BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGÔ TIẾN ĐẠT
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THANH TRA VÀ
KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn Ngô Tiến Đạt Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến giáo viên hướng dẫn khoa
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.2.1 Mục tiêu chung 1
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THANH TRA, KIỂM
TRA THUẾ 3
2.1 Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế 3
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế 3
2.1.2 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế 9
2.1.3 Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 13
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Kinh nghiệm thanh tra và kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp ở
một số nước trên thế giới 18
2.2.2 Kinh nghiệm thanh tra và kiểm tra thuế đối với các Doanh nghiệp
ở Việt Nam 26
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
2.2.3 Bài học kinh nghiệm Thanh tra kiểm tra thuế đối với doanh
nghiệp của tỉnh Bắc Giang: 32
2.3 Những nghiên cứu trước có liên quan 35
3 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 38
4.3.8 Các nguyên nhân khác 79
4.4 Một số giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối vơi
các doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới 81
4.4.1 Quan điểm, định hướng hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra
thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Bắc Giang. 81
4.4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với các
doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới 84
5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC Báo cáo tài chính
DN Doanh nghiệp
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
NNT Người nộp thuế
QLN Quản lý nợ
QLT Quản lý thuế
TINC Ứng dụng tin C
TNCN Thu nhập cá nhân
TTr Thanh tra
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
Thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng quan trọng nhất
của quản lý thuế, bởi vì thanh tra, kiểm tra thuế là cách thức cơ bản để cơ quan
thuế cảnh báo, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những gian lận thuế. Thanh tra,
kiểm tra thuế cũng giúp phát hiện những bất hợp lý trong chính sách thuế và
pháp luật thuế để nghiên cứu bổ sung, sửa đổi kịp thời nhằm phát huy tốt nhất
vai trò của thuế trong việc đảm bảo số thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế. Bởi vậy, muốn nâng cao hiệu quả quản lý thuế, một trong những
việc mà cơ quan thuế các cấp phải làm là thường xuyên hoàn thiện và nâng cao
hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
Trong những năm qua, ngành Thuế tỉnh Bắc Giang đã hoàn thành khá
tốt nhiệm vụ thu ngân sách, tốc độ tăng trưởng năm sau luôn cao hơn năm
trước. Trong kết quả chung của ngành Thuế tỉnh Bắc Giang có phần đóng góp
không nhỏ của công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Tuy nhiên, công tác thanh tra,
kiểm tra thuế tại Cục thuế tỉnh Bắc Giang vẫn còn những hạn chế nhất định,
cần nghiên cứu hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Đặc
biệt, tại Văn phòng Cục thuế tỉnh Bắc Giang nơi quản lý số thu của các doanh
nghiệp vừa và lớn của tỉnh, công tác thanh tra, kiểm tra thuế tuy đã có nhiều cố
gắng song vẫn còn những bất cập, chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện
công tác thanh tra và kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp tại Cục thuế
tỉnh Bắc Giang” .
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với
các doanh nghiệp tại Cục thuế tỉnh Bắc Giang trong những năm gần đây, đề xuất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 2
giải pháp hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế cho Cục thuế trong thời
gian tới.
2.1 Lý luận chung về thanh tra, kiểm tra thuế
2.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
2.1.1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong công tác quản lý
thuế nói chung và việc đảm bảo tính tuân thủ pháp luật thuế của người nộp
thuế. Thanh tra, kiểm tra thế được hiểu là hoạt động do cơ quan thuế tiến hành
nhằm xác định tình hình tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.
Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình
hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ,
yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về
tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng kiểm tra.
Thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ chức chuyên trách làm công
tác kiểm tra của cơ quan thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện,
ngăn chặn và xử lý những hành vi trái pháp luật.
Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế.
Thông qua các phương pháp phân tích, đánh giá tình hình thực tế của đối
tượng thanh tra, kiểm tra, hoạt động thanh tra, kiểm tra giúp phát hiện,
ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật thuế, góp phần thúc đẩy các tổ
chức, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Từ đó, công tác
quản lý thuế được hoàn thiện, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích hợp pháp của công dân.
Dù có những điểm tương đồng nhưng thanh tra, kiểm tra thuế có những
điểm khác nhau cơ bản:
- Chủ thể thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuế.
