TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------- ---------
TÀO TIẾN TIỆP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG NGẮN
HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
NHN
o
&PTNT CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
SX : Sản xuất
CV : Cho vay
NH : Ngắn hạn
TDH : Trung, dài hạn
NT : Ngoại tệ
USD : Đồng đô la Mỹ
NĐ : Nghị định
TCTD : Tổ chức tín dụng
CIC : Trung tâm hỗ trợ tín dụng
TDNH : Tín dụng ngắn hạn
VNĐ : Tiền đồng Việt Nam
TCKT : Tổ chức kinh tế
XH : Xã hội
QĐ : Quyết định
TG : Tiền gửi
tín dụng ngắn hạn DNVVN tại chi nhánh Nam Hà Nội
66
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang
1. Sơ đồ 1.1: Quy trình thẩm định tín dụng ngắn hạn 22
2.
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức của NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam
Hà Nội
37
3. Sơ đồ 2.2: Quy trình thẩm định tín dụng của NHN
o
&PTNT 51
4. Đồ thị 2.1: Tình hình huy động vốn năm 2005 - 2008 40
5.
Đồ thị 2.2: Nguồn vốn theo tính chất nguồn huy động 2005 -
2008
42
6. Đồ thị 2.3: Tình hình thu, chi của chi nhánh Nam Hà Nội 46
7. Đồ thị 2.4: Dư nợ ngắn hạn của DNVVN 47
8. Đồ thị 2.5: Nợ cần chú ý và nợ xấu của DNVVN 50
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------- ---------
VŨ THỊ THU TRANG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI CN HẢI PHÒNG
Chuyên ngành: Ngân hàng Tài chính
Người hướng dẫn khoa học: TS Cao Thị Ý Nhi
&PTNT chi nhánh Nam
Hà Nội.
i
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG
THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại
• Hoạt động tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
của ngân hàng thương mại
- Khái niệm về tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
của ngân hàng thương mại
Ta có thể hiểu khái niệm về tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại là: “Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng
thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ là quan hệ giao dịch tiền hoặc tài
sản giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng giao tiền hoặc tài sản
của ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng trong một thời gian ngắn
hạn (thường nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm) nhất định và khách hàng có nghĩa vụ
hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hẹn”.
- Các hoạt động tín dụng ngắn hạn đối với các doanh nghiệp vừa và
nhỏ của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng ngắn hạn có những hình thức chủ yếu sau:
+ Chiết khấu chứng từ có giá
+ Cho vay từng lần
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi
+ Bao thanh toán
• Hoạt động thẩm định tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương
mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
o Khái niệm về thẩm định tín dụng
tổ chức thực hiện thẩm định, nhằm đưa ra quyết định cấp tín dụng ngắn hạn
một cách chính xác của ngân hàng với thời gian ngắn nhất và chi phí thấp
nhất, vừa thoả mãn nhu cầu tín dụng ngắn hạn của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ vừa tối đa hoá lợi ích của ngân hàng.
iii
o Một số tiêu chí phản ánh chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Nhóm tiêu chí liên quan đến việc xây dựng, tuân thủ quy trình và sự phù
hợp trong tổ chức, quản lý hoạt động thẩm định TDNH
- Nhóm tiêu chí về năng lực cán bộ thẩm định
- Nhóm tiêu chí về thông tin phục vụ cho quá trình thẩm định
- Nhóm tiêu chí liên quan đến việc thực hiện các nội dung thẩm định
- Nhóm tiêu chí phản ánh sự phù hợp của kết quả thẩm định với thực hiện
phương án sản xuất kinh doanh.
- Nhóm tiêu chí khác
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các nhân tố chủ quan
- Trình độ, năng lực và ý thức của cán bộ thẩm định cho vay.
- Trình độ tổ chức quản lý của ngân hàng và phòng tín dụng.
- Nguồn thông tin mà ngân hàng khai thác và sử dụng khi thẩm định để
cho vay.
