GVHD: PGS. TS. Đào Văn Hùng Chuyên đề thực tập
MỤC LỤC
Tổng tiền...............................................................................................................................23
Tổng tiền...............................................................................................................................23
Tổng Tiền..............................................................................................................................23
SVTH: Nguyễn Hồng Hải
GVHD: PGS. TS. Đào Văn Hùng Chuyên đề thực tập
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài nền kinh tế Việt Nam đang còn nhiều
tiềm năng phát triển, đang được coi là miền đất hứa vẫy gọi họ đầu tư. Các nhà đầu
tư Hàn Quốc, Nhật Bản, Tây Âu, Mỹ …đang và đã đầu tư vào Việt Nam và ngành
Ngân hàng là một trong các lĩnh vực họ ưa thích.Các ngân hàng đang hình thành nên
một hệ thống ngân hàng năng động trong hoạt động tài chính của nền kinh tế giúp
cho mạch máu tiền tệ lưu thông dễ dàng vào các doanh nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển.
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các ngân hàng nói riêng và của các
trung gian tài chính nói chung, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu
nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất. Để hạn chế được
phần nào rủi ro đó, việc phân tích, kiểm tra và nghiên cứu kỹ lưỡng về pháp lý của
khách hàng vay vốn và phương án vay trước khi ra quyết định cuối cùng là rất quan
trọng.
Nhận thấy tầm quan trọng của công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với doanh
nghiệp tại ngân hàng, qua thời gian thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
chi nhánh Đà Nẵng, em đã chọn nghiên cứu đề tài:” HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG HẢI- CHI NHÁNH HÀ NỘI
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài tìm hiểu về thực trạng công tác thẩm định tín dụng ngắn hạn đối với
doanh nghiệp tạôi MSB- HN. Từ đó đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa
hiệu quả của công tác này.
SVTH: Nguyễn Hồng Hải
2
GVHD: PGS. TS. Đào Văn Hùng Chuyên đề thực tập
CHƯƠNG I
MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG
NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG VỚI HOẠT ĐỘNG CHO VAY.
1.1.1 Khái niệm ngân hàng.
Từ hàng ngàn năm trước công nguyên khi manh nha hình thành nghề ngân
hàng, hoạt động ngân hàng vô cùng đơn giản. Họ chỉ nhận bảo quản tiền và được trả
thù lao bảo quản, đổi tiền đúc và an hoa hồng đổi tiền. Cùng với sự phát triển sản
xuất, lưu thông hàng hoá, hoạt động ngân hàng đã phát triển thêm một bước là sử
dụng tiền bảo quản đó để cho vay. Ngày nay hệ thống ngân hàng đã phát triển một
mức cao, hoạt động ngân hàng ngày càng phong phú hơn như đầu tư vào chứng
khoán, tài trợ xuất nhập khẩu, đầu tư vào các dự án…
Mỗi một quốc gia có những khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại,
nhưng nhìn chung ngân hàng thương mại là các tổ chức kinh doanh tiền, đồng thời
thực hiện 3 nhiệm vụ sau:
- Nhận tiền gửi.
- Thực hiện tài trợ thông qua cấp tín dụng.
- Đóng vai trò là trung gian thanh toán.
- Theo điều 20, bộ luật “ tổ chức tín dụng ”(đã được sửa đổi bổ sung năm 2000)
định nghĩa: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Trong đó, các tổ chức tín dụng
là những doanh nghiệp được thành lập để hoạt động kinh doanh tiền tệ, gồm nội dung
nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Khái niệm hoạt động cho vay.
Hoạt động cho vay là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho
vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay, trong đó bên cho vay
chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả
vốn vay đúng như mục đích đã cam kết hay không? Điều này rất quan trọng vì việc
sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng lớn đến khả năng thu hồi
SVTH: Nguyễn Hồng Hải
4
GVHD: PGS. TS. Đào Văn Hùng Chuyên đề thực tập
nợ vay sau này, Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay đồng thời giúp khách hàng đảm bảo khả năng trả
nợ cho ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và cũng
cố quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
1.1.3.3. Vốn vay phải có tài sản đảm bảo.
Như ta đã biết hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng
nhiều rủi ro. Mặc dù trước khi quyết định cho vay ngân hàng phải trải qua các khâu
thu thập, xử lý, phân tích và thẩm định kỹ khả năng trả nợ của khách hàng nhưng vẫn
chưa thể hạn chế rủi ro tín dụng một cách thấp nhất. Do vậy, đảm bảo tiền vay có thể
sử dụng như là một trong những cách thức nhằm gia tăng khả năng thu hồi nợ và
giảm thiểu rủi ro tín dụng.
