Dự án khởi sự doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ nhập khẩu tại thị trường Việt Nam - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
DỰ ÁN KHỞI SỰ DOANH NGHIỆP KINH DOANH NHẠC
CỤ NHẬP KHẨU TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện : Hoàng Thanh Hiếu
Lớp : Anh 1
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Đặng Thị Lan


tốt sẽ giúp tăng nhiều lần khả năng thành công của ý tưởng. 1
Nhận định của ông Hajime Nakamura, trường bộ phận Marketing khu vực Asia Paciffic của Yamaha
Coporation, Japan, phụ trách trực tiếp thị trường Việt Nam trong buổi họp ngày 22/11/2007 tại Công ty Sao
Việt.
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 2
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lí luận về khởi sự doanh nghiệp , những điều cần
biết và chuẩn bị để đưa doanh nghiệp đi vào hoạt động.
- Nghiên cứu và phân tích tình hình cùng với xu hướng phát triển của
thị trường nhạc cụ tại thời điểm hiện tại và trong 3 năm sắp tới để xác định
phương án đầu tư.
- Đưa ra các giải pháp để xây dựng và phát triển công ty vững mạnh
trong tương lai xa.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của khoá luận này là nghiên cứu về những vấn đề liên quan
đến việc xây dựng và đưa một doanh nghiệp đi vào hoạt động.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp thống kê và phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phân tích, điều tra thị trường thông qua bảng câu hỏi và
quan sát.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở bài và kết luận, đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về khởi sự doanh nghiệp
- Chương 2: Dự án khởi sự doanh nghiệp kinh doanh nhạc cụ nhập

NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM DOANH NGHIỆP
1. Một số quan điểm về doanh nghiệp.
Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là
một doanh nghiệp (DN), mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung
nhất định với một giá trị nhất định. Điều ấy cũng là đương nhiên, vì rằng mỗi
tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để
phát biểu. Có thể thấy có 4 quan điểm chính về DN như sau:
1.1 Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư
cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt
động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ
hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu
sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi [12, tr.11]
1.2 Xét theo quan điểm chức năng: doanh nghiệp được định nghĩa như sau:
"Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các
yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân
viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng
hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm
với giá thành của sản phẩm ấy. [3]
1.3 Xét theo quan điểm phát triển thì "doanh nghiệp là một cộng đồng người
sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những
thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 5
ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt
qua được " [1]
1.4 Xét theo quan điểm hệ thống thì " doanh nghiệp bao gồm một tập hợp
các bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục

kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội.” [13]
- Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức kinh doanh có tư cách pháp
nhân:
Tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp thể hiện ở chỗ nó có con
dấu riêng, tên riêng, kế toán trưởng và có tài sản tách bạch rõ ràng với tài sản
của chủ doanh nghiệp. Tư cách pháp nhân là điều kiện cơ bản quyết định sự
tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân, nó do Nhà nước khẳng
định và xác định. Việc khẳng định tư cách pháp nhân của doanh nghiệp với tư
cách là một thực thể kinh tế, một mặt nó được nhà nước bảo hộ với các hoạt
động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với người tiêu
dùng, nghĩa vụ đóng góp với nhà nước, trách nhiệm đối với xã hội. Đòi hỏi
doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài chính trong việc thanh
toán những khoản công nợ khi phá sản hay giải thể.
- Doanh nghiệp là một tổ chức sống trong một thể sống (nền kinh tế
quốc dân) gắn liền với địa phương nơi nó tồn tại:
Doanh nghiệp là một tổ chức sống vì lẽ nó có quá trình hình thành từ
một ý chí và bản lĩnh của người sáng lập (tư nhân, tập thể hay Nhà nước), quá
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 7
trình phát triển thậm chí có khi tiêu vong, phá sản hoặc bị một doanh nghiệp
khác thôn tính. Vì vậy cuộc sống của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào chất
lượng quản lý của những người tạo ra nó. Doanh nghiệp ra đời và tồn tại luôn
luôn gắn liền với một vị trí của một địa phương nhất định, sự phát triển cũng
như suy giảm của nó ảnh hưởng đến địa phương đó.
3. Mục đích và mục tiêu của Doanh Nghiệp
Doanh nghiệp cần tồn tại, phát triển và đảm bảo tính bền vững, điều
đơn giản là không có một doanh nghiệp nào tồn tại vĩnh cửu nếu doanh
nghiệp đó không xác định được mục đích và mục tiêu hoạt động cho chính

