Nang cao chat luong tin dung doi voi DN vua va nho tai NHNN & PTNT chi nhanh tay ha noi - Pdf 85

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là một chiến lược
phát triển kinh tế xã hội nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nhằm thực
hiện dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực hiện chủ trương trên, từ Đại hội Đảng lần thứ VI (Tháng 12 - 1986)
đến nay, Đảng và Nhà nước đã ban hành một số chủ trương chính sách nhằm
khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển, nhất là các loại
doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã có sự phát triển nhanh chóng, trong đó phải
kể đến sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tất cả các
thành phần kinh tế do có được những lợi thế nhất định để phát triển trong cơ chế
mới.
Cho đến nay có thể nhận xét, DNVVN ở nước ta có tốc độ phát triển
tương đối khá như vậy nhưng vẫn đang đối mặt với những khó khăn nhiều mặt.
Khó khăn lớn nhất hiện nay là thiếu vốn để mở rộng sản xuất, đổi mới thiết bị,
công nghệ. Để khắc phục được tình trạng đó, hầu hết phương án lựa chọn của
các doanh nghiệp đó là tìm nguồn tài trợ từ việc vay vốn các Ngân hàng Thương
mại.
Là một chi nhánh cấp 1 của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây
Hà Nội ra đời đã đáp ứng kịp thời nhu cầu cấp thiết đó của nền kinh tế. Trong
quá trình hoạt động, Ngân hàng luôn chú trọng và cũng luôn có sự ưu tiên đối
với khối DNVVN, qua đó giúp sức cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển
đồng thời ngày càng nâng cao và khẳng định được vị thế của mình - một chi
nhánh mới đi vào hoạt động.
Chính vì lý do đó, trong thời gian thực tập tại đây, em đã chọn đề tài:
“Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
NHNo&PTNT chi nhánh Tây Hà Nội” để nghiên cứu. Thời gian thực tập tại
Ngân hàng không phải là dài nhưng cũng giúp cho em ít nhiều hiểu được sự vận
dụng lý thuết vào thực tiễn, đồng thời em cũng tìm hiểu được thực trạng về vấn

kinh tế, phân phối sản phẩm, phân phối lợi ích do các quy luật của thị trường
điều tiết chi phối.
Kinh tế thị trường có những đặc điểm cơ bản sau:
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Trong nền kinh tế thị trường, mỗi cá nhân, mỗi đơn vị kinh tế được tự do
tổ chức các hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật
- Cạnh tranh là quy luật của thị trường.
- Khách hàng giữ vị trí trung tâm của nền kinh tế.
- Tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế đều được tiền tệ hoá.
Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường, từ đặc điểm kinh doanh
tiền tệ cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật mà các ngân hàng hiện nay
hoạt động theo hướng đa năng tập trung vào ba hoạt động chính sau đây:
- Hoạt động huy động vốn.
- Hoạt động cho vay đầu tư.
- Hoạt động trung gian và các loại hình dịch vụ khác
 Hoạt động huy động vốn.
Hoạt động huy động vốn là một hoạt động quan trọng của các doanh
nghiệp nói chung và đặc biệt là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh
doanh tiền tệ như ngân hàng. Hoạt động này bao gồm huy động các nguồn tiền
gửi (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi giao dịch và phi giao dịch), các khoản đi vay
(vay từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế, từ các NHTM và các tổ chức tín dụng
khác), tiền nhận uỷ thác đầu tư, tiền góp vốn liên doanh.
Ngoài ra các NHTM còn huy động vốn từ việc vay của Ngân hàng Nhà
nước, vay trên thị trường liên ngân hàng hoặc vay từ các thị trường vốn lớn trên
thế giới.
Hoạt động huy động vốn có vai trò cung cấp đầy đủ và kịp thời các nguồn
vốn phục vụ cho các hoạt động khác của ngân hàng.
 Hoạt động cho vay và đầu tư.

