Một số Giải pháp đảm bảo nguồn vốn đầu tư nhằm đạt được mục tiêu phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 ở vùng Tây Bắc - Pdf 13

Lời mở đầu
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói "một dân tộc dốt là một dân tộc yếu".
Vì thế mà ngay từ khi mới giành đợc độc lập, nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà đã
đặc biệt coi trọng đến vấn đề phát triển giáo dục với chủ trơng xây dựng một nền
giáo dục tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc thông qua việc mở các lớp xoá mù
chữ, bình dân học vụ, mở trờng dạy chữ quốc ngữ cho ngời dân. Ngày nay, Đảng
và Nhà nớc cũng rất chú trọng đến phát triển giáo dục. Nghị quyết Trung ơng 2
khoá VIII đã xác định vị trí, vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục - đào tạo,
khẳng định đầu t cho giáo dục là đầu t cho phát triển ...
Để phát triển nguồn nhân lực con ngời nhằm đáp ứng yêu cầu của công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, việc thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở
có ý nghĩa chiến lợc rất căn bản. Nhất là trong điều kiện hội nhập nền kinh tế khu
vực và quốc tế, để có đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh, chất lợng nhân lực đóng
vai trò quyết định và học vấn trung học cơ sở phải là trình độ tối thiểu, cần thiết
của hầu hết những ngời lao động. Tuy nhiên, với một quốc gia đang phát triển và
còn nghèo nh nớc ta hiện nay thì vấn đề đầu t cho phổ cập giáo dục trung học cơ
sở là một vấn đề hết sức khó khăn bởi nguồn ngân sách Nhà nớc còn rất eo hẹp.
Do đó cần phải đa dạng hoá các nguồn vốn đầu t cho phổ cập giáo dục trung học
cơ sở, tăng cờng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nớc nhằm đạt đợc
mục tiêu do Nghị quyết Trung ơng 2 khoá VIII đề ra là : Hoàn thành phổ cập
giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010.
Nhận thức đợc ý nghĩa chiến lợc và tác động sâu sắc của công tác phổ cập
trung học cơ sở đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nớc, em đã chọn đề
tài:
Một số giải pháp đảm bảo nguồn vốn đầu t nhằm đạt đợc mục tiêu
phổ cập trung học cơ sở vào năm 2010 ở vùng Tây Bắc
Nội dung của chuyên đề gồm 3 chơng:
Chơng I: Vai trò của vốn đầu t trong phát triển giáo dục.
Chơng II: Thực trạng phát triển giáo dục cấp trung học cơ sở vùng Tây Bắc
trong thời gian qua.
Chơng III: Một số giải pháp đảm bảo nguồn vốn đầu t nhằm đạt đợc mục

giáo dục tiến bộ, toàn diện và đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy sự phát triển
của bản thân giáo dục. Mặt khác, giáo dục phát triển là một trong những điều
kiện tiên quyết cho tiến bộ kinh tế - xã hội. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ hai
chiều này cũng chính là sự xác định đúng vai trò, tầm quan trọng của giáo dục
đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngày nay, hầu nh đứng trên trờng phái nào,
ngời ta cũng đều nhất trí cho rằng một chính sách phát triển kinh tế - xã hội hiện
đại là chính sách phát triển "bằng con ngời và vì con ngời". Giáo dục là một
trong những công cụ chủ yếu để thực hiện chính sách này và do vậy một trong
những mục tiêu quan trọng của giáo dục là phát triển chất lợng nguồn nhân lực
và giải pháp quan trọng để thực hiện thành công chiến lợc đó là thực hiện xã hội
hoá giáo dục.
1.2. Phân loại hoạt động giáo dục:
Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam đợc tổ chức liên tục, gắn khả năng
và nhu cầu hiện tại cũng nh xu hớng phát triển tơng lai của nền kinh tế và xã hội
Việt Nam, đồng thời phù hợp với đặc điểm của truyền thống của văn hoá dân tộc
và xu thế phát triển của thời đại.
Hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay bao gồm:
- Giáo dục mầm non: Giáo dục mầm non là bậc học đặc biệt, nơi nuôi d-
ỡng và dạy trẻ em trớc 6 tuổi đến trờng. Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp
trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ hình thành những yếu tố
đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp 1.
- Giáo dục phổ thông: Giáo dục phổ thông VN với hệ thống 12 năm, tiếp
nhận học sinh từ 6 đến 18 tuổi. Nhiệm vụ của giáo dục phổ thông là cung cấp cho
học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông vững chắc, toàn diện, đồng thời giáo
dục thái độ và chuẩn bị cho học sinh kỹ năng lao động để bớc vào cuộc sống lao
động hoặc tiếp tục học tập tiếp.
- Giáo dục nghề nghiệp: Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo ngời lao
động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức kỷ luật .... cần thiết để ngời học
có khả năng làm việc đáp ứng yêu cầu của xã hội.
- Giáo dục đại học và sau đại học: Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là:

2.2.1. Hoạt động giáo dục có tính chất vợt lên trớc hoạt động kinh tế.
Tính chất vợt lên trớc của sự phát triển giáo dục có liên quan với nhu cầu
của hoạt động kinh tế và các hoạt động xã hội khác. Giáo dục là hoạt động bồi d-
ỡng tố chất của con ngời. Đây cũng là một trong những điều kiện tiên quyết để
phát triển các hoạt động kinh tế. Để có nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh
tế - xã hội trong hiện tại và tơng lai thì phải có sự đào tạo, bồi dỡng và học tập từ
trớc, song học tập và đào tạo là cả một quá trình lâu dài, không thể một sớm một
chiều mà có đợc. Do vậy để phát triển kinh tế - xã hội cần phải phát triển giáo
dục từ trớc. Đây là một đặc điểm riêng có và đặc trng của hoạt động giáo dục.
2.2.2. Hoạt động giáo dục có tính chất liên tục và lâu dài.
Do đặc thù của hoạt động giáo dục là truyền đạt tri thức do việc đào tạo,
dạy ngời học phải đợc tiến hành một cách có hệ thống, trải qua các bớc tuần tự từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Quá trình này đợc tiến hành thờng xuyên
và đòi hỏi phải mất một thời gian lâu dài. Ví dụ nh để hoàn thành chơng trình
giáo dục phổ thông thì học sinh phải trải qua các lớp học từ lớp 1 đến lớp 12 với
giả định mỗi năm một lớp thì mất tới 12 năm mới hoàn thành chơng trình học
phổ thông.
2.2.3. Hoạt động giáo dục có tính chất phục vụ hoạt động kinh tế.
Ngày nay, khoa học - kỹ thuật ngày càng trở thành lực lợng sản xuất quan
trọng, đầu t nhân lực có ý nghĩa quyết định tới tăng trởng kinh tế. Còn việc đầu t
nhân lực có hiệu quả lớn hay nhỏ, mấu chốt là ở trình độ và sự phát triển của giáo
dục. Vì vậy, mặc dù xếp giáo dục vào phạm trù xã hội nhng tính kinh tế của giáo
dục là có thể nhìn thấy đợc. Thông qua giáo dục, các loại nhân tài nắm đợc tri
thức văn hoá và kỹ thuật chuyên môn phù hợp với đòi hỏi phát triển kinh tế. Từ
đó, hình thành đợc năng lực sản xuất to lớn, thúc đẩy kinh tế phát triển.
2.3. Đặc điểm của hoạt động giáo dục:
Dới giác độ kinh tế học và trong điều kiện của nền kinh tế thị trờng, hoạt
động giáo dục - đào tạo đợc coi là một trong những lĩnh vực cung cấp hàng hóa
dịch vụ công cộng cho xã hội. Bởi vì sản phẩm của giáo dục là cung cấp các kiến
thức và kỹ năng cho ngời học, đây là sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng

khác nhau nh: thi tuyển chọn, chế độ học phí .... Với đặc điểm này cho phép hoạt
động giáo dục không chỉ đợc cung cấp bởi Nhà nớc mà còn có thể đợc cung cấp
bởi khu vực t nhân.