Chủ thể thanh tra thuế là tổ chức thanh tra chuyên trách của Nhà nước, còn đối
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
tượng thanh tra thuế là đối tượng quản lý của Nhà nước. Nhưng chủ thể kiểm tra
+ Thanh tra, kiểm tra thuế bất thường: Đây là một trong những hình
thức chủ yếu của thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố
cáo của công dân; thường được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp
trên, cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra.
- Theo yếu tố phạm vi:
+ Thanh tra, kiểm tra từng phần: thường được áp dụng với một sắc
thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp.
+ Thanh tra, kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công
tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế
với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế.
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
+ Thanh tra, kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế): Công tác kiểm tra các
hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh được
thực hiện tại cơ quan thuế.
+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc thanh tra, kiểm
tra được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế; cho phép cán bộ thanh tra,
kiểm tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở như sổ sách
chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản phẩm tồn kho thực tế…
2.1.1.3. Đặc điểm của thanh tra, kiểm tra thuế
Thanh tra, kiểm tra thuế là một lĩnh vực đặc thù với những đặc điểm cơ
bản sau đây:
- Phạm vi hoạt động của thanh tra, kiểm tra thuế rộng. Bởi đối tượng
thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ là các tổ chức, cá nhân trong cơ quan thuế,
mà còn bao gồm mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh
của các luật thuế.
- Thanh tra, kiểm tra thuế là công tác rất khó khăn, phức tạp vì nó ảnh
hưởng trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các đối tượng thanh tra, kiểm tra. Các
đối tượng nộp thuế thường xuyên tìm mọi biện pháp nhằm che đậy hành vi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
Page 7
Nguyên tắc trung thực đòi hỏi hoạt động thanh tra, kiểm tra phải phản
ánh đúng bản chất của sự vật, hiện tượng; khi có đủ căn cứ mới được phép
đưa ra quyết định. Quyết định đưa ra không vì quyền lợi cá nhân; đồng thời
phải tỷ mỷ, cẩn thận và có kiến thức chuyên môn vững vàng.
- Nguyên tắc công khai, dân chủ
Tính công khai được thể hiện ở những vấn đề như: công khai quyết
định thanh tra, tiếp xúc công khai với các đối tượng có liên quan và công bố
công khai kết luận thanh tra, kiểm tra. Trong tùy trường hợp cụ thể, việc xác
định phạm vi công khai và hình thức công khai cho phù hợp để đảm bảo giữ
gìn bí mật quốc gia, bí mật người tố cáo, đảm bảo lợi ích của nhà nước và
công dân, đảm bảo hiệu quả thanh tra, kiểm tra cao nhất.
Tính dân chủ trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thể hiện sự tôn trọng
khách quan, tôn trọng quần chúng, lấy dân làm gốc. Điều đó đòi hỏi phải coi
trọng việc tiếp nhận, thu thập ý kiến của mọi đối tượng có liên quan, tạo điều
kiện cho đối tượng thanh tra, kiểm tra được trình bày ý kiến của mình.
- Nguyên tắc tuân thủ kế hoạch và quy trình
Quy trình của hoạt động thanh tra, kiểm tra là xây dựng và chuẩn hóa
nội dung, các bước công việc trong hoạt động thanh tra, kiểm tra, trách nhiệm
của từng bộ phận, từng cán bộ tham gia quy trình.
Thực hiện theo quy trình giúp công tác thanh tra, kiểm tra thuế được
thuận lợi, công việc thực hiện theo chuyên môn, không thiếu sót trong quá
trình thanh tra, kiểm tra. Quy trình thanh tra, kiểm tra hợp lý sẽ tạo hiệu quả
cao trong quá trình thanh tra, kiểm tra.
Việc xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế một cách
hợp lý giúp nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế. Bởi vậy, việc
xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra theo kế hoạch
được coi là một trong những nguyên tắc quan trọng cần tuân thủ đối với hoạt
động thanh tra, kiểm tra thuế.
thực hiện thường xuyên đối với nội bộ cơ quan thuế. Hoạt động thanh tra,
kiểm tra thường xuyên hàng năm thường được tiến hành tại trụ sở của người
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
nộp thuế đối với những người nộp thuế được xếp vào nhóm rủi ro cao.
