
đầu tiên đến ngƣời tiêu dùng khi khép kín một chu trình kinh tế. Do đó, ƣu điểm của
thuế GTGT là tránh trƣờng hợp thuế đánh trùng lên thuế nhƣ trƣờng hợp thuế doanh
thu. Điều này có ý nghĩa quan trọng, nó sẽ tạo điều kiện khuyến khích hoạt động
xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, kích thích cạnh tranh, bình đẳng hoá,
không phân biệt doanh nghiệp ở khâu đầu, khâu giữa hay khâu cuối của quá trình
sản xuất kinh doanh. Phạm vi áp dụng của thuế GTGT rất lớn, bao quát tất cả hàng 17
hóa và dịch vụ, do đó việc áp dụng thuế GTGT là rất cần thiết và phù hợp với cơ
chế thị trƣờng, đƣa kinh tế tăng trƣởng nhanh chóng và ổn định.
Đối với hàng hoá xuất khẩu, thuế GTGT làm tăng giá nguyên liệu đầu vào do
đó làm tăng giá hàng hoá xuất khẩu. Xuất phát từ thực tế đó, những ƣu đãi về thuế
GTGT sẽ phần nào giảm bớt gánh nặng về chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp xuất
khẩu. Việc áp dụng các mức thuế suất thuế GTGT tạo điều kiện thuận lợi cho công
sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Thuế TNDN đƣợc
coi là khoản đóng góp tích cực của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nƣớc để tái
phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Đồng thời, thuế TNDN còn là công
cụ quan trọng để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
theo hƣớng kế hoạch, chiến lƣợc, phát triển toàn diện của đất nƣớc. Thuế TNDN
thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế xã hội trong từng thời kì phát
triển kinh tế nhất định. Việc quy định thuế TNDN hợp lý tạo điều kiện và môi
trƣờng kinh doanh ổn định, hỗ trợ kịp thời các doanh nghiệp, đặc biệt là những ƣu
đãi đối với các DNNVV mới thành lập. Việc miễn, giảm thuế TNDN cho các doanh
nghiệp mới thành lập đã khuyến khích các nhà đầu tƣ bỏ vốn thành lập doanh
nghiệp, tham gia sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu cũng nhƣ giảm bớt phần nào
gánh nặng tài chính cho các DNNVV trong những thời điểm khó khăn.
1.2.2.2. Các chính sách hỗ trợ vốn sản xuất hàng xuất khẩu
a) Các chính sách về đầu tƣ
* Quỹ đầu tƣ mạo hiểm
Quỹ đầu tƣ mạo hiểm là quỹ mà nguồn vốn tài chính cung cấp cho các công
ty tƣ nhân dƣới hình thức vốn cổ phần hoặc các khoản đầu tƣ gần giống nhƣ vốn cổ
phần có thời hạn trung bình (3-5 năm). Số cổ phần dành đƣợc trong công ty nhận
vốn đầu tƣ có thể là thiểu số hoặc lên đến đa số. Mục tiêu đầu tƣ là tìm kiếm khoản
thu nhập vốn cao hơn mức trung bình. Khoản thu này trở thành hiện thực sau khi
khoản đầu tƣ này đƣợc bán cho một nhà kinh doanh chứng khoán hoặc bán ra công
chúng. Bên cạnh việc cung cấp vốn, các chuyên gia quản lý vốn mạo hiểm còn tƣ
vấn, hƣớng dẫn các công ty nhận vốn đầu tƣ bƣớc sang giai đoạn tăng trƣởng tiếp
theo và chuẩn bị sẵn sàng để công ty đƣợc chuyển giao cho cổ đông khác. Những tƣ
vấn này là một đặc điểm quan trọng và đặc thù của vốn mạo hiểm. Đặc biệt, các nhà 19
đầu tƣ có một vị trí trong hội đồng quản trị của công ty nhận vốn đầu tƣ, qua đó tác
20
động chính của quỹ hỗ trợ phát triển là cho vay trung và dài hạn, cho vay theo hiệp
định của chính phủ, hỗ trợ lãi suất sau đầu tƣ, bảo lãnh tín dụng đầu tƣ, cho vay lại
các dự án đầu tƣ sử dụng vốn ODA, tín dụng ngắn hạn hỗ trợ xuất khẩu, nhận cấp
phát và cho vay uỷ thác…
Một trong những chức năng quan trọng của quỹ hỗ trợ phát triển là trợ cấp,
hỗ trợ thúc đẩy xuất khẩu, đây là một ƣu đãi về mặt tài chính mà Nhà nƣớc dành
cho nhà xuất khẩu khi họ đẩy mạnh xuất khẩu. Trợ cấp đƣợc thực hiện dƣới các
hình thức trực tiếp và gián tiếp, nhằm mục đích khuyến khích các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh xuất khẩu, tìm kiếm và mở rộng thị trƣờng và tăng sức cạnh tranh
của hàng hoá xuất khẩu.
Để phù hợp với đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, các
biện pháp hỗ trợ xuất khẩu trực tiếp nhƣ tiền thƣởng xuất khẩu, trợ giá xuất khẩu,
bù lỗ, thƣởng xuất khẩu… ngày càng bị thu hẹp thậm chí bị cấm áp dụng hoàn toàn.
Ngƣợc lại trợ cấp gián tiếp lại càng đƣợc sử dụng phổ biến, mềm dẻo và linh hoạt
hơn. Có thể kể ra ở đây các hoạt động nhƣ hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần lãi suất
vốn vay ngân hàng, lãi suất thấp dành cho nhà xuất khẩu trong nƣớc hoặc bạn hàng
nƣớc ngoài, hỗ trợ xúc tiến thƣơng mại, mở rộng thị trƣờng xuất khẩu… Những
chính sách ƣu đãi này thể hiện chủ trƣơng, đƣờng lối của Nhà nƣớc trong việc thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu, tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận nguồn vốn ƣu đãi,
nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu, góp phần tạo nên lợi thế
cạnh tranh của cả quốc gia trên thị trƣờng thế giới. Tuy nhiên, nếu không có định
hƣớng đúng đắn thì trợ cấp thông qua các quỹ hỗ trợ xuất khẩu có thể dẫn đến tình
trạng bóp méo thị trƣờng, hạn chế sự chủ động, tích cực của doanh nghiệp cũng
nhƣ không hiệu quả về mặt tài chính, ngân sách.
Quan điểm của WTO là không khuyến khích nhƣng cũng không hoàn toàn
cấm. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) đƣa ra ba loại trợ cấp
Hộp màu đỏ – vàng – xanh hoặc Hiệp định nông sản (AoA) đƣa ra Hộp màu Hổ
phách – Hộp xanh da trời – Hộp xanh lá cây tƣơng ứng với ba mức độ Cấm - Đƣợc
mức lãi suất ƣu đãi giúp nhà xuất khẩu thực hiện đƣợc chƣơng trình xuất khẩu của
mình, giảm đƣợc chi phí vốn, giảm giá thành xuất khẩu, tăng khả năng bán đƣợc
hàng theo điều kiện dài hạn, tăng năng lực cạnh tranh của hàng hóa.
Tín dụng ngân hàng đƣợc thực hiện trên cơ sở hiệu quả kinh tế chứ không
phải là vốn cấp phát, tài trợ, vì thế tín dụng ngân hàng không chỉ dẫn vốn đến doanh