thời một lượng giá trị ( hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để
sau một thời gian thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu với những điều
kiện mà hai bên thoả thuận với nhau.
Đối tượng của sự chuyển nhượng bao gồm: Chuyển nhượng dưới hình thái hiện vật –
hàng hoá, đó chính là việc kéo dài thời hạn thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hoá -
chuyển nhượng bằng hình thức giá trị thực chất là việc “ ứng trước hay đầu tư” trực tiếp bằng
tiền ( cho vay bằng tiền).
Những điều kiện mà hai bên thoả thuận thông thường là:
 Khối lượng hàng hoá hay tiền tệ được chuyển nhượng.
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
 Thời hạn sử dụng của người vay.
 Thu nhập mà người cho vay được hưởng (lãi mà người vay phải trả
theo mức lãi suất).
 Những ràng buộc nghĩa vụ trả nợ của người đi vay. Những điều
kiện này một trong hai bên không chấp nhận thì không thể hình thành quan hệ
tín dụng.
Những hành vi tín dụng có thể bất cứ ai cũng làm được, đơn giản như việc hai người
cho nhau vay tiền. Tuy nhiên, với thời gian chúng ta thấy hành vi tín dụng có xu hướng tập
trung vào các ngân hàng, từ đó hình thành một sự chuyên nghiệp hoá trong hành vi tín dụng.
Ngày nay khi nói tới tín dụng người ta nghĩ ngay tới các ngân hàng, vì các tổ chức này chuyên
làm những công việc như cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, ký thác và cả việc phát hành giấy bạc
nữa. Vậy tín dụng ngân hàng là gì?
Tín dụng ngân hàng là tín dụng do cơ quan ngân hàng cung cấp. Tín dụng ngân hàng
thuộc về tín dụng thương nghiệp, ngân hàng là trung gian của người vay, gửi tài khoản. Ngân
hàng đưa phương thức gửi tiền tập trung tiền vốn phân tán trong nhân dân và tích luỹ tiền vốn
trong tương lai, sau đó dùng phương thức cho vay để phân phối nhằm thoả mãn các ngành, các
mặt của xã hội đối với nhu cầu về vốn, do đó trong phạm vi xã hội điều tiết dư thừa và thiếu
vốn.

2.1. Yếu tố lòng tin
Bản thân từ tín dụng xuất phát từ tiếng la-tinh “credittum” có nghĩa là “sự
giao phó” hay “sự tín nhiệm”. Nghiên cứu khái niệm tín dụng cũng cho ta thấy
tín dụng là sự cho vay có hứa hẹn thời gian hoàn trả. Sự hứa hẹn biểu hiện “mức
tín nhiệm” hay “lòng tin” của người cho vay vào người đi vay. Yếu tố lòng tin
tuy vô hình nhưng không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, đây là yếu tố bao
trùm trong hoạt động tín dụng, là điều kiện cần cho quan hệ tín dụng phát sinh.
Lòng tin trong quan hệ tín dụng được biểu hiện từ nhiều phía, không
chỉ có lòng tin từ một phía của người cho vay đối với người đi vay. Nếu
người cho vay không tin tưởng vào khả năng hoàn trả của người đi vay thì
quan hệ tín dụng có thể không phát sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm
nhận thấy người cho vay không thể đáp ứng được yêu cầu về khối lượng tín
dụng, về thời hạn vay, thì quan hệ tín dụng cũng có thể không phát sinh. Tuy
nhiên, trong quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối với người đi
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vay quan trọng hơn nhiều bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc
hoặc tài sản của họ cho người khác sử dụng.
2.2. Tính thời hạn và tính hoàn trả
Khác với các quan hệ mua bán thông thường khác (sau khi trả tiền người
mua trở thành chủ sở hữu của vật mua hay còn gọi là “mua đứt bán đoạn”), quan
hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ không trao đổi
quyền sở hữu khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng
hoá hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi
khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay
phải hoàn trả toàn bộ giá trị khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo
như cam kết đã giao ước với người cho vay.
Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hoá và vì
thế nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người cho

