Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Đầu và Phát triển Thái Bình - Pdf 30

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Tôi đã xây dựng
chuyên đề này trên cơ sở những số liệu trung thực có nguồn gốc rõ ràng, được
lấy từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thái Bình./.
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thái Bình
Bảng 01 Tình hình cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Bảng 02 Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn
Bảng 03 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo quy mô doanh nghiệp
Bảng 04 Số lượng DNV&N có quan hệ vay vốn
Biểu đồ 01 Tỷ trọng về số lượng DNV&N với tổng số DN có quan hệ vay vốn
Biểu đồ 02 Tốc độ tăng trưởng số lượng DNV&N
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NH Ngân hàng
NHTM Ngân hàng Thương mại
BIDV Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
CN Chi Nhánh
TW Trung ương
DNV&N Doanh nghiệp vừa và nhỏ
DN Doanh nghiệp
DA Dự án
LỜI NÓI ĐẦU
Tín dụng là chức năng quan trọng nhất của các tổ chức trung gian tài
chính là dịch vụ sinh lời chủ yếu, đồng thời cũng là lĩnh vực chưa đựng nhiều

bất kỳ một NH nào đó làm đối tác. Hay nói cách khác, khách hàng tìm đến NH
nào mà ở đó thực sự tạo điều kiện và giúp đỡ họ thực hiện việc kinh doanh đạt
hiệu quả thông qua quan hệ tín dụng và các dịch vụ khác. Hơn nữa, về phía NH
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sẽ có cơ hội tăng số lượng khách hàng, thu hút được thêm nhiều nguồn vốn, tạo
điều kiện mở rộng tín dụng.
Nâng cao chất lượng tín dụng, tình hình tài chính của NHTM được cải
thiện, tạo ra những thế mạnh trong quá trình cạnh tranh, giúp cho NH tránh và
hạn chế được những rủi ro, những tổn thất to lớn có thể xảy ra, góp phần làm
lành mạnh hoá các quan hệ tín dụng và tạo điều kiện để mở rộng các quan hệ
tín dụng. Chất lượng tín dụng quyết định cho sự tồn tại và phát triển của từng
NHTM nói riêng và toàn bộ hệ thống NH nói chung.
Qua những vấn đề được phân tích ở trên ta thấy rõ sự cần thiết khách
quan của việc củng cố tăng cường nâng cao chất lượng tín dụng của các
NHTM.
Từ thực tế ở Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thái Bình, và
sau thời gian học tập nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận, tôi chọn đề
tài: "Nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và
nhỏ tại Ngân hàng Đầu và Phát triển Thái Bình" để làm chuyên đề nghiên
cứu của mình.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I: Các vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ
Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp
vừa và nhỏ của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thái Bình
Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Thái Bình
Thông qua việc phân tích thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh

doanh thu. DNV&N có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là
DN siêu nhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa. Theo tiêu chí của Nhóm NH Thế
giới, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số
lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao
động. Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định DN nhỏ và vừa ở
nước mình. Ở , không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các DN có số vốn đăng
ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300
người được coi là Doanh nghiệp Vừa và nhỏ (không có tiêu chí xác định cụ thể
đâu là DN siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa).
1.1.1.2. Vai trò, đặc điểm của Doanh nghiệp Vừa và nhỏ
Trong nền kinh tế, chúng ta thường nói tới "Doanh nghiệp" và được
chúng ta hiểu một cách thông thường là những đơn vị kinh tế được thành lập
bởi một cá nhân hay bởi các tổ chức, được nhà nước cho hoạt động nhằm thực
hiện hoạt động kinh doanh trong những lĩnh vực nhất định vì mục đích công
ích hay lợi nhuận. Sự vận động của nền kinh tế nhất thiết phải có một yếu tố
quan trọng đó là DN, không có hoạt động của các DN thì nền kinh tế không thể
lưu thông và hoạt động.
DNV&N có vai trò lớn trong sự tăng trưởng kinh tế của rất nhiều quốc
gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Trong bối cảnh đang chuyển
đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới,
DNV&N đã và đang đóng vai trò quan trọng về nhiều mặt: Đảm bảo nền tảng
ổn định và bền vững của nền kinh tế; huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư
phát triển; đáp ứng một cách linh hoạt nhu cầu của các ngành kinh tế quốc dân;
cải thiện thu nhập và giải quyết việc làm cho một bộ phận đông đảo dân cư;
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
góp phần xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống và thu hẹp khoảng cách
phát triển giữa các vùng đất nước.
Các hoạt động của các DNV&N đã và đang góp một phần không nhỏ