Thứ hai, dới giác độ tiêu dùng, sản phẩm của hoạt động giáo dục không
những không bị tiêu dùng mất đi mà ngợc lại chúng luôn đợc đổi mới, bổ sung.
Tri thức kỹ năng của con ngời ngày càng đợc tích luỹ, kế thừa, phát huy, đổi mới
và bổ sung thêm từ thế hệ này sang thế hệ khác, làm cho sản phẩm của hoạt động
giáo dục ngày càng thêm phong phú. Với ngời đợc truyền thụ các kiến thức và
các kỹ năng đó, mà ngợc lại chúng đợc vận dụng, ứng dụng ... lâu dài trong quá
trình lao động sau này của ngời đợc đào tạo. Thậm chí các kiến thức, các kỹ năng
ban đầu đợc trau dồi, bổ sung, đổi mới từng bớc đợc hoàn thiện hơn để ngời lao
động ngày càng phát huy năng lực tốt trong công việc của họ.
Từ những đặc điểm của hoạt động giáo dục trên đây, có thể rút ra một số
nhận xét sau:
Một là, kho tàng kiến thức và kỹ năng của nhân loại là vô tận, mỗi ngời
chỉ có thể tiếp thu một lợng nhất định các kiến thức, kỹ năng thích hợp nào đó t-
ơng ứng với khả năng, tâm sinh lý học của bản thân, các điều kiện kinh tế - xã
hội cho phép và đòi hỏi những năng lực khác mà xã hội đặt ra cho từng ngời.
Chính vì vậy, xã hội phải có trách nhiệm tổ chức các cơ sở giáo dục đào tạo tơng
ứng với nhiều loại bậc học, ngành nghề khác nhau. Mỗi ngời căn cứ vào khả
năng, điều kiện của bản thân và nhu cầu của xã hội để lựa chọn bậc học, ngành
nghề thích hợp nhằm mục đích có đợc năng lực lao động tốt nhất phục vụ cho xã
hội sau khi đợc học tập.
Hai là, hoạt động giáo dục vừa đặt cơ sở nền tảng để ngời học tiếp thu các
kiến thức, kỹ năng ... vừa giúp ngời học hoàn thiện và phát huy năng lực của
mình lâu dài trong quá trình lao động sản xuất. Đó là quá trình "đào tạo - tự đào
tạo và đào tạo lại" diễn ra một cách thờng xuyên và suốt đời đối với ngời lao
động.
Ba là, đầu t các điều kiện cần thiết cho hoạt động giáo dục có thể nói là
trách nhiệm chung của toàn xã hội, nhng vai trò chủ đạo phải thuộc về Nhà nớc.

học phí quá cao vì ngời học hiện tại cha tạo ra thu nhập. Sau quá trình học tập,
ngời học có năng lực làm việc, tạo ra thu nhập, sẽ trích một phần thu nhập để trả
chi phí cho giáo dục - đào tạo (nộp thuế cho Nhà nớc, phụng dỡng "bố mẹ già
yếu" đã có công nuôi ăn học...)
Năm là, các cơ sở sử dụng lao động đã đợc đào tạo phải có nghĩa vụ trả
chi phí cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Xã hội đào tạo năng lực cho ngời lao
động, các cơ sở sử dụng lao động khai thác các năng lực đó và thu đợc các nguồn
lợi cho mình. Vậy thì họ cũng phải có nghĩa vụ trích một phần nguồn lợi (lợi
nhuận) để trang trải chi phí cho hoạt động giáo dục - đào tạo mà xã hội đã bỏ ra
trớc đây. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật của kinh tế thị trờng. Cơ chế
tốt nhất để các cơ sở sử dụng lao động hoàn trả chi phí cho hoạt động giáo dục -
đào tạo là nộp thuế cho Nhà nớc (thuế quỹ lơng, thuế thu nhập doanh nghiệp...)