xã hội (không bao gồm số lao động doanh nghiệp kí hợp đồng thời vụ, hợp đồng
công việc).
+ Vốn đăng kí: Đối với DNNN là vốn điều lệ được nhà nước cấp, đối với
các doanh nghiệp còn lại là vốn ghi trên đăng kí kinh doanh, giấy phép đầu tư.
1.2. Vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường.
Nói đến sự phát triển kinh tế ở các nước, chúng ta thường nghe và nghĩ đến các doanh
nghiệp khổng lồ quen thuộc. Chẳng hạn khi nói đến sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, thì
người ta thường nghĩ tới Toyota, Mitsubishi; cũng như thế, khi nói đến Hàn Quốc, thì người ta
nghĩ ngay đến hãng Samsung.v.v.... Trong khi đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng có vị
trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi nước, thì ít người quan tâm nghiên cứu.
1.2.1. Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ cao về doanh nghiệp, về thu hút lao
động và đóng góp thu nhập quốc dân cho đất nước.
Theo số liệu thống kê của nhiều nước cho thấy doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 95%
tổng số các doanh nghiệp, thu hút từ 75 đến 90% số nhân viên làm việc trong các doanh nghiệp
và đóng góp từ 40 đến 50% thu nhập quốc dân ở mỗi nước. Tạp chí “Những vấn đề kinh tế thế
giới” số 1(9) tháng 1,2 năm 2000 cho biết: ở Mỹ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ về số người lao
động chiếm 78,5%, về thu nhập quốc dân chiếm 34% so với toàn bộ doanh nghiệp nước Mỹ; ở
Cộng hoà liên bang Đức (không kể Đông Đức) con số đó là 75% và 45%; ở Nhật Bản con số
đó là 92,8% và 56%; ở Pháp số nhân việc làm việc trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm
83,5% trong toàn bộ các doanh nghiệp nước này.
Do có lợi thế là: chỉ cần một số vốn nhỏ cũng có thể thành lập được công ty, nhà
xưởng; có thể mở văn phòng, xưởng sản xuất tại gia đình với chi phí quản lý thấp, tính năng
động và tính linh hoạt cao, có khả năng thích ứng với nhu cầu thường xuyên thay đổi của người
tiêu dùng v.v.... nên số doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm qua phát triển khá nhanh.
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt là loại doanh nghiệp mang tính chất gia đình, cá thể chiếm một tỷ lệ lớn.
Kỹ thuật sản xuất của doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là nửa cơ giới, lao động sống
chiếm tỷ lệ khá cao. Mặt khác phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại,

nhà mình; nhân viên bán hàng thường cũng là người của gia đình. Do đó chi phí lưu thông hàng
hoá thấp.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm cho lực lượng
sản xuất phát triển có tính nhảy vọt, vượt ra khỏi biên giới quốc gia và đẩy mạnh quá trình quốc
tế hoá đời sống kinh tế thế giới.
Cho nên bất kỳ nước nào, dù ở trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp cũng đều phải
thực hiện chiến lược kinh tế mở, với nội dung cơ bản là: Tận dụng lợi thế so sánh tích cực tham
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
gia vào việc phân công lao động quốc tế, chuyên môn hoá và hợp tác hoá quốc tế, tranh thủ vốn,
công nghệ và kinh nghiệm tốt của nước ngoài để thúc đẩy phát triển kinh tế trong nước. Đặc
trưng cơ bản của chiến lược kinh tế mở là mức bảo hộ thấp, khuyến khích xuất khẩu (hướng
ngoại).
Việt Nam đang là một nước nghèo, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ đang ở trình độ thấp
kém so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nên việc tích cực tranh thủ các nguồn lực
bên ngoài để khai thác có hiệu quả các lợi thế bên trong là vấn đề đặc biệt có ý nghĩa quan
trọng.
Chính vì vậy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảng và Nhà nước chủ
trương thực hiện chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng tâm; đồng thời ra
sức sản xuất những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả để thay thế nhập khẩu.
Hiện nay trong tổng kim ngạch xuất khẩu ở nước ta, các mặt hàng truyền thống do các
doanh nghiệp vừa và nhỏ kể cả kinh tế hộ gia đình sản xuất chế biến chiếm tỷ trọng đáng kể.
Đó là những mặt hàng nông sản, thực phẩm, hải sản, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm
sứ, mây tre, sơn mài, hàng thêu dệt, hàng may mặc...
1.2.4. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế
địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng.
Do quy mô vừa và nhỏ nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đặt văn phòng làm việc,
nhà xưởng, kho tàng ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ của từng nước; ở cả những nơi cơ sở hạ tầng
chưa phát triển như ở vùng núi cao, hải đảo, ở vùng nông thôn rộng lớn nhằm khai thác tiềm