muốn đề cập đến DNV&N vì đây là một bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong hệ
thống các DN và đây cũng là những DN đóng góp một vai trò không nhỏ trong
nền kinh tế. Nếu chúng ta có một định hướng đúng đắn đối với các DNV&N
thì sẽ có một sự thúc đẩy phát triển kinh tế to lớn, từ đó làm điểm tựa vững
chắc để đưa đất nước phát triển.
Hiện nay, các DNV&N tập trung chủ yếu ở thành thị ,chủ yếu ở các
thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng ... và
các tỉnh thuộc khu vức đồng bằng bắc bộ.
Thực tế cho thấy, trong những năm gần đây, số lượng DNV&N ngày
càng tăng mạnh. Như tên gọi của mình, DNV&N mang những đặc điểm riêng
rất khác biệt so với các DN lớn trên thị trường. DNV&N mang nhưng đặc
trưng cơ bản sau:
* Các DNV&N chiếm số lượng lớn trên thị trường, và tốc độ gia tăng cao
Theo luật DN quy định, việc thành lập DNV&N yêu cầu số vốn thành lập nhỏ,
vì vậy số lượng DNV&N chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Với ưu
điểm là vốn điều lệ thấp, điều này đã tạo một động lực to lớn cho các tổ chức
kinh tế tư nhân đứng ra thành lập DN của mình. Mặt khác, từ trước đó đã tồn
tại không ít các DN nhà nước có quy mô vốn nhỏ, lao động ít như các hợp tác
xã, các DN nhà nước mới thành lập hoặc được tách ra…Với đặc điểm là vốn
pháp định nhỏ như vậy, số lượng các DNV&N đã chiếm phần lớn về số lượng
trong nền kinh tế và có tốc độ gia tăng cao.
* Các DNV&N có quy mô vốn nhỏ, lao động ít
Mặc dù tăng nhanh về số lượng nhưng nếu xét về quy mô vốn của các
DNV&N trong những năm gần đây thì lại rất thấp, mới ở mức trung bình trên 2
tỷ đồng/DN. Theo quy định của Luật DN, DNV&N là các DN có số vốn pháp
định không vượt quá 10 tỷ, có số lao động không vượt quá 300 lao động. Với
số vốn nhỏ như vậy, các DN gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường,
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368

10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hoặc sau thời kỳ mở cửa nền kinh tế hoặc là các DN Nhà nước vừa được tách
ra. Với những DNV&N thành lập khá lâu mà hoạt động sản xuất kinh doanh
tốt, có hiệu quả, họ sẽ dần dần mở rộng nguồn vốn của mình và đứng vào hàng
ngũ những DN lớn. Như vậy, kinh nghiệm hoạt động của loại hình DN này
chưa nhiều. Với số vốn ít và bề dày kinh nghiệm hạn chế, các DNV&N gặp
khó khăn trong việc duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, chống đỡ với
những thay đổi trong quá trình hoạt động của mình.
* Trình độ công nghệ và phương pháp quản lý lạc hậu
Đây là vấn đề nổi cộm đối với tổng thể các DN của nước ta do đặc điểm
nền kinh tế chưa thực sự phát triển. Ở DN hiện nay, một thực trạng phổ biến
trong các DNV&N là hệ thống máy móc, thiết bị lạc hậu, khoảng 10-15 năm
trong ngành điện tử, 15 năm đối với ngành cơ khí, 70% công nghệ ngành dệt
may đã sử dụng được 15 năm. Tỷ lệ đổi mới trang thiết bị trung bình hàng năm
của chỉ ở mức 5-7% so với 20% của thế giới. Công nghệ lạc hậu làm tăng chi
phí tiêu hao 1,5 lần so với định mức tiêu chuẩn của thế giới. Thực trạng này
dẫn đến tăng chi phí đầu vào, cao hơn từ 30 - 50% so với các nước ASEAN,
đồng thời dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm, giá thành cao và năng suất thấp.
Nhiều DNV&N rất yếu kém trong tiếp cận thông tin và các dịch vụ hỗ
trợ kinh doanh. Một phần là do chất lượng nguồn nhân lực thấp, hạn chế về
trình độ chuyên môn, tin học, ngoại ngữ của giám đốc và đội ngũ quản lý DN,
một phần là do đầu tư cho hệ thống thông tin thấp, chưa có phương tiện kỹ
thuật nên chưa theo kịp diễn biến của thị trường.
Vì thế, nhiều quyết định kinh doanh được đưa ra chỉ dựa vào kinh
nghiệm và phán đoán cảm tính, đây là điểm yếu nhất các DNV&N của trước
áp lực cạnh tranh quốc tế.
* Các DNV&N hoạt động linh hoạt, năng động
Trong nền kinh tế, các DNV&N là những thành phần hoạt động linh hoạt
nhất. Với mỗi thay đổi nhỏ nhất của nền kinh tế, các DNV&N đều chịu tác