Tóm lại, trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, hoạt động giáo dục về mặt
kinh tế học cũng là một lĩnh vực cung cấp các hàng hoá dịch vụ công cộng cho
xã hội. Do đó, cần phải có những nhận thức và đối xử đúng đắn để lĩnh vực này
cung cấp các hàng hoá dịch vụ công cộng với chất lợng ngày càng tốt hơn, thoả
mãn nhu cầu của xã hội và đảm bảo phát triển một cách bền vững.
3. Vai trò của hoạt động giáo dục trong phát triển kinh tế - xã hội.
3.1. Giáo dục với tái sản xuất dân số và việc làm:
3.1.1. Giáo dục với tái sản xuất dân số:
Tái sản xuất dân số bao gồm cả mặt số lợng và chất lợng. Tốc độ tăng dân
số và chất lợng dân số chịu tác động bởi nhiều yếu tố trong đó tác động của giáo
dục là vô cùng quan trọng.
Khi nhận thức của con ngời đợc nâng cao, tuổi lập gia đình tăng lên. Đó là
một nguyên nhân làm mức sinh giảm xuống và là một yếu tố làm tỷ lệ tăng dân
số giảm. Ví dụ: tuổi lập gia đình ở các nớc Nam Phi tăng mạnh chủ yếu nhờ kết
quả của việc đi học. Giáo dục có ảnh hởng đến nhiều mặt của tính cách, trong tr-
ờng hợp đối với phụ nữ thì bao gồm cả thái độ với việc sinh đẻ. Nhiều nghiên cứu
cho thấy, trình độ học vấn của phụ nữ có mối quan hệ tỷ lệ nghịch với sự sinh đẻ
của họ (phụ nữ càng học nhiều càng có xu hớng đẻ ít con), họ muốn đẻ ít con

vô hình" của đội ngũ lao động, khó thích ứng với yêu cầu mới của sự phát triển
kinh tế. Với t cách là biện pháp làm cho ngời ta có đợc kỹ năng chuyên môn, đổi
mới tri thức, giáo dục là một trong những điều kiện cần thiết khiến sức lao động
có đầy đủ việc làm.
3.2. Giáo dục gắn bó chặt chẽ với thu nhập và tiêu dùng:
Nói chung mức độ cao, thấp của trình độ học vấn tỷ lệ thuận với thu nhập
tiền bạc của cá nhân. Thu nhập của ngời lao động trí óc tơng đối cao hơn thu
nhập của ngời lao động chân tay. Đối với những ngời lao động có khả năng học
hết bậc trung học và đại học thì họ có cơ hội tìm kiếm những công việc tốt với
mức thu nhập cao hơn những ngời lao động mới học hết một phần hoặc hết bậc
tiểu học, và mức chênh lệch về tiền lơng giữa hai nhóm ngời lao động này có thể
đạt cỡ 300 đến 800%. ở Việt Nam, trong thời gian vừa qua có sự đảo lộn tình t-
ơng quan trên, xuất hiện hiện tợng "học càng nhiều, càng nghèo". Hiện tợng này
chẳng những bất lợi cho sự phát triển của giáo dục mà còn có thể trở thành trở
ngại chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội, ngăn cản, làm chậm sự tiến bộ của
khoa học - kỹ thuật nớc ta. Thờng xuyên so sánh mức thu nhập của các nghề
nghiệp, kịp thời uốn nắn những sai lệch mới có thể kích thích sự nhiệt tình không
ngừng học tập của mỗi công dân, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nhanh chóng phát
triển.
Tỷ trọng chi phí giáo dục trong tổng chi phí tiêu dùng của mọi ngời có thể
đợc thể hiện ở trình độ nhận thức và mức độ khát khao đợc giáo dục của mọi ng-
ời ở các lứa tuổi khác nhau và ở các lĩnh vực, nghề nghiệp khác nhau. Chi tiêu
cho giáo dục thuộc chi tiêu cho đời sống văn hoá, tinh thần, mức chi tiêu này
tăng theo mức thu nhập của dân c. Nói chung, khi thu nhập thấp, tỷ trọng chi tiêu
cho đời sống vật chất tơng đối lớn. Theo đà nâng cao mức thu nhập, tỷ trọng chi
tiêu cho giáo dục tăng nhanh nhất. Nh vậy, giáo dục là nội dung quan trọng làm
phong phú đời sống văn hoá, tinh thần của mọi ngời, nhất là trong xã hội phát
triển, việc coi trọng giáo dục sẽ làm cho mọi ngời sẵn sàng đầu t nhiều hơn vào
sự nghiệp giáo dục.
