LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện hiện nay, khi khu vực hoá, toàn cầu hoá đang có xu
hướng phổ biến thì bên cạnh quá trình hợp tác theo nguyên tắc cùng có lợi, giữa
các quốc gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh khốc liệt. Ở môi trường kinh tế
thế giới như vậy, yêu cầu khách quan, cấp bách đối với nước ta là phải nâng cao
năng lực cạnh tranh kinh tế của mình để hội nhập ngày càng sâu rộng và có hiệu
quả hơn. Một trong những biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh kinh tế là
lành mạnh hoá hệ thống Tài chính – Ngân hàng.
Nét nổi bật trong những năm qua là hệ thống NHTM nước ta đã có những
đổi mới sâu sắc, đóng góp tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Các NHTM ngày càng xác lập được vững chắc thị trường hoạt
động của mình, khối lượng tín dụng tăng, đảm bảo cung cấp khối lượng lớn cho
nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Song, do đặc điểm của ngành Ngân hàng là
hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt là tiền tệ nên luôn tiềm ẩn những rủi ro hơn
những ngành khác. Mặc dù hoạt động cho vay và đầu tư luôn được chú trọng
phát triển nhưng một thực tế đáng lo ngại là chất lượng tín dụng có xu hướng
giảm sút, thể hiện ở số lượng nợ quá hạn, nợ khó đòi tăng trong khi tiềm lực tài
chính chưa mạnh mẽ, thì chất lượng tín dụng thấp kém là mối nguy hiểm lớn tới
khả năng thanh toán và khả năng sinh lời của ngân hàng, gây ảnh hưởng tiêu cực
đến sự phát triển kinh tế của cả nước.
Chất lượng tín dụng không chỉ là mối quan tâm của nhà quản lý ngân
hàng, mà còn là mối quan tâm của toàn xã hội vì đây là tín hiệu tổng hợp, vừa
phản ánh trình độ hoàn thiện pháp luật theo cơ chế thị trường trong quản lý kinh
tế nói chung và hoạt động quản lý Ngân hàng nói riêng, vừa phản ánh sự lớn
mạnh và những mặt còn bất cập trong quản lý điều hành Ngân hàng. Như vậy,
làm thế nào để củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng, đây là vấn đề luôn được
đặt lên vị trí quan trọng trong quản trị Ngân hàng. Nhận thức được điều này,
thông qua quá trình thực tập tại Ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải Phòng,
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng cho doanh nghiệp
Tín dụng ngân hàng là một khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ kinh tế
giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay.
Trong đó bên cho vay chuyển giao cho bên đi vay sử dụng một lượng giá trị
(thường dưới hình thái tiền) trong một thời gian nhất định theo những điều kiện
mà hai bên đã thoả thuận. (Theo Peter S.Rose, Quản trị ngân hàng thương mại)
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng
Thứ nhất: Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế. Các doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một
trong những nguồn để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó
thoả mãn nhu cầu vốn về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để có thể vay vốn được
từ ngân hàng thì các doanh nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với
ngân hàng, đảm bảo được các nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, trong các dự án
kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải chọn dự án có mức sinh lãi cao nhất.
Để các dự án khả thi, doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường khai thác thông tin
để định lượng hoạt động kinh doanh của mình sao cho có hiệu quả. Điều đó làm
tăng hiệu quả kinh tế của dự án, phương án.
Thứ hai: Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục
của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế
phân phối vốn một cách có hiệu quả. Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá
trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, luân chuyển tiền tệ có lúc thừa,
có lúc thiếu. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết
kiệm từ dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được NHTM huy động và sử dụng
để đầu tư cho các doanh nghiệp đang tạm thời thiếu vốn, cho nhu cầu tiêu dùng
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
3
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
tạm thời vượt quá thu nhập của dân chúng, cũng như cho nhu cầu chi của ngân
sách nhà nước khi chưa có nguồn thu.
Thứ ba: Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các
chính sách tiền tệ. Một trong những đặc điểm quan trọng của NHTM là khả năng
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
Căn cứ theo xuất xứ tín dụng: Là việc tín dụng được cấp dựa vào
sự tiếp xúc trực tiếp hay không trực tiếp giữa người cho vay và người trả nợ.