DN cùng khách hàng và các khoản vay mượn khác. Bản thân NH cũng có
trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho các khoản mượn nói trên. NH thu lợi
nhuận là nhờ thu chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, đồng thời sử dụng
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
vốn vay để thực hiện hoạt động khác như đầu tư, tài trợ… Như vậy, để duy
trì sự tồn tại và phát triển của mình, NH phải yêu cầu DN thực hiện đúng
cam kết này.
- Doanh nghiệp phải cam kết sử dụng tín dụng theo mục đích được thoả thuận
với NH, không trái với quy định của pháp luật và các quy định khác của NH
cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt động cho các NH, và mỗi NH
đều có mục đích và phạm vi hoạt động riêng. Do vậy, khi cho cấp tín dụng
trong phạm vi hoạt động của mình, NH yêu cầu DN phải sử dụng vốn đúng
mục đích như đã thoả thuận với NH.
- NH tài trợ dựa trên phương án có hiệu quả. Phương án hoạt động của DN
đảm bảo khả năng thu hồi vốn và lãi của NH. Mặt khác, để đảm bảo đòi
được nợ, các NH thường yêu cầu tài sản đảm bảo với mỗi khoản vay.
Các hoạt động tín dụng đối với DNV&N của Ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng NH được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
NH tiến hành phân loại tín dụng để dễ quản lý các khoản tín dụng và nhằm đa
dạng hoá tín dụng nhằm thoả mãn nhu cầu của DN. Phân loại tín dụng để NH
quyết định lãi suất cho vay, cũng như loại hình cho vay thích hợp với mỗi loại
tín dụng khác nhau.
Việc xác định phương thức cho vay có một ý nghĩa rất quan trọng của
quá trình cấp tín dụng choĐNN. Nếu xác định đúng phương thức cho vay cho
từng DN từ đú sẽ tạo ra yếu tố tích cực giúp cho DN thuận lợi trong quá trình
giao dịch và chủ động về tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh và thuận
lợi để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh, khuyến khích được DN về
quan hệ vay vốn với NH, Ngân hàng chủ động trong việc cân đối giữa nguồn

NH đối với các DN không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện
để được cấp hạn mức thấu chi. Một số DN sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng
thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc
biệt mới vay NH, tức là vốn từ NH chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định
của chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Mỗi lần vay, DN phải làm đơn và trình NH phương án sử dụng vốn vay.
NH sẽ phân tích DN và ký hợp đồng cho vay, xác định mức cho vay, thời hạn
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay
được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.
Nhu cầu vay
Ngân hàng
=
Chi phí cần thiết cho SXKD - Vốn tự có -
Vốn khác
Trong đó:
Chi phí cần thiết
Cho SXKD
=
Giá trị hợp đồng - Khấu hao cơ bản -
Thuế - Lợi nhuận định mức cho SXKD
Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
Mức cho vay= (Giá trị tài sản đảm bảo x Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản
đảm bảo).
Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, NH sẽ thu gốc và lãi. Trong quá
trình DN sử dụng tiền vay, NH sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng,
nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, NH sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển
nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.