- Chế độ khen thưởng, kỷ luật và xử phạt của ngân hàng đối với cán bộ
thực hiện công tác thẩm định có ảnh hưởng lớn đến chất lượng thẩm định tín
dụng ngắn hạn.
Các nhân tố khách quan
- Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước.
- Sự phát triển của hệ thống thị trường tài chính.
- Sự biến động xấu của mối trường tự nhiên.
- Sự biến động về kinh tế, chính trị và xã hội ở khu vực và thế giới như:
Hà Nội vẫn đang hoạt động trên cơ sở “Độc canh tín dụng”, thu nhập từ các
dịch vụ khác của chi nhánh mới đạt dưới 10% tổng thu nhập của chi nhánh.
Trong khi đó, thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ của các ngân hàng nước ngoài
chiếm 40 - 60% tổng thu nhập.
Kết quả hoạt động kinh doanh
v
Với sự tăng lên của tổng chi như vậy, đã làm cho lợi nhuận trước thuế
của chi nhánh trong 3 năm qua có xu hướng tăng, giảm dần. Cụ thể năm 2006
chênh lệch thu chi của chi nhánh là 81,7 tỷ đồng, đến năm 2007 tăng lên là
141,4 tỷ đồng, nhưng lại giảm xuống còn 65 tỷ đồng vào năm 2008, giảm so
với năm 2007 là 54%.
2.2. Thực trạng chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội
2.2.1. Hoạt động cho vay ngắn hạn và thẩm định tín dụng ngắn hạn đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội
Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của
NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội
Trong những năm gần đây, tình hình dư nợ ngắn hạn của DNVVN có xu
hướng tăng, giảm, cụ thể là: năm 2005 tổng dư nợ của DNVVN là 451.2 tỷ đồng
sang đến năm 2007 con số này là 691,7 tỷ đồng, tăng hơn so với năm 2005 là
53,3%, nhưng đến năm 2008, do lãi suất tăng cao, khủng hoảng kinh tế của thế
giới ảnh hưởng đến nền kinh tế của Việt Nam, làm cho dư nợ ngắn hạn của chi
nhánh giảm xuống còn 504,2 tỷ đồng, giảm hơn so với năm 2007 là 27,11%.
Trong những năm qua, nợ xấu ngắn hạn của DNVVN có xu hướng tăng
vay hay không cho vay, và chịu trách nhiệm với quyết định đó.
+ Các Giám đốc cấp 1 và cấp 2 phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
NHN
o
&PTNT Việt Nam về các quyết định của mình. Khi có các khoản vay vượt
thẩm quyền đã được quy định thì phải viết báo cáo trình lên cấp cao hơn để xem
xét và phê duyệt.
- Trình tự thực hiện quy trình thẩm định
+ Bước 1: Trưởng phòng tín dụng và trưởng phòng thẩm định sẽ tiếp nhận
hồ sơ của doanh nghiệp và xem xét hồ sơ xin vay của doanh nghiệp.
+ Bước 2: Trên cơ sở các quy định của chi nhánh, cán bộ thẩm định sẽ thu
thập thông tin có liên quan đến thẩm định, và hồ sơ cần thiết để phục vụ cho việc
thẩm định, và tiến hành thẩm định.
+ Bước 3: Sau khi thẩm định, cán bộ thẩm định lập báo cáo thẩm định theo
quy định, trong báo cáo phải nêu rõ có cho vay hay không cho vay, lý do cụ thể để
trình trưởng phòng thẩm định xem xét.
+ Bước 4: Trưởng phòng thẩm định có trách nhiệm kiểm tra, xem xét tờ
trình của cán bộ thẩm định, nếu thấy thiếu, hoặc không phù hợp thì phải yêu cầu
cán bộ thẩm định bổ sung.
+ Bước 5: Giám đốc hoặc phó giám đốc cấp 1 sau khi phê duyệt cho vay
hoặc không cho vay, chuyển hồ sơ lại phòng thẩm định.