Gồm có cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp.
1.2. Chất lượng tín dụng tại NHTM
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Chất lượng, giá cả và lượng hàng hoá là ba chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
sức mạnh và khả năng của doanh nghiệp. Để có thể đứng vững trong hoạt động
kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm là điều tất yếu. Các nhà kinh
tế nói đến chất lượng bằng nhiều cách: Chất lượng là “sự phù hợp với mục đích
và sự sử dụng”, là “ một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với
chi phí thấp và phù hợp với thị trường” hay chất lượng là “năng lực của một sản
phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người sử dụng”.
Với cách đề cập như vậy, thì chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu
của khách hàng, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng và phù hợp với
sự phát triển kinh tế xã hội.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng tín dụng
Với những đặc trưng vốn có của NHTM, đánh giá chất lượng tín dụng là
công việc khá phức tạp cần phải xem xét 1 cách toàn diện. Nghiệp vụ tín dụng
khổng chỉ đặt trong mối quan hệ ràng buộc với các nghiệp vụ và hoạt động khác
của NHTM mà còn phải đặt NHTM trong mối quan hệ ràng buộc với các mặt
hoạt động khác trong nền kinh tế. Chất lượng tín dụng vừa là chỉ tiêu trừu tượng
vùa cụ thể và năng động luôn được đặt trong sự vận động phát triển liên tục của
toàn bộ hoạt động NHTM trong từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy để đảm bảo tính
chính xác cao, chất lượng tín dụng được đánh giá thông qua các chỉ tiêu định
tính và định lượng như sau:
1.2.2.1. Chỉ tiêu định tính
Chất lượng tín dụng phải đạt được mục tiêu quan trọng của nền kinh tế và
yêu cầu của các chủ thể trong quan hệ tín dụng:
• Đứng trên góc độ là ngân hàng thương mại
bộ công nhân viên thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì
chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn
những rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải gánh chịu.
Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ.
Phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được ngân hàng cần đẩy mạnh
cho vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ
khi so với kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là
nhiều nhất.
b. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn
hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân
hàng đúng hạn.
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
6
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
Tỷ lệ nợ quá hạn là tỷ lệ phần trăm giữa nợ quá hạn và tổng dư nợ của
NHTM ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ảnh chất lượng tín dụng, NHTM khi cho vay phải thu hồi
vốn và lãi đúng hạn nếu đến hạn khách hàng không trả hết nợ, NH chuyển dư nợ
còn lại sang nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng
càng yếu kém, theo thông lệ quốc tế chỉ tiêu này phải được kiểm soát trong
phạm vi không quá 5%. Để đánh giá chính xác chất lượng tín dụng thì thông
thường nợ quá hạn được thống kê và phân loại nợ quá hạn theo tiêu thức cụ thể
và theo từng loại nợ sẽ có những biện pháp xử lý thích hợp. Thông thường nợ
quá hạn được phân loại theo thời gian và khả năng hoàn trả của khách hàng:
Nợ do khê đọng: nợ quá hạn dưới 6 tháng có khả năng thu hồi nhưng do
khách hàng tạm thời khó khăn về tài chính nên không trả được nợ cho NH.
nợ quá hạn thấp và không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ
quá hạn thấp cũng không có ý nghĩa. Chất lượng tín dụng được nâng cao chỉ
thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng.
e. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn
Phân tích cơ cấu cho vay trong tổng nguồn vốn huy động là việc xem xét
đánh giá tỷ trọng cho vay đã phù hợp với khả năng đáp ứng của bản thân ngân
hàng cũng như đòi hỏi về vốn của nền kinh tế chưa. Trên cơ sở đó, các NHTM
có thể biết được khả năng mở rộng tín dụng của mình. Từ đó, có thể quyết định
quy mô, tỷ trọng đầu tư vào các lĩnh vực một cách hợp lý để vừa đảm bảo an
toàn vốn cho vay, vừa có thể thu lại lợi nhuận cao nhất có thể.