+ Thanh tra, kiểm tra thuế bất thường: Đây là một trong những hình
thức chủ yếu của thanh tra trong lĩnh vực xét và giải quyết đơn khiếu nại, tố
cáo của công dân; thường được tiến hành theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp
trên, cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra hay do lãnh đạo đơn vị đặt ra.
- Theo yếu tố phạm vi:
+ Thanh tra, kiểm tra từng phần: thường được áp dụng với một sắc
thuế nhất định hoặc một phần của quy trình thu nộp.
+ Thanh tra, kiểm tra toàn phần: Áp dụng trên toàn diện các mặt công
tác của một cơ quan thuế, một cá nhân hay toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế
với tất cả các sắc thuế có liên quan của một đối tượng nộp thuế.
- Theo địa điểm tiến hành thanh tra, kiểm tra:
+ Thanh tra, kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế): Công tác kiểm tra các
hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở kinh doanh được
thực hiện tại cơ quan thuế.
+ Thanh tra, kiểm tra tại cơ sở kinh doanh: Công việc thanh tra, kiểm
tra được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế; cho phép cán bộ thanh tra,
kiểm tra tiếp cận với tình hình thực tế, tài liệu cụ thể của cơ sở như sổ sách
chứng từ kế toán, quỹ tiền mặt thực tế, sản phẩm tồn kho thực tế…
2.1.2 Phương pháp thanh tra, kiểm tra thuế
Phương pháp thanh tra, kiểm tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát
huy hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra. Những phương pháp được sử dụng
trong công tác thanh tra, kiểm tra bao gồm: Phương pháp vận dụng kỹ thuật
quản lý rủi ro; phương pháp đi từ tổng hợp đến chi tiết; phương pháp đối chiếu,
so sánh; các phương pháp kiểm tra chứng từ gốc; các bổ trợ. Cụ thể như sau:
từ chất lượng của hoạt động thanh tra, hay là từ các quy định của pháp luật,
chất lượng của quy trình, trình độ cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế.
- Rủi ro thanh tra (AR): Là rủi ro mà các báo cáo tài chính gian lận
được chấp nhận như các báo cáo tài chính trung thực. Rủi ro thanh tra tổng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
thể chịu sự tác động của ba nhân tố IR, CR và DR:
AR = IR * CR * DR
Quản lý rủi ro là một quá trình nhận diện, đánh giá, phân tích để có
phương án giải quyết một cách có hệ thống nhằm tối đa hóa khả năng xảy ra
khi có hiệu quả tích cực và tối thiểu hóa khả năng xảy ra khi có hiệu quả tiêu
cực. Quản lý rủi ro có thể được hiểu là quá trình lựa chọn và thực hiện các
giải pháp trong bối cảnh nguồn lực có hạn để giảm thiểu nguy cơ xấu đe dọa
đến sự thành công của tổ chức. Quản lý rủi ro cũng là một quá trình đo lường
hay đánh giá về quy mô và tính chất nghiêm trọng của một sự việc, một hiện
tượng, một vấn đề, trên cơ sở đó lập chiến lược quản lý rủi ro. Như vậy, điều
quan trọng trong quản lý rủi ro là dành ưu tiên mọi nguồn lực vào quản lý
những rủi ro có thể xảy ra tổn thất lớn nhất và những rủi ro có nhiều khả năng
xảy ra nhất, tiếp đến là quản lý những rủi ro có tổn thất thấp hơn và ít có khả
năng xảy ra hơn.
Việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trong thanh tra, kiểm tra thực chất
là việc phân loại, đánh giá người nộp thuế dựa trên hệ thống những tiêu thức
rủi ro về thuế nhằm xác định những người nộp thế có mức độ tuân thủ thấp và
khả năng gian lận cao về thuế để tập chung nguồn lực thanh tra, kiểm tra theo
nguyên tắc ưu tiên nguồn lực thanh tra, kiểm tra những người nộp thuế có thể
mang lại tổn thất lớn nhất và những sai phạm có nhiều khả năng xảy ra nhất.