Nội dung thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp
Thẩm định về mặt pháp lý đối với DNVVN
vii
Thẩm định về mục đích sử dụng vốn của DNVVN
Thẩm định khả năng tài chính của DNVVN
Thẩm định kế hoạch, phương án sản xuất, kinh doanh của DNVVN
Thẩm định các biện pháp bảo đảm tín dụng của DNVVN
2.2.2. Chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại NHN
nghiệm của cán bộ thẩm định để quyết định. Tuy nhiên, hiện nay các thông
tin về đầu ra của sản phẩm như: Giá sản phẩm, nhu cầu thị hiếu… đều chưa
đầy đủ và đủ tin cậy, chưa có cơ sở để so sánh, đánh giá một cách khoa học...
Do đó tiêu chí 8 và 9 của nhóm này được đánh giá và xếp loại b.
• Nhóm tiêu chí liên quan đến việc thực hiện các nội dung thẩm định
Khi nghiên cứu thực tế thẩm định của chi nhánh Nam Hà Nội về thẩm
định mục đích sử dụng vốn vay của doanh nghiệp, thì được biết, chi nhánh
luôn quán triệt rõ phải cho vay đúng mục địch sử dụng và phải hợp pháp. Vì
vậy, tiêu chí 11 được đánh giá là a.
Như phân tích ở trên ta thấy, chi nhánh rất quan tâm và chú trọng phân
tích tình hình tài chính của DNVVN, bằng việc dùng một số tiêu chí để đánh
giá khả năng tài chính của DNVVN. Vì vậy, tiêu chí 12 cũng được đánh giá
và xếp loại a.
Với sự quy định rõ ràng của chi nhánh về thẩm định là phải xem xét cơ
cấu huy động vốn của doanh nghiệp có tối ưu hay không. Do đó, tiêu chí 13
được đánh giá là loại a.
Hiện nay, việc đánh giá và ước lượng về các yếu tố đầu vào và đầu ra
của phương án sản xuất kinh doanh của DNVVN còn chưa chính xác và có
tính thuyết phục cao, vẫn tiềm ẩn rủi ro cho chi nhánh. Vì vậy, tiêu chí 14 chỉ
được đánh giá là loại b.
- Về tỷ lệ dư nợ ngắn hạn DNVVN có bảo đảm bằng tài sản của chi nhánh
trong năm 2008 là 90,68%, nên tiêu chí 16 được đánh giá là phương án a.
• Nhóm tiêu chí phản ánh sự phù hợp của kết quả thẩm định với
thực hiện phương án sản xuất kinh doanh
- Về tỷ lệ nợ ngắn hạn cần chú ý: Theo số liệu thống kê của chi nhánh ta
có tỷ lệ dư nợ ngắn hạn cần chú ý là 8,6%, nên tiêu chí 17 được đánh giá là
phương án b
- Đối với tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn: Trong năm 2008 vừa qua, chi nhánh
Nam Hà Nội đã có tỷ lệ nợ xấu quá cao (9,96%), với kết quả này, tiêu chí 18
được đánh giá là phương án b
- Tỷ lệ nợ xấu (9,96%), nợ cần chú ý (8,6%) của các DNVVN ngày
càng tăng, vượt mức chuẩn mà ngân hàng Nhà nước khuyến cáo.
x
- Việc xây dựng và cập nhận thông tin chưa được triển khai đúng mức,
số lượng kênh thông tin còn hạn chế, hay các thông tin phản ánh chưa được
đầy đủ, còn thiếu tin cậy và chưa kiểm tra được...
- Vấn đề bảo đảm tiền vay của chi nhánh vẫn chưa được thực hiện tốt.
2.3.2. 2. Nguyên nhân của hạn chế
• Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất: Công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra và giám sát của chi nhánh
còn nhiều hạn chế, thiếu kiên quyết và dứt khoát, công tác xử lý còn yếu
kém...
Thứ hai: Năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số cán bộ
thẩm định còn ở mức thấp, chưa đạt ở mức chuẩn so với yêu cầu của công việc.