Tổng dư nợ
Hiệu suất sử dụng vốn =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh sự dụng vốn tín dụng so với tổng nguồn vốn huy
động, tình hình cân đối giữa nguồn vốn với sử dụng vốn để cho vay, chỉ tiêu này
quá thấp chứng tỏ NH thừa vốn, nhưng nếu quá cao thì NH có thể thiếu vốn
nhưng mức độ rủi ro sẽ gia tăng, nên đòi hỏi các NHTM phải luôn duy trì môt tỷ
lệ hợp lý và cân đối thông thường chỉ tiêu này phải được kiểm soát và điều chỉnh
ở mức 70-80%.
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
8
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng tại NHTM
1.2.3.1. Các nhân tố từ phía ngân hàng
a. Chính sách tín dụng của ngân hàng
Chính sách tín dụng được hiểu là đường lối, chủ trương đảm bảo cho hoạt
động tín dụng đi đúng quỹ đạo, liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng.
Chính sách tín dụng bao gồm: hạn mức tín dụng, kỳ hạn của các khoản vay, lãi
suất cho vay và mức lệ phí, các loại cho vay được thực hiện. Một chính sách tín
dụng đúng đắn sẽ thu hút nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt
bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và trong hoạt động tín
dụng nói riêng. Sở dĩ như vậy là vì cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp
vào mọi khâu của quy trình tín dụng, từ bước đầu tiên đến bước cuối cùng.
Cán bộ tín dụng mà không có đạo đức nghề nghiệp, làm việc thiếu tinh
thần trách nhiệm, cố ý làm trái pháp luật sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín
dụng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng quyết định đến sự thành công của
công tác tín dụng. Cán bộ tín dụng giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng,
có kinh nghiệm đánh giá chính xác tính khả thi của dự án, xác định được tính
chân thực của báo cáo tài chính, phát hiện các hành vi cố tình lừa đảo của khách
hàng (như sửa chữa báo cáo tài chính, lập hồ sơ thế chấp giả, dùng một tài sản
thế chấp đi vay ở nhiều nơi,…) từ đó phân tích được khả năng quản lý và năng
lực thực sự của khách hàng để quyết định có cho vay hay không.
Bên cạnh đó, cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi
trường kinh tế xã hội, đường lối phát triển của đất nước, sự thay đổi của thị
trường… dự đoán trước những biến động có thể xảy ra từ đó tư vấn lại cho
khách hàng xây dựng lại phương án kinh doanh cho phù hợp.
e. Kiểm soát nội bộ
Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được
tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra; phát hiện những thuận lợi khó
khăn, sai trái từ đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời.
Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định, thể lệ,
chính sách và mức độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng như nguyên nhân dẫn
đến những lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng.
f. Tình hình huy động vốn
Tình hình huy động vốn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Vốn huy động
ngắn hạn là nguồn chủ yếu để cho vay ngắn hạn, vốn huy động trung dài hạn là
nguồn chủ yếu để cho vay trung dài hạn. Vốn huy động càng lớn, NHTM càng
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
10
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
11
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
Quyền sở hữu tài sản là một trong những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng
(có thể là tài sản đảm bảo hoặc tín chấp). Tuy nhiên hiện nay có rất nhiều tài sản
của các pháp nhân và cá nhân không có giấy chứng nhận sở hữu. Tài sản cố định
phần lớn là nhà xưởng, máy móc, thiết bị lạc hậu không đủ tiêu chuẩn thế chấp.
Trong khi đó nhu cầu vay vốn ngân hàng là rất lớn. Như vậy nếu cho vay theo
đúng chế độ thì hầu hết các doanh nghiệp không đủ điều kiện cho vay hoặc được
vay nhưng không đáng kể.
1.2.3.3. Các nhân tố khác
a. Môi trường kinh tế
Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm các hoạt động kinh tế có quan hệ
biện chứng, ràng buộc lẫn nhau nên bất kỳ một sự biến động của một hoạt động
kinh tế nào đó cũng sẽ gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh doanh của các lĩnh
vực còn lại. Hoạt động của NHTM có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh
vực khác nhau của nền kinh tế. Vì vậy, sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh
tế sẽ có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là hoạt động
tín dụng.
Các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất
lớn tới chất lượng tín dụng. Một nền kinh tế ổn định tỷ lệ lạm phát vừa phải sẽ
tạo điều kiện cho các khoản tín dụng có chất lượng cao. Tức là các doanh nghiệp
hoạt động trong một môi trường ổn định thì khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn, từ
đó mà có thể trả vốn và lãi cho ngân hàng. Ngược lại khi nền kinh tế biến động thì
các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cũng thất thường ảnh hưởng đến thu nhập
của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới khả năng thu nợ của ngân hàng.