2.1.2.2. Phương pháp đối chiếu, so sánh
Phương pháp đối chiếu, so sánh là phương pháp nghiệp vụ được sử
dụng chủ yếu trong suốt quá trình tiến hành một cuộc thanh tra, kiểm tra thuế.
- Phương pháp quan sát: Là quan sát trực tiếp, kín đáo và không gây trở
ngại những công việc có liên quan đến nội dung thanh tra tại hiện trường.
- Phương pháp phỏng vấn: Nhằm thu thập thông tin từ những người có
quan hệ trực tiếp đến nội dung thanh tra.
- Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần (phương pháp phối hợp
kiểm tra nhiều nguồn): Theo phương pháp này, số liệu được đối chiếu với
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
nhiều nguồn, nhiều nguồn thông tin để kiểm tra đảm bảo khớp đúng sự việc.
Cán bộ kiểm tra phải có văn bản xác nhận về từng phần việc đã được xác
minh, trên cơ sở xác nhận từng phần để đi đến xác nhận toàn bộ.
- Phương pháp toán học như số học, toán kinh tế… nhằm tính toán đối
chiếu và tổng hợp số liệu.
2.1.3. Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp
Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế là trình tự và các bước công việc và
thời gian thực hiện cụ thể, lô-gich và chặt chẽ, bắt buộc công chức thuế phải
tuân thủ khi thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra thuế.
Để cụ thuế hoá các quy định về công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo
quy định của Luật Quản lý thuế, hiện nay cơ quan thuế các cấp tại Việt Nam
đang thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế theo 02 quy trình, đó là: Quy
trình thanh tra thuế và Quy trình kiểm tra thuế. Cụ thể như sau:
Quy trình thanh tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số 460/QĐ-
TCT ngày 05 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
Nội dung chính quy định về việc thực hiện các công việc:
+ Lập kế hoạch thanh tra năm:
o Bước 1. Thu thập, khai thác thông tin dữ liệu về người nộp thuế.
o Bước 2. Đánh giá, phân tích để lựa chọn đối tượng lập kế
hoạch thanh tra.
o Bước 3. Trình, duyệt kế hoạch thanh tra thuế năm.
Quy trình kiểm tra thuế ban hành kèm theo Quyết định số 528/QĐ-TCT
ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế.
Nội dung chính quy định về việc thực hiện các công việc:
+ Công tác kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ thuế tại cơ quan
thuế gồm các bước:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15
o Duyệt và giao nhiệm vụ kiểm tra hồ sơ khai thuế;
o Kiểm tra hồ sơ thuế tại cơ quan thuế;
o Xử lý kết quả kiểm tra hồ sơ khai thuế tại trụ sở cơ quan thuế.
+ Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế:
o Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế;
o Lập biên bản kiểm tra;
o Xử lý kết quả kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế;
o Tổng hợp, báo cáo và lưu giữ tài liệu kiểm tra thuế.
2.1.3.1. Đối với kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế
Cơ quan thuế thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ khai
thuế (Tờ khai thuế và các phụ lục của tờ khai theo quy định của pháp luật),
đối chiếu với cơ sở dữ liệu của người nộp thuế và tài liệu có liên quan về
người nộp thuế, để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường
hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế.
2.1.3.2. Thanh tra và kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
Căn cứ vào quyết định thanh tra, kiểm tra thuế, đoàn kiểm tra phải thực
hiện quá trình tập hợp và phân tích rủi ro các thông tin chuyên sâu tại cơ quan
thuế, nhằm kiểm tra tính xác thực đối với các hồ sơ khai thuế, báo cáo tài
chính, các nghi vấn cần doanh nghiệp cung cấp thêm thông tin hoặc những
nội dung nghi ngờ cần tiếp xúc với doanh nghiệp để làm rõ (thông tin chung
về doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức hạch toán, liên doanh
liên kết, đối tác kinh doanh, hợp đồng mua bán hàng, tăng giảm tài sản, biên
- Thực hiện lập hồ sơ chứng lý thanh tra, kiểm tra. Hồ sơ chứng lý được
coi là tài liệu gốc để lập biên bản thanh tra, kiểm tra, gồm: các biên bản ghi
nhận kết quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các
bức ảnh, đoạn băng ghi lại những việc làm sai của doanh nghiệp (phân tán
kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài liệu ).
- Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ
tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