Với tư cách là một trung tâm tín dụng, các ngân hàng thương mại có vai trò rất quan
trọng trong việc tích tụ và tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các cơ sở sản xuất
kinh doanh của các thành phần kinh tế, trong các tổ chức văn hoá xã hội và trong các tầng lớp
dân cư, trong nước và ngoài nước để đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp thực hiện tái
sản xuất mở rộng theo chiều rộng và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu, hoặc bù đắp phần vốn
thiếu hụt để cho số vốn tự có trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ chu chuyển bình thường.
Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn có các công trình trọng điểm có ý nghĩa then chốt của nền
kinh tế quốc dân; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
2.2. Tín dụng ngân hàng là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như việc điều tiết kinh tế vĩ
mô, bao giờ Nhà nước cũng phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ tài chính, tiền tệ,
tín dụng, ngân hàng.
Ưu thế nổi bật của hoạt động tín dụng ngân hàng là không làm tăng khối lượng tiền mặt
trong lưu thông. Với chức năng đi vay, tín dụng ngân hàng “hút” tiền thừa trong lưu thông; và
với chức năng cho vay, tín dụng ngân hàng “đẩy” tiền ra lưu thông, khi lưu thông thiếu tiền.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ
làm cho quan hệ tiền hàng cân đối với nhau. Chính vì lý do này, tín dụng ngân hàng là một
công cụ tổng thể chống lạm phát, ổn định tiền tệ và giá cả, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh có hiệu quả.
Kiềm chế được lạm phát, giữ chỉ số tăng giá ở mức thấp một cách hợp lý có ý nghĩa tích
cực đối với sức mua của đồng tiền Việt Nam, ổn định tình hình kinh tế xã hội, an ninh quốc
phòng, chẳng những tạo cơ hội thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
có hiệu quả, mà còn có lợi cho người tiêu dùng, nhất là đối với người lao động có thu nhập
thấp.
2.3. Tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tự do di
chuyển vốn từ ngành này sang ngành khác
Như chúng ta đã biết, trong các ngành sản xuất khác nhau do điều kiện kinh tế, kỹ thuật,
tổ chức quản lý khác nhau; do đó cùng một lượng vốn đầu tư vào các ngành như nhau, nhưng
khối lượng lợi nhuận thu được trong cùng một thời gian lại không bằng nhau. Từ đó dẫn đến dự
cạnh tranh di chuyển vốn từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có tỷ suất lợi nhuận

Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ làm
cho ngân hàng hiểu rõ nhu cầu tín dụng của ngân hàng, đảm bảo thoả mãn nhu
cầu hợp lý về vốn cho họ. Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, chất lượng là
yêu cầu hàng đầu, vì vậy chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu hợp lý của
khách hàng, lãi suất hợp lý, thủ tục đơn giản không phiền hà, thu hút được khách
hàng nhưng vẫn đảm bảo đúng nguyên tắc và quy định của tín dụng phù hợp với
tốc độ phát triển của xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, góp
phần làm lành mạnh tài chính doanh nghiệp.
Thứ ba: Chất lượng tín dụng xét từ giác độ nền kinh tế.
Hoạt động tín dung trong những năm gần đây phản ánh rõ nét sự năng
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế mới. Nhiều khái niệm mới với
những nội dung mới để đạt được sự thống nhất, về nhận thức và tạo điều kiện
nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cho người lao động,
tăng thêm sản phẩm cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế và khai thác khả
năng tiềm ẩn trong nền kinh tế, thu hút tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nước,
tranh thủ vay vốn nước ngoài có lợi cho nền kinh tế phát triển.
Từ những điều trên, ta có thể rút ra:
- Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích
nghi của NHTM và sự thay đổi của môi trường bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh
một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
- Chất lượng tín dụng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được khách
hàng tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng, chi phí
tổng thể về sản xuất, chi phí nghiệp vụ…
- Chất lượng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy
trình kết hợp hoạt động giữa con người trong một tổ chức, giữa các tổ chức với
nhau vì một mục đích chung, do đó để đạt được chất lượng tín dụng cần có sự