Chu kỳ kinh tế cũng có tác động không nhỏ tới hoạt động tín dụng. Trong
thời kỳ suy thoái, sản xuất vượt quá nhu cầu dẫn tới hàng tồn kho lớn, hoạt động
tín dụng gặp nhiều khó khăn do các doanh nghiệp không phát triển được. Ngược
lại, trong thời kỳ hưng thịnh, tốc độ tăng trưởng cao, các doanh nghiệp có xu
kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông
nghiệp, thuỷ sản, hải sản. Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh
nghiệp sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của NHTM.
e. Môi trường khoa học – công nghệ
Ngày nay, khoa học – công nghệ tiến bộ không ngừng và việc vận dụng
những tiến bộ mới nhất vào các hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là nghiệp vụ
tín dụng sẽ giúp nâng cao chất lượng tín dụng, từ đó giảm thiểu rủi ro và mang
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
13
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Bên cạnh đó, sự tiến bộ của khoa học – công
nghệ cũng quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng, do vậy
gián tiếp ảnh hưởng tới ngân hàng.
1.3. Tín dụng với DNVVN
1.3.1. Khái niệm DNVVN
Có rất nhiều các định nghĩa về DNVVN khác nhau của các nhà kinh tế tuỳ
vào quan điểm hay điều kiện của từng quốc gia. Ở nước ta hiện nay có thể hiểu
DNVVN là các doanh nghiệp đạt một trong hai tiêu chí sau:
+ Các DNNN, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh,
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp tư nhân, HTX, hộ kinh
doanh cá thể có đăng kí kinh doanh có số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 lao động (không giới hạn vốn đăng kí).
+ Các DNNN, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh,
doanh ngiệp cố vốn đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp tư nhân, HTX, hộ kinh
doanh cá thể có đăng kí kinh doanh có vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng.
Tiêu chí về lao động chỉ xem xét đối với những doanh nghiệp có vốn đăng
kí trên 10 tỷ đồng.
Cơ sở xác định vốn và lao động:
+ Lao động trung bình hàng năm là số lao động bình quân mà doanh
nghiệp đã đăng kí với cơ quan quản lí lao động và có tham gia đóng Bảo hiểm xã
khi đó các DNVVN ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế
của mỗi nước, thì ít người quan tâm nghiên cứu
a. DNVVN chiếm tỷ lệ cao về doanh nghiệp, về thu hút lao động và đóng
góp thu nhập quốc dân cho đất nước.
Theo số liệu thống kê của nhiều nước cho thấy DNVVN chiếm 95% tổng
số các doanh nghiệp, thu hút từ 75 đến 90% số nhân viên làm việc trong các
doanh nghiệp và đóng góp từ 40 đến 50% thu nhập quốc dân ở mỗi nước. Tạp
chí “Những vấn đề kinh tế thế giới” số 1(9) tháng 1,2 năm 2000 cho biết: ở Mỹ,
các DNVVN về số người lao động chiếm 78,5%, về thu nhập quốc dân chiếm
34% so với toàn bộ doanh nghiệp nước Mỹ; ở Cộng hoà liên bang Đức con số đó
là 75% và 45%; ở Nhật Bản con số đó là 92,8% và 56%; ở Pháp số nhân việc
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
15
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
làm việc trong các DNVVN chiếm 83,5% trong toàn bộ các doanh nghiệp nước
này.
Do có lợi thế là: chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập được công
ty, nhà xưởng; có thể mở văn phòng, xưởng sản xuất tại gia đình với chi phí
quản lý thấp, tính năng động và tính linh hoạt cao, có khả năng thích ứng với
nhu cầu thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng v.v.... nên số DNVVN trong
những năm qua phát triển khá nhanh. Đặc biệt là loại doanh nghiệp mang tính
chất gia đình, cá thể chiếm một tỷ lệ lớn.
