Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn đối với dNNqd tại Ngân hàng công thương chi nhánh cầu giấy - Pdf 67

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn đối với dNNqd tại
Ngân hàng công thương chi nhánh cầu giấy
I. Phương hướng phát triển hoạt động tín dụng của Ngân hàng Công thương Chi nhánh Cầu Giấy
3.1. Mục tiêu phấn đấu toàn Chi nhánh:
Năm 2006 chi nhánh phấn đấu tự cân đối được vốn kinh doanh, nâng cao
chất lượng tín dụng bảo đảm đầu tư an toàn hiệu quả, phát triển đa dạng dịch vụ
Ngân hàng.
 Tổng nguồn vốn huy động 1.350 tỷ đồng
 Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế 1.350 tỷ đồng
Trong đó : + Dư nợ cho vay trung và dài hạn 40% tổng dư nợ
+ Tỷ lệ cho vay DNNN 50% tổng dư nợ
 Tỷ lệ cho vay không có bảo đảm bằng tài sản 45%
 Tỷ lệ nợ xấu ( nhóm 3, 4 và 5) dưới 3%
 Lợi nhuận chưa trích dự phòng rủi ro: 64 tỷ đồng
(trong đó thu hồi nợ đã được xử lý rủi ro 40,6 tỷ đồng).
3.2. Phương hướng tổ chức thực hiện công tác tín dụng:
• Đối với công tác tín dụng
 Củng cố và nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng, chất lượng thẩm
định cho vay, thực hiện nghiêm túc cơ chế tín dụng của NHCT, đặc biệt chú
trọng các khâu thủ tục hồ sơ, quy trình cấp tín dụng, quản lý tín dụng, kiểm soát
tiền vay. Rà soát, đánh giá, phân loại khách hàng, tập trung vốn đầu tư cho
khách hàng có tiềm lực tài chính, kinh doanh có hiệu quả đồng thời cương
quyết giảm dư nợ đối với khách hàng kinh doanh không hiệu quả.
 Đổi mới cơ cấu tín dụng theo hướng : Tăng tỷ trọng cho vay có bảo
đảm bằng tài sản có tính thanh khoản cao. Đẩy mạnh cho vay bằng ngoại tệ
nhằm khai thác tối đa nguồn vốn ngoại tệ tại chỗ. Mở rộng cho vay đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
 Thường xuyên tổ chức học tập nâng cao trình độ cho cán bộ tín dụng,
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của từng cán bộ tín dụng đối với quá trình đầu tư
tín dụng.
 Tập trung chỉ đạo, bằng mọi biện pháp thu hồi nợ quá hạn, nợ gia hạn,

gian qua cho thấy chất lượng tín dụng chưa tốt, hiệu quả tín dụng chưa cao, tỷ lệ
nợ quá hạn còn cao, bình quân những năm gần đây khoảng 5% và chưa có khuynh
hướng giảm vững chắc, khả năng xảy ra rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn. Vì vậy nâng
cao chất lượng tín dụng là vấn đề bức xúc đối với các NHTM. Để làm đảm bảo
tính chính xác của thông tin cần thu thập số liệu từ nhiều nguồn khác nhau, đồng
thời phải tổ chức tốt việc xử lý thông tin nhằm chọn lọc những thông tin chính xác,
thiết thực nhất.
Hiện nay, sự hình thành phát của hệ thống thông tin tín dụng CIC (Credit
Information Center) đã góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống
tiền tệ Ngân hàng và phát triển mở rộng tín dụng, Nhờ chia sẻ tốt thông tin tín
dụng, việc cho vay được phát triển thuận lợi cho cả người vay thông qua việc thu
thập thông tin từ các TCTD và cung cấp thông tin trở lại cho các TCTD để phục vụ
kinh doanh tín dụng.
Việc sử dụng thông tin từ trung tâm thông tin tín dụng CIC cho phép Ngân
hàng nói chung và Ngân hàng Công thương Cầu Giấy nói riêng đã giúp giảm sự
không cân xứng về thông tin giữa người đi vay và người cho vay, cho phép Ngân
hàng đánh giá rủi ro chính xác hơn và cải thiện chất lượng đầu tư, dễ dàng tư vấn,
chọn lựa phương án và giảm chi phí tín dụng cho người vay tốt, từ đó tăng chất
lượng tín dụng và góp phần phát triển kinh tế.
Ngoài ra, việc chia sẻ tín dụng nói riêng do việc chia sẻ thông tin giữa các
TCTD nên đã góp phần giảm thiểu rủi ro tín dụng. Có thể nói đến nay không còn
hiện tượng khách hàng có vấn đề nhưng vẫn đi vay ở nhiều Ngân hàng cùng một
lúc với số tiền lên tới hàng nghìn tỷ đồng, hoặc thành lập công ty con để đồng thời
vay ở nhiều TCTD như trường hợp EPCO – Minh Phụng năm 1994, góp phần đảm
bảo an toàn của hệ thống Ngân hàng.
3.2. Đổi mới cơ chế cho vay đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh:
Nguyên tắc quan trọng đặt lên hàng đầu trong cho vay là “an toàn và hiệu
quả” thực tế trong công tác cho vay đã xảy ra một số mâu thuẫn cần giải quyết hài
hoà là tăng cường doanh số cho vay, tăng dư nợ nhưng phải đảm bảo tỷ lệ nợ quá
hạn. Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày

với chu kỳ kinh doanh của khách hàng và tuổi thọ của máy móc thiết bị. Mỗi khách
hàng có một chu kỳ sản xuất kinh doanh khác nhau do đó đối với từng loại hình
kinh doanh của khách hàng mà Ngân hàng tiến hành cho vay với kỳ hạn phù hợp.
Theo quy định hiện hành thì cho vay trung hạn không quá 5 năm, dài hạn là trên 5
năm nhưng Ngân hàng không nên gò ép thời hạn cho vay theo chủ quan gây khó
khăn cho khách hàng.
• Về lãi suất cho vay:
Lãi suất cho vay là vấn đề không chỉ Ngân hàng quan tâm mà các khách
hàng cũng luôn chú ý, là điểm hội tụ của nhiều mối quan hệ liên quan trực tiếp tới
lợi ích vật chất của các bên. Lãi suất cho vay phụ thuộc nhiều yếu tố khác. Hiện
nay hầu hết các Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Công thương Chi nhánh Cầu
Giấy đã thực hiện nhiều loại lãi suất linh hoạt cho từng loại khách hàng nhưng vẫn
còn sự phân biệt đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Điều này không
khuyến khích DNNQD vay vốn làm nhu cầu về vốn của khách hàng thuộc thành
phần kinh tế này. Ngân hàng Công thương Cầu Giấy nền mở rộng cho vay
DNNQD thông qua việc sử dụng lãi suất “mềm” hơn cho thành phần kinh tế này
có thể vay vốn kinh doanh và có lãi. Ngân hàng có thể áp dụng mức lãi suất linh
hoạt theo mức vốn vay.
• Về cơ chế đảm bảo tiền vay:
Có rất nhiều hình thức đảm bảo tiền vay như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh, ký
quỹ tiền gửi. Hiện nay các Ngân hàng ở Việt nam nói chung và Ngân hàng Công
thương Chi nhánh Cầu Giấy nói riêng mới chỉ áp dụng hình thức bảo đảm bằng tài
sản thế chấp là chủ yếu. Trong khi đó các khách hàng thuộc khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh hầu như có tài sản giá trị thấp, thậm chí họ còn không có tài sản đáng
kể để đem đi thế chấp do đó học không có điều kiện để vay vốn nhất là các nguồn
vốn lớn. Vì vậy Ngân hàng nên kết hợp nhiều hình thức bảo đảm khác nhau để giải
quyết cho vay đối với các đơn vị như vậy.
- Đối với đơn vị được bảo lãnh tín dụng một phần và đủ tài sản thế chấp phần
còn lại thì yêu cầu đơn vị thực hiện bảo đảm thu nợ theo yêu cầu.
- Đối với những đơn vị được bảo lãnh tín dụng một phần và tài sản thế chấp

bằng loại tài sản này.
- Bảo lãnh cũng là hình thức nhiều ưu điểm giúp cho các đơn vị vừa và nhỏ mới
thành lập có điều kiện vay vốn Ngân hàng. Tuy nhiên ở nước ta hoạt động bảo
lãnh vẫn còn hạn hẹp và quy chế bảo lãnh chưa đầy đủ. Đặc biệt đối với
DNNQD như hiện nay vẫn chưa có cơ quan quản lý nào quản lý và đỡ đầu.
Do vậy cần có những chính sách, quy chế cụ thể để phát huy tốt nhất những
ưu thế của hình thức bảo lãnh.
- Ngoài ra còn có những hình thức bảo đảm bằng các khoản phải thu, hàng tồn
kho, các hợp đồng. Các hình thức này đòi hỏi thủ tục hành chính và sự giám
sát thường xuyên.
- Mạnh dạn áp dụng cho vay không có bảo đảm đối với những khách hàng đủ
điều kiện theo quy định.
Mỗi hình thức bảo đảm đều có những ưu và nhược điểm riêng, tuy nhiên
việc sử dụng chúng một cách tổng hợp và linh hoạt để chúng bù đắp và bổ sung
cho nhau thì sẽ tạo điều kiện cho DNNQD tiếp cận được nguồn vốn mà vẫn đảm
bảo an toàn cho Ngân hàng.
• Về phương thức cho vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status