vay ngắn hạn, trung và dài hạn, cho vay uỷ thác. Chỉ tiêu này được đo bằng số
tuyệt đối, nó phản ánh doanh số cho vay của ngân hàng trong một kỳ(một năm)
là bao nhiêu. Tổng dư nợ thấp phản ánh chất lượng tín dụng thấp vì chỉ ra rằng
ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay, khả năng tiếp thị
khách hàng kém, trình độ của đội ngũ nhân viên không cao…Tuy nhiên không
phải bất kỳ thời điểm nào chỉ tiêu này cao cũng là tốt và ngược lại, do vậy khi
xét chỉ tiêu này chúng ta cũng không nên xem xét chúng theo từng thời kỳ riêng
rẽ mà phải xem xét chúng trong cả một quá trình trên cơ sở phân tích các yếu tố
tác động bên ngoài để chỉ số này phản ánh một cách tốt nhất có thể thực tế hoạt
động tín dụng cuả ngân hàng trong nền kinh tế.
3.2.2. Chỉ tiêu về nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chỉ tiêu này có thể nói là một chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xét chất
lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại. Đến kỳ trả nợ, nếu người vay
không trả và không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ nợ đến hạn
sang nợ quá hạn và đương nhiên người đi vay phải chịu lãi suất quá hạn thường
là cao gấp rưỡi lãi suất trong hạn, vì thế doanh nghiệp đã khó sẽ càng trở nên
khó khăn hơn trong việc trả nợ.
Tỷ lệ nợ quá hạn quá cao biểu hiện hiện tượng chất lượng tín dụng của
ngân hàng là thấp, rủi ro cao vì với một số lớn các khoản nợ không được hoàn
trả đúng hạn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc phân phối luồng vốn vào
ra, với việc không thu được nợ thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc mất khả
năng thanh toán hoặc tệ hơn là phá sản. Khi xem xét các chỉ tiêu nợ khó đòi,
người ta thường xem xét cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối.
+ Số tuyệt đối ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập hàng năm của ngân hàng

Tổng số tiền cho vay được xoá nợ
*100%
Dư nợ bình quân
Các tổ chức tín dụng đều có những khoản cho vay không có khả năng thu
hồi, nhưng một tổ chức tín dụng quản lý tốt là một tổ chức có tỷ lệ này ở mức
thấp nhất. Rất nhiều tổ chức tín dụng vẫn phản đối việc xoá nợ bởi họ tin rằng
những khoản cho vay này vẫn có thể thu hồi được. Một khi món nợ đã được
xoá, các nỗ lực thu hồi vốn vẫn tiếp tục nếu điều đó có ý nghĩa kinh tế.
3.2.3. Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng.
Ngân hàng hoạt động với mục đích quan trọng nhất là lợi nhuận. Chỉ tiêu
này sẽ chỉ ra trong tổng thu nhập của ngân hàng thì phần đóng góp là bao nhiêu.
Lợi nhuận thu từ hoạt động tín dụng lớn sẽ khẳng định chất lượng của các khoản
vay là tốt.
Tất nhiên khi xem xét chất lượng của một hoặc một số hoạt động tín dụng
đặc thù thì chúng ta sẽ dựa trên những chỉ tiêu chung này để vận dụng cho phù
hợp, đồng thời những chỉ số cũng được xem xét trong cả một thời kỳ dài để thấy
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khuynh hướng biến động của nó phù hợp với thực tiễn không, nhằm giúp cho
các đánh giá được chính xác hơn.
4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ
Như ta đã biết, chất lượng tín dụng là chỉ tiêu để đánh giá tình hình hoạt
động tín dụng của một ngân hàng và có ý nghĩa lớn đến sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng. Chất lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay
vốn của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng
thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Để có thể thực hiện được
mục tiêu hoạt động của mình là tìm kiếm lợi nhuận dựa trên chức năng nhiệm vụ
của ngân hàng, cụ thể ở đây là hoạt động tín dụng, mỗi ngân hàng phải làm sao