Kỹ thuật sản xuất của DNVVN chủ yếu là nửa cơ giới, lao động sống
chiếm tỷ lệ khá cao. Mặt khác phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh
vực thương mại, dịch vụ, sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông, lâm, hải sản;
xây dựng và giao thông vận tải v.v... nên nó có khả năng thu hút nhiều lao động,
tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội và tăng thu nhập bảo đảm đời sống cho
người lao động. Trong khi đó các doanh nghiệp lớn kỹ thuật sản xuất hiện đại,
công nghệ tiên tiến, nhất là đối với các xí nghiệp tự động hoá sản xuất và sử
dụng công nghệ người máy đã làm cho số người thất nghiệp ngày càng tăng,
dụng ngay nhà mình; nhân viên bán hàng thường cũng là người của gia đình. Do
đó chi phí lưu thông hàng hoá thấp.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm
cho lực lượng sản xuất phát triển có tính nhảy vọt, vượt ra khỏi biên giới quốc
gia và đẩy mạnh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới.
Cho nên bất kỳ nước nào, dù ở trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp
cũng đều phải thực hiện chiến lược kinh tế mở, với nội dung cơ bản là: Tận dụng
lợi thế so sánh tích cực tham gia vào việc phân công lao động quốc tế, chuyên
môn hoá và hợp tác hoá quốc tế, tranh thủ vốn, công nghệ và kinh nghiệm tốt của
nước ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước. Đặc trưng cơ bản của chiến
lược kinh tế mở là mức bảo hộ thấp, khuyến khích xuất khẩu (hướng ngoại).
Việt Nam đang là một nước nghèo, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ đang ở
trình độ thấp kém so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nên việc tích
cực tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để khai thác có hiệu quả các lợi thế bên
trong là vấn đề đặc biệt có ý nghĩa quan trọng.
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
17
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
Chính vì vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng và
Nhà nước chủ trương thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, coi xuất
khẩu là trọng tâm; đồng thời ra sức sản xuất những sản phẩm trong nước sản
xuất có hiệu quả để thay thế nhập khẩu.
Hiện nay trong tổng kim ngạch xuất khẩu ở nước ta, các mặt hàng truyền
thống do các DNVVN kể cả kinh tế hộ gia đình sản xuất chế biến chiếm tỷ trọng
đáng kể. Đó là những mặt hàng nông sản, thực phẩm, hải sản, các mặt hàng thủ
công mỹ nghệ như: gốm sứ, mây tre, sơn mài, hàng thêu dệt, hàng may mặc...
d. DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai
thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng.
Do quy mô vừa và nhỏ nên các DNVVN có thể đặt văn phòng làm việc, nhà
xưởng, kho tàng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ của từng nước; ở cả những nơi cơ sở
chiều rộng và theo chiều sâu là yêu cầu khách quan của việc tồn tại và phát triển
của các doanh nghiệp, nhất là đối với các DNVVN.
Với tư cách là một trung tâm tín dụng, các ngân hàng thương mại có vai
trò rất quan trọng trong việc tích tụ và tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi
trong các cơ sở sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, trong các tổ
chức văn hoá xã hội và trong các tầng lớp dân cư, trong nước và ngoài nước để
đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng theo
chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, hoặc bù đắp phần vốn thiếu
hụt để cho số vốn tự có trong các DNVVN chu chuyển bình thường. Ngoài ra tín
dụng ngân hàng còn có các công trình trọng điểm có ý nghĩa then chốt của nền
kinh tế quốc dân; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
b. Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tự do di
chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác
Như chúng ta đã biết, trong các ngành sản xuất khác nhau do điều kiện
kinh tế, kỹ thuật, tổ chức quản lý khác nhau; do đó cùng một lượng vốn đầu tư
vào các ngành như nhau, nhưng khối lượng lợi nhuận thu được trong cùng một
thời gian lại không bằng nhau. Từ đó dẫn đến dự cạnh tranh di chuyển vốn từ
ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận cao.
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
19
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
Tuy nhiên, việc di chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác không phải
doanh nghiệp nào muốn là có thể làm được, vì phải có những điều kiện nhất
định. Song điều kiện khó khăn nhất, có ý nghĩa quyết định nhất là điều kiện đổi
mới vốn cố định, tức là loại bỏ thiết bị kỹ thuật và công nghệ sản xuất mặt hàng
cũ, mua sắm thiết bị kỹ thuật và công nghệ mới để sản xuất mặt hàng mới, cùng
với các phương tiện dịch vụ sản xuất mới. Trong trường hợp này, nhiều doanh
nghiệp phải dựa vào sự hỗ trợ nguồn vốn của tín dụng ngân hàng.