doanh nghiệp được mua lại, đại lý đặc quyền và thừa hưởng doanh nghiệp gia
đình. [1]
1. Tạo lập doanh nghiệp mới
Thông thường, việc tạo lập một doanh nghiệp mới xuất phát từ ba lý
do sau:
- Nhà kinh doanh đã xác định được dạng sản phẩm (dịch vụ) có thể thu
được lãi.
- Nhà kinh doanh có những điều kiện lý tưởng trong việc lựa chọn địa
điểm kinh doanh, phương tiện sản xuất kinh doanh, nhân viên, nhà cung ứng,
ngân hàng
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 9
- Lựa chọn hình thức doanh nghiệp mới có thể tránh được các hạn chế
nếu mua lại một doanh nghiệp có sẵn hoặc làm đại lý đặc quyền.
- Để tạo lập một doanh nghiệp mới, điều vô cùng quan trọng là tìm
được một cơ hội, tạo được một ưu điểm kinh doanh có khả năng cạnh tranh
được với các doanh nghiệp khác – đó chính là cơ hội kinh doanh thực sự.
Nguồn gốc của ý tưởng dẫn đến việc tạo lập doanh nghiệp thường là:
- Từ kinh nghiệm nghề nghiệp tích luỹ được ở doanh nghiệp khác.
- Sáng chế hoặc mua được bằng sáng chế để sản xuất sản phẩm mới
- Từ những ý tưởng bất ngờ xuất hiện trong khi làm việc khác hoặc
đang vui chơi giải trí.
- Từ các tìm tòi nghiên cứu.
Sau khi đã có ý tưởng, sáng kiến trên, việc hoàn thiện một ý tưởng kinh
doanh sẽ có ý nghĩa quyết định thành công. Việc hoàn thiện một ý tưởng kinh
doanh, đó chính là đi đến một dự án kinh doanh. [1, tr25]
2. Mua lại một doanh nghiệp sẵn có.
Việc mua lại một doanh nghiệp sẵn có xuất phát từ 3 lý do:

quyền và đại lý đặc quyền. Giá trị của hợp đồng là ở chỗ: người làm đại lý
đặc quyền có được nhiều hay ít đặc quyền.
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 11
Những đặc quyền này có thể là được dùng tên hiệu, hoặc biển hiệu của
người nhượng đặc quyền, cũng có thể được sử dụng cả hệ thống tiếp thị của
người này .Tuy nhiên, đại lý đặc quyền cũng vẫn được coi là doanh nghiệp
độc lập, trong đó có quyền tự thuê mướn nhân công, tự điều khiển hoạt động
kinh doanh. Thông thường có 3 loại hệ thống đại lý đặc quyền:
- Người nhượng quyền là nhà sản xuất - sáng lập trao quyền bán sản
phẩm cho người đại lý là nhà buôn sỉ.
- Người nhượng quyền là nhà buôn sỉ và đại lý nhà bán lẻ
- Người nhượng quyền là nhà sản xuất, sáng lập và đại lý là nhà bán lẻ,
hệ thống này rất thông dụng hiện nay, như đại lý bán ô tô, trạm xăng, đại lý
mỹ phẩm.
Đại lý đặc quyền có những lợi thế sau:
- Được quyền dùng những nhãn hiệu đã nổi tiếng
- Được người nhượng quyền huấn luyện kinh doanh
- Được người nhượng quyền làm công việc quảng cáo
- Được người nhượng quyền bảo đảm cung cấp hàng hoá và có thể
cung cấp tài chính
Những lợi thế trên đây của đại lý đặc quyền chính là những điều mà
việc tạo lập một doanh nghiệp mới hay mua lại một doanh nghiệp có sẵn
thường gặp khó khăn. Tuy nhiên, đại lý đặc quyền cũng thường chịu 3 giới
hạn như sau:
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp
III- CÁC KIỂU CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
Cơ cấu tổ chức quản trị doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận (đơn vị
và cá nhân) khác nhau, có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được
chuyên môn hoá và có những trách nhiệm, quyền hạn nhất định, được bố trí
theo những cấp, những khâu khác nhau nhằm bảo đảm thực hiện các chức
năng quản trị và phục vụ mục đích chung đã xác định của doanh nghiệp. [10]
1. Cơ cấu quản trị trực tuyến
Đây là cơ cấu tổ chức đơn giản nhất, trong đó có một cấp trên và một
số cấp dưới. Toàn bộ vấn đề được giải quyết theo một kênh liên hệ đường
thẳng. Cấp lãnh đạo trực tiếp điều hành và chịu toàn bộ trách nhiệm về sự
hoạt động của tổ chức (xem hình 1).
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến [10]

Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 14
Cơ cấu tổ chức trực tuyến khá phổ biến ở cuối thế kỷ XIX và chủ yếu
được áp dụng ở những doanh nghiệp nhỏ, sản phẩm không phức tạp, tính chất
sản phẩm liên tục, hoặc các tổ chức bộ môn của trường đại học v.v Ngày
nay, kiểu cơ cấu này vẫn còn được áp dụng, đặc biệt đối với các tổ chức có
quy mô nhỏ: tổ, nhóm, băng tổ chức nhỏ v.v
Đặc điểm cơ bản của cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến là người lãnh
đạo tổ chức thực hiện tất cả các chức năng quản trị, các mối liên hệ giữa các
thành viên trong tổ chức được thực hiện theo đường thẳng, người thừa hành
mệnh lệnh chỉ làm theo mệnh lệnh của một cấp trên trực tiếp. Với những đặc
điểm đó, cơ cấu này tạo thuận lợi cho việc thực hiện chế độ một thủ trưởng,
người lãnh đạo phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả công việc của
người dưới quyền.
Tuy nhiên, kiểu cơ cấu tổ chức này cũng có những nhược điểm. Nó đòi

Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 16
- Giảm chi phí và rút ngắn thời gian đào tạo
- Tạo ra các biện pháp kiểm tra chặt chẽ của cấp cao nhất
Nhược điểm của cơ cấu quản lý theo chức năng:
- Chỉ có cấp quản lý cao nhất có trách nhiệm vè hiệu quả cuối cùng của
toàn thể công ty
- Qua chuyên môn hóa và tạo ra cách nhìn quá hẹp với các cán bộ chủ
chốt
- Hạn chế sự phát triển của người quản lý chung
- Gặp nhiều khó khăn khi cần có sự phối hợp giữa các chức năng
3. Cơ cấu tổ chức quản lý theo trực tuyến – chức năng
Do cơ cấu tổ chức quản lý theo trực tuyến và cơ cấu quản lý theo chức
năng có những ưu nhược điểm riêng nên hiện nay nhiều doanh nghiệp và tổ
chức lựa chọn kiểu cơ cấu quản lý theo trực tuyến – chức năng, tức là một cơ
cấu quản lý kết hợp (xem hình 3)
Hình 3: Sơ đồ cơ cấu trực tuyến - chức năng [10]

Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 17
Ưu điểm: Theo cơ cấu này người lãnh đạo doanh nghiệp được sự giúp
sức của người lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và
kiểm tra việc thực hiện quyết định. Người lãnh đạo doanh nghiệp vẫn chịu
trách nhiệm về mọi mặt công việc và toàn quyền quyết định trong phạm vi
doanh nghiệp. Việc truyền mệnh lệnh vẫn theo tuyến đã quy định.
Nhược điểm: Tuy nhiên người lãnh đạo doanh nghiệp phải giải quyết

hợp đồng hay nghĩa vụ được phân giao.
Nhóm đề án được bảo đảm về nhân viên, những nguồn tài chính và vật
chất cần thiết. Sau khi thực hiện đề án, nhóm này giải tán. Người lãnh đạo đề
án chịu trách nhiệm hoàn toàn từ khi bắt đầu đến khi kết thúc.
Quản trị theo đề án thường được áp dụng trong những điều kiện có sự
thay đổi nhanh chóng và sâu sắc về kỹ thuật và công nghệ sản xuất.
* Cơ cấu chức năng - ma trận
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 19
Trong cơ cấu này bộ phận mới được tạo thành có vai trò kiểm tra và
thúc đẩy các bộ phận sản xuất sản phẩm của mình, chịu trách nhiệm về chất
lượng của sản phẩm hay công trình.
Để sản xuất sản phẩm mới doanh nghiệp thành lập bộ phận sản xuất
mới. Bộ phận sản xuất mới này được cung cấp các nguồn tài chính và vật
chất.
Ưu điểm của cơ cấu ma trận: có tính năng động cao; dễ dàng chuyển
các nhân viên từ việc thực hiện một dự án này sang việc thực hiện một dự án
khác; sử dụng nhân viên có hiệu quả hơn.
Nhược điểm kiểu cơ cấu này là nó thường chỉ áp dụng để thực hiện các
mục tiêu ngắn hạn và trung hạn mà thôi.
Cơ cấu ma trận còn được áp dụng rộng rãi ở các viện nghiên cứu và các
trường đại học.
IV- XÂY DỰNG KẾ HOẠCH KINH DOANH CHO DOANH NGHIỆP
KHỞI SỰ
Khi một ý tưởng kinh doanh được nghĩ ra trong đầu thì việc viết ra giấy
một bả kế hoạch kinh doanh là vô cùng cần thiết để có thể chứng minh tính
khả thi của ý tưởng kinh doanh trong việc khởi sự doanh nghiệp mới hoặc mở
rộng doanh nghiệp hiện có. Nếu kế hoạch kinh doanh không được chuẩn bị kỹ