đến cán bộ công nhân viên. Điều đó có ý nghĩa là công tác tổ chức ngân hàng được thực hiện
tốt chính là cơ sở tiến hành các nghiệp vụ tín dụng lành mạnh. Hơn nữa thực hiện tốt công tác
này, ngân hàng đã làm cho guồng máy của mình hoạt động một cách uyển chuyển linh hoạt.
Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động ngân hàng nên luôn chú trọng công tác này để ngày
càng phát triển và hoàn thiện hơn.
* Thông tin tín dụng
Cho vay không phải là một vấn đề đơn giản. Trên thực tế không phải doanh nghiệp nào
cũng sử dụng vốn vay có hiệu quả và đúng mục đích. Đó là chưa nói tới những kẻ mạo danh,
mạo nhận là DN để cho vay trái phép, chiếm dụng vốn bất hợp pháp, gây rủi ro và tổn thất cho
ngân hàng. Vì vậy, hoạt động tín dụng muốn đạt hiệu quả cao, an toàn cần phải có hệ thống
thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này. Nắm bắt kịp thời và chính xác luồng thông tin là
điều kiện để xem xét, phân tích, nhằm tìm ra cơ hội tốt nhất trong kinh doanh cũng như đề phòng
những rủi ro có thể xẩy ra trong các hoạt động của ngân hàng.
* Chất lượng đào tạo cán bộ ngân hàng
Chất lượng cán bộ là "cơ sở vật chất" để thực hiện những kế hoạch kinh doanh trong cơ
chế thị trường thường xuyên thay đổi và có nhiều biến động như hiện nay. Do vậy trong quá
trình tuyển chọn cán bộ ngân hàng cần phải ưu đãi những người có tư cách đạo đức tốt, giỏi
chuyên môn nghiệp vụ, năng động sáng tạo. Trong quá trình hoạt động thường xuyên tiến hành
đào tạo và đào tạo lại cán bộ để nâng cao chất lượng cán bộ, đảm bảo quá trình thực thi nhiệm
vụ được nhanh chóng, chính xác, linh hoạt trong xử lý những sai sót có thể xẩy ra.
Một ngân hàng có đội ngũ cán bộ được đào tạo với chất lượng, trình độ chuyên môn
giỏi thì việc quản lý thực hiện các nghiệp vụ tín dụng ngân hàng nói riêng và các nghiệp vụ
ngân hàng nói chung sẽ trở nên quy củ, có hệ thống và đạt hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, nó còn
giúp cho ngân hàng tránh được các rủi ro có thể xẩy ra.
* Những vấn đề thuộc về kiểm tra, thanh tra, kiểm soát
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, tăng cường cho vay mà không tính đến rủi ro, bất
chắc có thể xẩy ra thì sẽ dễ dàng dẫn đến sự sụp đổ giải thể của mỗi ngân hàng.