Thứ ba: Chi nhánh mới được thành lập, vì vậy, để thu hút khách hàng về
với chi nhánh, nên trong nhiều trường hợp chi nhánh đã mạo hiểm cho các
DNVVN vay với mục đích kéo khách về với chi nhánh.
Thứ tư: Chủ yếu cán bộ thẩm định của chi nhánh là cán bộ khiêm
nhiệm (vừa làm tín dụng, vừa quan hệ với khách hàng, và vừa thẩm định), nên
chất lượng công việc thẩm định cũng bị hạn chế.
Thứ năm: Cán bộ thẩm định còn quá coi trọng việc có tài sản bảo đảm
của các doanh nghiệp, họ vẫn chưa ý thức được sự sâu xa của tài sản bảo đảm
chỉ là điều kiện cho vay, giảm bớt tổn thất cho ngân hàng khi mà khách hàng
không thể trả được nợ thì mới phải dùng đến tài sản bảo đảm.
Thứ sáu: Sự tha hoá, biến chất của một số cán bộ thẩm định tín dụng, họ
vì mục đích cá nhân mà đã làm sai lệch kết quả thẩm định. Dẫn đến kết quả
thẩm định không cao và tiềm ẩn rủi ro lớn đối với chi nhánh.
Thứ bảy: Khả năng tiếp cận, khai thác và sử lý thông tin của các bộ thẩm
định còn chủ quan, nghèo làn và đơn giản. Chủ yếu các thông tin được lấy từ
các doanh nghiệp, đôi khi thì được lấy cả ở trung tâm CIC hay của hội sở, do
nhân viên.
xii
- Cần chuyên môn hoá cán bộ thẩm định đối với những ngành nghề mà
họ có kinh nghiệm và hiểu biết sâu, rộng về lĩnh vực đó. Cương quyết không
để cho các cán bộ thẩm định thiếu hiểu biết về lĩnh vực sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp đi thẩm định.
- Nâng cao chế độ thưởng, phạt hơn nữa nhằm giáo dục cho các cán bộ
thẩm định để họ ý được nhiệm vụ và trách nhiệm của họ, để từng bước nâng
cao đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ thẩm định của chi nhánh.
- Cần có sự kiểm tra chéo một cách chặt chẽ hơn nữa giữa các cán bộ thẩm
định với nhau để tăng sự khách quan trong quá trình thẩm định…
3.1.2. Nâng cao chất lượng thẩm định phương án sản xuất kinh doanh
của các DNVVN
Trong thời gian tới, chi nhánh cần phải tăng cường hơn nữa nhằm nâng
cao chất lượng thẩm định phương án sản xuất, kinh doanh của các DNVVN
theo các hướng:
- Cần thường xuyên cập nhận các thông tin thị trường…
- Phân tích các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh đã
phù hợp chưa? Cụ thể là giá cả nguyên vật liệu, chi phí nguồn nhân lực, định
mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu đã đúng chưa?..
- Số lượng, chất lượng của sản phẩm mà DNVVN sản xuất ra đó đáp
ứng được yêu cầu của thị trường hay không? …
3.1.3. Tăng cường việc thực hiện bảo đảm tín dụng
- Tiếp tục khuyến khích việc thực hiện bảo đảm tín dụng bằng tài sản tự
có của doanh nghiệp, tài sản được hình thành từ nguồn vốn vay, bảo lãnh…
Vì, khi đó sẽ khích lệ và gắn được trách nhiệm của doanh nghiệp trong quá
trình sử dụng vốn vay.
- Khi đánh giá tài sản đảm bảo cần có sự đánh giá chéo và thật kỹ lưỡng sao
cho tài sản luôn phải đảm bảo đủ vai trò của tài sản bảo đảm (như: giá trị tài sản như
thế nào trong tương lai, hay tài sản bảo đảm phải có thị trường tiêu thụ…).