trong một khoảng thời gian. Nó mô tả việc kinh doanh của công ty đã thành
công tới đâu và tìm kiếm những triển vọng để phát triển và thành công.
Không có phương pháp đúng hay sai nào trong việc soạn thảo ra một kế
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 21
hoạch kinh doanh. Một kế hoạch kinh doanh tốt là một tài liệu có tính sáng
tạo, phản ánh bản chất của một cơ sở và cho người đọc một bức tranh rõ ràng
về việc cơ sở này đang đi đến đâu. Số lượng các chi tiết và cơ cấu phụ thuộc
nhiều vào bản chất của cơ sở, và có thể quan trọng nhất là người lắng nghe
(nhà đầu tư, các cán bộ quản lý của công ty, các đối tác kinh doanh,v.v ) [15]
3. Kết cấu và nội dung của một bản kế hoạch kinh doanh
Một bản kế hoạch kinh doanh điển hình thường phải bao gồm được 7
phần chính như sau [16] :
 Phần giới thiệu
 Miêu tả hoạt động kinh doanh
 Thị trường
 Sản phẩm và dịch vụ
 Bán hàng và Marketing
 Nguồn nhân lực và cơ cấu tổ chức
 Kế hoạch tài chính
3.1 Giới thiệu về bản kế hoạch
Bao gồm việc nêu bật từng phần của bản kế hoạch, những dự định cơ
bản của công ty, các sản phẩm chủ yếu, cách thức thâm nhập thị trường đối
với các đối tượng khách hàng và các nhu cầu về vốn cho công ty.
Phần mục tiêu của công ty cũng cần phải được nêu rõ trong phần này
gồm:
- Hoạt động của công ty
- Các mục tiêu của công ty

- Quy mô và xu hướng thị trường
- Cạnh tranh
- Doanh số ước tính
3.4. Sản phẩm và dịch vụ
Phần này sẽ dùng để mô tả hiện trạng sản phẩm và dịch vụ của công ty
cùng với kế hoạch của công ty để phát triển hoàn thiện chúng. Đây cũng là
phần để giúp người đọc của làm quen với cách thức tạo ra sản phẩm của công
ty và cách thức phục vụ khách hàng của công ty.
Phần này phải có đủ chi tiết về chi phí phát triển sản phẩm, địa điểm và
yêu cầu nhân công. Để mình hoạ rõ ràng hơn thì các mẫu báo cáo tài chính,
bao gồm chi phí hoạt động, giá vốn hàng hoá, và lưu chuyển tiền tệ là vô cùng
cần thiết:
- Hiện trạng phát triển sản phẩm
- Chu trình sản xuất
- Chi phí phát triển
- Yêu cầu về nhân công
- Các yêu cầu về chi phí và vốn
3.5. Bán hàng và Marketing
Trong bản kế hoạch kinh doanh, phần này sẽ nêu rõ chiến lược và các
thủ thuật sẽ sử dụng để khiến khách hàng mua sản phẩm hoặc dịch vụ của
công ty. Một kế hoạch Bán hàng và Marketing vững mạnh sẽ giúp công ty có
Hoàng Thanh Hiếu – Anh 1 – K44 Luật KDQT Khoá Luận Tốt Nghiệp 24
một định hướng rõ ràng và nó là một đảm bảo cho các nhà đầu tư tiềm năng
tin rằng công ty đang có một kế hoạch khả thi và có đủ các nguồn lực để xúc
tiến bán các sản phẩm và dịch vụ của mình. Phần kế hoạch Bán hàng và
Marketing sẽ gồm 3 mục chính:
- Chiến lược


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status