dụng của ngân hàng sẽ được đảm bảo và uy tín của ngân hàng được nâng cao.
Năng lực quản lý kinh doanh của khách hàng cũng là một dấu hiệu cho khả năng đảm
bảo chất lượng tín dụng của ngân hàng. Một nhà quản trị kinh doanh tốt là một người quản lý
tốt đồng tiền vào ra của DN, kiểm soát được các chi phí, nhận biết các cơ hội kiếm lời và đưa ra
các quyết định kinh doanh chính xác, từ đó kiếm được lợi nhuận, có nguồn để trả nợ cho ngân
hàng.
* Uy tín và khả năng tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng
Ngân hàng sẽ chỉ đồng ý cho vay nếu khách hàng chứng tỏ được khả năng tài chính và
khả năng trả nợ của mình đối với ngân hàng. Ngân hàng không dám mạo hiểm cho vay đối với
khách hàng nào mà uy tín bị giảm sút, khả năng tài chính đang có vấn đề. Vì vậy tài sản đảm
bảo là một đòi hỏi của ngân hàng để đáp ứng cho nguồn trả nợ thứ hai bổ sung cho món vay.
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Giá trị tài sản ảnh hưởng trực tiếp đến số tiền mà khách hàng được vay, vì ngân hàng căn cứ
vào giá trị tài sản đảm bảo để xác định số tiền cho vay tối đa chỉ được 70% giá trị tài sản đảm
bảo (nếu như không có quy định khác).
* Tính khả thi của dự án vay vốn
Khi dự án có khả thi thì các cán bộ sẽ dựa vào đó để quyết định cho vay, quy mô tín
dụng sẽ được mở rộng. Đây còn là yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng món vay, ảnh hưởng tới
chất lượng tín dụng của ngân hàng.
Mặt khác, nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn vay ngắn
hạn cho đầu tư sản xuất cố định hoặc kinh doanh bất động sản thì sẽ không thu hồi kịp vốn để
hoàn trả đúng hạn, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng.
4.3. Những nhân tố khách quan
* Môi trường kinh tế
Để ngân hàng có thể huy động được nhiều vốn mở rộng hoạt động tín dụng phục vụ cho
việc phát triển kinh tế thì cần có một nền kinh tế ổn định. Một nền kinh tế phát triển ổn định, sẽ
giúp cho ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động của mình, làm giá cả luôn giữ ở mức ổn định,
tránh được tình trạng lạm phát hoặc giảm phát...

vị có liên quan đến hoạt động tín dụng thì có ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Pháp luật sẽ tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh cho mọi hoạt động SXKD của các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tiến hành thuận tiện và đạt kết quả cao. Nó còn là
cơ sở pháp lý để giải quyết mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế. Các DN cũng như ngân
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
20
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hàng phải tuân thủ những quy định nghiêm chỉnh của pháp luật thì hiệu quả và lợi ích sẽ được
đảm bảo. Môi trường pháp luật này luôn được điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện hơn để nó ngày
càng phù hợp hơn với sự phát triển chung của nền kinh tế, trong đó có hệ thống ngân hàng.
* Các nhân tố khác:
Ngoài những nhân tố nêu trên, hiệu quả của công tác cho vay của ngân hàng còn chịu
ảnh hưởng nhiều của nhân tố chủ quan, khách quan khác như: Thái độ phục vụ khách hàng, đạo
đức xã hội, trang thiết bị phục vụ hoạt động hay những yếu tố môi trường như thời tiết, bệnh
dịch..., và các biện pháp trong bảo vệ môi trường sinh thái.
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHNO & PTNT TÂY HÀ NỘI
I. KHÁI QUÁT VỀ NHNN&PTNT TÂY HÀ NỘI
1. Bối cảnh ra đời
Với mục tiêu phát triển bền vững, từng bước củng cố nâng cao vị thế và vai trò của
NHNo&PTNT Việt Nam đối với sự nghiệp hiện đại hoá công nghiệp hoá đất nước. Từ đầu
năm 2000, NHNo&PTNT Việt Nam có những bước chuyển biến rất rõ nét trong việc xác định
chiến lược kinh doanh, xác định thị trường, thị phần. Quá trình xây dựng và thực thi chiến lược
kinh doanh tại các đô thị loại I nhằm thu hút nguồn vốn, hiện đại hoá công nghệ, triển khai ứng
dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại đã cho thấy với định hướng đúng, giải pháp phù hợp,
NHNo&PTNT Việt Nam đã thu được những kết quả khả quan, tạo nên sức mạnh mới, vị thế