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
20
Chi nhánh Techcombank Hải Phòng là chi nhánh cấp 1 trực thuộc Ngân
hàng Techcombank Việt Nam - một ngân hàng thương mại hàng đầu có vốn điều
lệ lớn, hệ thống mạng lưới rộng khắp Việt Nam.
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
21
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
*Địa chỉ liên hệ:
Trụ sở chính: 5 Lý Tự Trọng, Phường Hoàng Văn Thụ, Quận Hồng Bàng,
Hải Phòng
Tel: +84 (31) 3810865/67/68 / Fax: +84 (031) 3810866
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ
Theo Pháp lệnh Ngân hàng và điều lệ hoạt động của Ngân hàng
Techcombank Việt Nam, Chi nhánh Techcombank Hải Phòng có những chức năng
và nhiệm vụ chủ yếu sau:
• Huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức: mở
tài khoản tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, kì phiếu, trái phiếu…
• Đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với các thành
phần kinh tế.
• Làm đại lý và dịch vụ uỷ thác cho các tổ chức Tài chính, Tín dụng và cá
nhân trong và ngoài nước như tiếp nhận và triển khai các dự án, dịch vụ giải
ngân cho các dự án, thanh toán thẻ Tín dụng, séc du lịch…
• Thực hiện thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ như: chuyển tiền
điện tử trong nước, thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT…
• Chi trả kiều hối, mua bán ngoại tệ, chiết khấu, cho vay cầm cố các chứng
từ có giá.
• Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới nhiều hình thức khác nhau
trong và ngoài nước.
• Thực hiện các dịch vụ khác.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải
hoạch kinh
doanh
Phòng Hành
chính –
Nhân sự
Phòng kiểm
tra kiểm
soát nội bộ
Phòng Kế
toán – Ngân
quỹ
Phòng thẩm
định
Phòng thanh
toán quốc tế
Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Tài chính ngân hàng
- Phòng giao dịch Tô Hiệu
- Phòng giao dịch Ngô Quyền
- Phòng giao dịch Thủy Nguyên
- Phòng giao dịch Kiến An
Cho đến nay các phòng giao dịch và Chi nhánh hoạt động kinh doanh đã
có hiệu quả. Đồng thời các phòng đều có qui định chức năng nhiệm vụ, qui chế
hoạt động rõ ràng, bổ nhiệm các chức danh điều hành gồm các trưởng phòng,
phó phòng phù hợp với trình độ nghiệp vụ khả năng đáp ứng công việc của từng
người tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành công việc chung.
2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Techcombank chi
nhánh Hải Phòng
2.2.1. Đánh giá chung
Trong những năm qua, tình hình kinh tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng có
mức độ tăng trưởng khá, tình hình chính trị ổn định tạo đà phát triển mạnh cho
Bên cạnh những thuận lợi trên, Ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải
Phòng cũng gặp không ít những khó khăn, đó là:
-Về môi trường kinh doanh: Trên địa bàn có nhiều chi nhánh NHTM hoạt
động, cạnh tranh gay gắt, khách hàng có uy tín đều có quan hệ chặt chẽ với một
tổ chức tín dụng nào đó. Do đó, chi nhánh còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm
kiếm và tiếp cận khách hàng.
- Do sự biến động về giá cả các mặt hàng tiêu dùng và các mặt hàng thiết
yếu khác đã làm cho người dân không tin tưởng vào sự ổn định của đồng tiền, do
vậy ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn của chi nhánh.
- Tình hình kinh tế có nhiều bất ổn
- Cạnh tranh gay gắt trong hoạt động cho vay.
- Khách hàng ngày một đa dạng, các nhu cầu về dịch vụ ngân hàng ngày
một cao hơn đòi hỏi ngân hàng không ngừng phát triển, cải tiến, nâng cao khả
năng đáp ứng nhu cầu khách hàng
2.3. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Techcombank chi nhánh Hải
Phòng
Vũ Tiến Đạt MSSV: 0754030003
25