Qua nghiên cứu thực tế cho thấy, công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn
đối với các DNVVN tại chi nhánh Nam Hà Nội vẫn còn nhiều vấn đề cần
được bổ sung và hoàn thiện. Đề tài cũng chỉ ra được những mặt đã làm được
xiv
(như: Chi nhánh rất nỗ lực và quyết tâm thực hiện nâng cao chất lượng đối
với công tác thẩm định tín dụng nói chung và thẩm định tín dụng, hay chi
nhánh cũng đã có những tiền đề thuận nhằm nâng cao chất lượng thẩm định
tín dụng trong tương lai…) và những mặt chưa làm được (tuỷ lệ nợ cần chú ý,
nợ xấu còn ở mức cao, nguồn nhân lực, công nghệ thông tin phụ trợ cho việc
thẩm định tín dụng còn hạn chế…) trong công tác thẩm định tín dụng ngắn
hạn đối với các DNVVN. Đề tài cũng đưa ra một hệ thống giải pháp và kiến
nghị đối với các cấp, ban ngành có liên qua. Vì vậy, trong thời gian tới chi
nhánh Nam Hà Nội cần có kế hoạch để thực hiện đồng bộ các giải pháp mà đề
tài đã chỉ ra nhằm nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng nói chung và thẩm
định tín dụng ngắn hạn đối với các DNVVN nói riêng, góp phần làm giảm
thiểu rủi ro tín dụng và những mất mát có thể xảy đến với chi nhánh và với cả
chi nhánh và đối với cả các DNVVN.
xv
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-------- ---------
TÀO TIẾN TIỆP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG NGẮN
HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
NHN
o
&PTNT CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế - Tài chính - Ngân hàng
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Xuân Quế
“Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp
vừa và nhỏ tại NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội” được chọn làm luận
văn thạc sĩ kinh tế.
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thẩm định tín dụng ngắn hạn và
chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp tăng cường chất lượng thẩm định tín dụng ngắn hạn
đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu chất lượng thẩm định tín dụng
ngắn hạn của ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chất lượng thẩm định tín dụng ngắn
hạn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHN
o
&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2005 - 2008.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, các phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên
cứu là: phương pháp thu thập, tổng hợp số liệu, thống kê, so sánh và phân tích
kinh tế.
5. Những đóng góp của luận văn
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trước tiên, để có được khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ, chúng ta
bắt đầu nghiên cứu từ khái niệm doanh nghiệp. Hiện nay, có rất nhiều quan
điểm khác nhau về doanh nghiệp, nhưng theo Luật doanh nghiệp nước Việt
Nam năm 2005 và có hiệu lực từ 1/7/2006 đã nêu: “Doanh nghiệp là tổ chức
kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động kinh
doanh”[14]. Khi căn cứ vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp thì người ta
có thể phân thành 3 loại doanh nghiệp là: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp
vừa và doanh nghiệp nhỏ.
Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều căn cứ vào “Tổng số vốn
kinh doanh và số lượng lao động của doanh nghiệp” để phân biệt doanh
nghiệp thuộc loại doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa hay doanh nghiệp nhỏ.
Tuy nhiên, ở mỗi nước các tiêu thức làm căn cứ để phân biệt loại hình doanh
nghiệp lại là khác nhau, ví dụ như:
Ở Philipin căn cứ vào tổng số vốn của doanh nghiệp để phân loại, cụ thể
nếu doanh nghiệp có tổng số vốn trên 60 triệu Peso tương ứng với 25 tỷ VNĐ
thì được xếp vào doanh nghiệp lớn, còn nếu doanh nghiệp có số vốn từ 15 triệu
Peso đến 60 triệu Peso thì được xếp vào doanh nghiệp vừa, còn nếu doanh
nghiệp có số vốn dưới 15 triệu Peso thì được xếp thành doanh nghiệp nhỏ[16].
Tại Thái Lan, khái niệm các DNVVN được đưa ra một cách chi tiết và
cụ thể hơn với sự tách biệt rõ ràng giữa các doanh nghiệp vừa và doanh
4