Thực hiện nguyên tắc này giúp cho ngân hàng thu hồi lại vốn một khi khách
hàng không tuân theo hợp đồng tín dụng. Vì vậy các loại vật tư hàng hóa, tài sản đảm
bảo thế chấp phải có giá trị, dễ phát mãi và được thị trường chấp nhận.
1.1.4. Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng.
Do đặc điểm luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp tại thời điểm nào đó
làm cho doanh nghiệp thiếu vốn lưu động cần thiết phải bổ sung. Lý do thiếu vốn lưu
động là dòng tiền đi vào nhưng đi ra không khớp về thời gian và quy mô. Do vậy vay
ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp (chủ yếu đáp
ứng nhu cầu tồn kho và khoản phải thu)
1.1.4.1. Khái niệm.
Tín dụng ngắn hạn là loại hình tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, thường được
sử dụng để bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu hụt của doanh nghiệp và cho vay
phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân.
1.1.4.2. Đặc điểm tín dụng ngắn hạn
Đặc điểm của phương thức cho vay từng lần:
- Cho vay theo từng đối tượng cụ thể như nguyên vật liệu, bán thành phẩm,
thành phẩm hoặc tài trợ cho các khoản phải thu.
- Số tiền vay được xác định trên cơ sở các chứng từ mua hàng như hợp đồng
kinh tế, hóa đơn,…hoặc bảng kê thành phẩm tồn kho. Ngân hàng có thể cho vay toàn
bộ nhu cầu vốn để khách hàng thực hiện phương án sản xuất kinh doanh hoặc có thể
SVTH: Nguyễn Hồng Hải
6
GVHD: PGS. TS. Đào Văn Hùng Chuyên đề thực tập
chỉ tham gia một phần.
- Định kỳ hạn nợ cho từng lần vay cụ thể dựa vào dự báo lưu chuyển tiền tệ,
thời gian hoàn vốn, hạng rủi ro của doanh nghiệp.
- Điều kiện giải ngân là khách hàng phải xuất trình các giấy tờ cần thiết để
chứng minh nhu cầu rút vốn của mình là hợp lý và phù hợp với đối tượng vay đã ghi
trên hợp đồng tín dụng. Tiền vay có thể giải ngân một lần hoặc nhiều lần tùy thuộc
vào tiến độ thực hiện phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng nhưng thông
thường được quy định rõ trong hợp đồng tín dụng.
- Nguồn trả nợ cho Ngân hàng trong phương thức cho vay từng lần chính là
nguồn thu từ phương án sản xuất kinh doanh, và các nguồn tài chính khác theo cam
kết.
- Áp dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp không có quan hệ tín dụng thường
xuyên.
b. Cho vay theo hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là giới hạn dư nợ cho vay tối đa mà ngân hàng có thể cung
cấp cho một khách hàng trong một thời hạn nhất định.
Phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng áp dụng đối với khách hàng
thường xuyên có nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động, mục đích sử dụng vốn rõ ràng
và có tín nhiệm với Ngân hàng (có khả năng tài chính, sản xuất kinh doanh ổn định,
có lãi, trong thời gian một năm trước đó không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín
dụng).
nền kinh tế.
- Tín dụng ngắn hạn là tiền đề để Ngân hàng mở rộng và phát triển các nghiệp
vụ khác như huy động vốn, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ.
- Tín dụng ngắn hạn góp phần cũng cố chế độ hạch toán kinh tế.
1.1.5. Rủi ro trong cho vay ngắn hạn của ngân hàng.
Rủi ro trong cho vay ngắn hạn là việc ngân hàng cho vay nhưng không thu hồi
được nợ gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn theo thỏa thuận. Nếu ngân hàng cho vay các
khoản vay có lợi nhuận càng cao thì rủi ro ngân hàng có khả năng gặp phải càng lớn.
Trên thực tế có nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro trong cho vay ngắn hạn,
nhưng có thể phân nhóm các nguyên nhân chủ yếu sau:
SVTH: Nguyễn Hồng Hải
8