thời gian tới.
Khi vay, DN chỉ cần gửi đến NH các chứng từ hoá đơn nhập hàng và số
tiền cần vay. NH cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình thức này, giá trị
hàng hoá mua vào (có hoá đơn, hợp pháp, hợp lệ, đúng đối tượng) đều là đối
tượng được NH cho vay; thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho NH.
Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tuỳ theo khối lượng và chất lượng
quan hệ nợ nần của người vay. Các khoản phải thu và cả hàng hoá trong kho
trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay. Cho vay luân chuyển thường được
áp dụng đối với các DN thương nghiệp hoặc DN sản xuất có chu kỳ tiêu thụ
ngắn ngày, có quan hệ vay trả thường xuyên với NH.
Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho DN. Thủ tục cho vay chỉ cần
thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. DN được đáp ứng nhu cầu vốn kịp thời , vì
vậy việc thanh toán cho người cung ứng sẽ nhanh gọn.
Nếu DN gặp khó khăn trong tiêu thụ thì NH sẽ gặp khó khăn trong việc
thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng.
* Cho vay trả góp
Cho vay trả góp là hình thức tín dụng, theo đó NH cho phép DN trả gốc
làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thoả thuận. Cho vay trả góp
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản
cố định và tài sản lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp
với khả năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế cuả DA, hoặc
từ thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng).
NH thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức
nhất định. NH sẽ thanh toán cho ngưòi bán lẻ về số hàng hoá mà DN đã mua
trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận tiền ngay sau khi bán hàng từ phía NH và
làm đại lý thu tiền cho NH, hoặc DN trả trực tiếp cho NH. Đây là hình thức tín
dụng tài trợ người mua (qua đó đến người bán) nhằm khuyến khích tiêu thụ

nhiên nó cũng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng vị thế của
mình, để tăng lãi suất cho vay lại, hoặc giữ lấy số tiền của các thành viên khác
cho riêng mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán hàng kém chất lượng
hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
1.2. Chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp Vừa và nhỏ của Ngân hàng
thương mại
1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Đối với các NHTM, cái được biểu hiện ra bên ngoài vừa cụ thể, vừa trừu
tượng của hoạt động tín dụng chính là chất lượng tín dụng. Chỉ khi chất lượng
tín dụng tốt tức là NH có nhiều khách hàng, uy tín NH được nâng cao tạo điều
kiện thúc đẩy cho NH phát triển.
Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng phù
hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của NH.
Như vậy khi xem xét chất lượng tín dụng của NH nói chung và đối với
DNV&N nói riêng, cần tính đến ba nhân tố là NHTM, khách hàng, và nền kinh
tế.
Thứ nhất: Chất lượng hoạt động tín dụng xét từ giác độ NHTM
Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải
phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân NH và phải
đảm bảo được sự cạnh tranh trên thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng
hạn và có lãi. Chất lượng hoạt động tín dụng phải thể hiện ở chỉ tiêu lợi nhuận
hợp lý và gia tăng, dư nợ ngày càng tăng trưởng, tỷ lệ nợ quá hạn đảm bảo
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đúng quy định và hợp lý, đảm bảo cơ cấu nguồn vốn giữa ngắn hạn,trung và
dài hạn trong nền kinh tế.
Thứ hai: Chất lượng hoạt động xét từ giác độ khách hàng
Thông qua quan hệ lâu dài với khách hàng, sự am hiểu khách hàng sẽ
làm cho NH hiểu rõ nhu cầu tín dụng của NH, đảm bảo thoả mãn nhu cầu hợp

dụng nhằm đạt được chất lượng tốt.
1.2.2. Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương
mại
Có nhiều chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá chất lượng TDNH, trong đó có các
chỉ tiêu cơ bản sau:
1.2.2.1. Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu và tổng dư nợ của NHTM ở
một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm. Chỉ tiêu
này được tính theo công thức (1.1) dưới đây:
Tỷ lệ nợ xấu
* Khái niệm nợ xấu:
Nếu chỉ dựa vào chỉ tiêu nợ quá hạn thì chưa đánh giá chính xác về chất lượng
tín dụng của các NH. Theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày
22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước “ V/v Ban hành quy định về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt
động NH của TCTD” đã đánh giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các
TCTD. Theo Quyết định 493 thì nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3,4,5 theo cách phân
loại nợ dưới đây.
Chỉ tiêu này phản ánh nợ xấu của một NH, tỷ lệ này càng thấp càng tốt. Thực
tế, rủi ro trong kinh doanh là không tránh khỏi, nên NH thường chấp nhận một
tỷ lệ nhất định được coi là giới hạn an toàn. Mức giới hạn này ở mỗi nước là
khác nhau, riêng ở hiện nay chấp nhận tỷ lệ là 5%.
* Cách phân loại nợ
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
20
=
Nợ xấu
Tổng dư nợ
x 100% ≤ 5%
(1.1) (1.1)

Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng
hạn theo thời hạn đã được cơ cấu lại thì phân loại vào nợ nhóm 1. Trường hợp
một DN có nợ cơ cấu lại bao gồm nợ ngắn hạn và nợ trung, dài hạn thì chỉ xem
xét đưa vào nợ nhóm 01 khi DN đã trả đầy đủ (nợ ngắn hạn và nợ trung, dài
hạn) cả gốc và lãi số nợ đã được cơ cấu lại trong thời gian quy định trên, đồng
thời các kỳ hạn tiếp theo được đánh giá là có khả năng trả đầy đủ nợ gốc, lãi
đúng hạn đã được cơ cấu lại..
Nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) bao gồm
Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Các khoản nợ điều chỉnh
kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là DN, tổ chức thì tổ chức tín dụng
phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi
đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm
Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại
có thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
phân loại vào nhóm 2; Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm
Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Các
khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn
trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại
lần đầu; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ
lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Các khoản nợ

chúng ta so sánh khả năng cho vay và huy động vốn của một NH.
1.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
Được xác định bằng doanh số thu nợ trên dư nợ bình quân của một
NHTM trong thời gian nhất định, thường là một năm.
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.3):
Vòng quay vốn tín dụng =
Doanh số thu nợ
(1.3)
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Dư nợ bình quân
Đây là chỉ tiêu phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay (thường là 1
năm). Chỉ tiêu này càng tăng thì tính tổ chức, quản lý tín dụng càng tốt, chất
lượng cho vay càng cao. Tuy nhiên, chỉ tiêu này chỉ phản ánh một cách tương
đối, vì nếu một NHTM này cho vay các DN sản xuất chiếm tỷ trọng lớn dư nợ,
thì chỉ tiêu này thấp hơn NHTM khác cho vay các DN thương mại. Như vậy,
không vì thế mà chất lượng cho vay của NHTM này kém hơn. Từ thực tế trên,
để có nét tương đối chính xác về chất lượng tín dụng thì các tiêu thức tính toán
phải thống nhất, vòng quay tín dụng phải tính toán cho từng loại vay, thời hạn
vay và từng đối tượng vay cụ thể.
1.2.2.4. Chỉ tiêu lợi nhuận
Chỉ tiêu này được tính theo công thức (1.4) dưới đây:
Lợi nhuận =
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
(1.4)
Tổng dư nợ tín dụng
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của NHTM chiếm từ 70%-85% tổng lợi
nhuận của NHTM. Nếu lợi nhuận của một NH nào đó tăng lên hàng năm, điều
đó chứng tỏ chất lượng tín dụng được nâng lên. Chỉ tiêu này phản ánh khả

được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
Bao gồm các nhân tố như: Chính sách tín dụng, công tác tổ chức, chất
lượng cán bộ, quy mô vốn của NH, thông tin tín dụng, quy trình nghiệp vụ tín
dụng...
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là một hệ thống biện pháp có liên quan đến việc
khuyếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt được mục tiêu đã hoạch
định của NHTM đó.
Do đó, việc hoạch định chính sách tín dụng có ý nghĩa quyết định đến sự
thành công hay thất bại của mỗi NH. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thu
hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng
dựa trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ chấp hành đúng luật pháp và đường lối
của NH nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội. Bất kỳ một NH nào muốn nâng
Nhâm Thị Phương Thảo Lớp NHH – K9
25

Trích đoạn Nguyên nhân chủ quan Định hướng chung Mở rộng và duy trì, thiết lập mối quan hệ lâu dài đối với các khách hàng Kiến nghị đối với Nhà nước Kiến nghị với Chính quyền địa phương
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status