kinh tế.
3- Làm đại lý và dịch vụ uỷ thác cho các tổ chức Tài chính, Tín dụng và cá
nhân trong và ngoài nước như tiếp nhận và triển khai các dự án, dịch vụ giải
ngân cho các dự án, thanh toán thẻ Tín dụng, séc du lịch…
4- Thực hiện thanh toán bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ như: chuyển tiền điện
tử trong nước, thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT…
5- Chi trả kiều hối, mua bán ngoại tệ, chiết khấu, cho vay cầm cố các chứng từ
có giá.
6- Bảo lãnh bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ dưới nhiều hình thức khác nhau
trong và ngoài nước.
7- Thực hiện các dịch vụ khác.
3. Cơ cấu tổ chức
NHNo&PTNT Tây Hà Nội được tổ chức bao gồm 8 phòng, ban- với các
chức năng và nhiệm vụ cụ thể phục vụ
3.1. Ban lãnh đạo ngân hàng
3.2. Phòng Hành chính- Nhân sự
3.3. Phòng kế toán ngân quỹ
3.4. Phòng thẩm định
3.5. Phòng Thanh toán quốc tế
3.6. Tổ kiểm tra, kiểm toán nội bộ.
3.7. Phòng Nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp
3.8. Phòng Tín Dụng
4. Mô hình tổ chức màng lưới
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Từ việc xây dựng hướng đi, mặc dù hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
nhưng Ngân hàng đang có xu hướng phát triển lấy các Doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh vừa và nhỏ, các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm đối tượng phục
vụ nhất là lấy khách hàng là mục tiêu phục vụ chủ yếu.

trên địa bàn thủ đô đang tự khẳng định mình trong cơ chế thị trường… Một số
chính sách của Nhà nước và của Thành phố đã thông thoáng hơn có tác dụng
tích cực thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển, tạo môi trường thuận lợi cho
ngân hàng hoạt động.
- Trong lĩnh vực ngân hàng: Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có nhiều
chủ trương, chính sách mới theo hướng mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm cho các ngân hàng thương mại.
- Có sự quan tâm chỉ đạo của Tổng Giám đốc và Ban nghiệp vụ NHNo&PTNT
Việt Nam.
- Sự đoàn kết nhất trí trong Chi bộ và Ban Giám đốc NHNo&PTNT Tây Hà
Nội cùng với sự cố gắng, nỗ lực của tập thể cán bộ CNV toàn chi nhánh.
1.2. Khó khăn.
Bên cạnh những thuận lợi trên, chi nhánh NHNo&PTNT Tây Hà Nội
cũng gặp không ít những khó khăn, đó là:
- Về môi trường kinh doanh: Trên địa bàn có nhiều chi nhánh NHTM
hoạt động, cạnh tranh gay gắt, khách hàng có uy tín đều có quan hệ chặt chẽ với
một tổ chức tín dụng nào đó. Do đó, chi nhánh còn gặp nhiều khó khăn trong
việc tìm kiếm và tiếp cận khách hàng.
- Do sự biến động về giá cả các mặt hàng tiêu dùng và các mặt hàng thiết
yếu khác đã làm cho người dân không tin tưởng vào sự ổn định của đồng tiền,
do vậy ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn của chi nhánh.
- Là chi nhánh mới thành lập nên cơ cấu nguồn chưa hợp lý, vốn dài hạn
chiếm tỷ trọng thấp, lãi suất đầu vào còn cao, không ổn định. Đây là một khó
khăn lớn nhất của chi nhánh.
2. Tình hình hoạt động kinh doanh
Lê Quốc Ninh - Lớp: Tài chính công 44
25

Trích đoạn Là chi nhánh mới thành lập nên cơ cấu nguồn chưa hợp lý, vốn dài hạn chiếm tỷ trọng thấp, lãi suất đầu vào còn cao, không ổn định Đây là một khó Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá nhìn vào thực tế thì chưa có dấu hiệu xấu nhưng lại đang có xu hướng gia tăng, đây là một xu thế mà Ngân hàng cần phải có ngay biện pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status