3.3. Giáo dục có tác động tích cực đến sự nghiệp y tế, văn hoá, thể

riêng.
- Nhằm tạo điều kiện cho các thế hệ lao động trẻ có trình độ văn hoá tối
thiểu nhất định có thể đi vào các nghề kỹ thuật phổ thông có thể chuyển đổi
nghề khi cần thiết để đảm bảo đời sống và hạnh phúc bản thân và gia đình.
- Sự nâng cao trình độ dân trí lên trung học cơ sở là điều kiện quan trọng
để xây dựng một xã hội có văn hoá, có kỷ cơng đảm bảo công bằng xã hội và
hạnh phúc cho nhân dân. Đồng thời đây cũng là điều kiện quan trọng để nớc ta
phát triển một cách toàn diện về kinh tế và xã hội tiến kịp, hoà nhập với các nớc
tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.
1.4. Các điều kiện đảm bảo phổ cập giáo dục trung học cơ sở:
1.4.1. Về tài chính:
Các nguồn tài chính dùng để thực hiện phổ cập trung học cơ sở bao gồm:
ngân sách Nhà nớc; học phí, tiền đóng góp xây dựng trờng, lớp; các khoản tài trợ
của các tổ chức, cá nhân trong nớc, ngoài nớc và các nguồn thu hợp pháp khác
(nếu có) theo quy định pháp luật, trong đó ngân sách Nhà nớc giữ vai trò chủ
yếu.
1.4.2. Về giáo viên:
Giáo viên các trờng trung học cơ sở, trung tâm giáo dục thờng xuyên,
trung tâm kỹ thuật tổng hợp hớng nghiệp và các cơ sở giáo dục khác tham gia
giảng dạy tại các lớp phổ cập trung học cơ sở nếu cha đạt trình độ chuẩn đợc đào
tạo theo quy định điểm b khoản 1 điều 67 của luật giáo dục thì có trách nhiệm
học tập và đợc cơ quan quản lý giáo dục trực tiếp tạo điều kiện học tập. Giáo viên
khi tham gia giảng dạy ở các lớp bổ túc giáo dục trung học cơ sở dành cho đối t-
ợng phổ cập giáo dục trung học cơ sở không có điều kiện học tập theo phơng
thức chính quy đợc hởng thù lao theo quy định của Bộ tài chính.
1.4.3. Về cơ sở vật chất kỹ thuật:
Các địa phơng phải đảm bảo để các trờng trung học cơ sở có đủ các điều
kiện về phòng học, phòng thí nghiệm, phòng hoặc bãi tập luyện thể dục thể thao;
tạo điều kiện để các trung tâm giáo dục thờng xuyên, trung tâm kỹ thuật tổng
hợp hớng nghiệp có đủ cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết nhằm tổ chức

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp trung học cơ sở có vị trí và vai trò
đặc biệt. Vì đây là cấp học nối tiếp bậc tiểu học với độ tuổi học sinh từ 11 đến 15
tuổi, lứa tuổi bắt đầu bớc vào độ tuổi lao động, với mục tiêu trang bị cho học sinh
vốn học vấn khá đầy đủ về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, xã hội, kỹ thuật làm
cơ sở để phát triển và hoàn thiện nhân cách. Từ đó có thể tiếp tục học ở cấp trung
học phổ thông, các ngành nghề thích hợp của trung học chuyên nghiệp hoặc có
năng lực để tiếp thu những tiến bộ khoa học công nghệ vận dụng vào sản xuất. Vì
vậy, sau khi hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học cần triển khai ngay công tác
phổ cập trung học cơ sở để củng cố và duy trì kết quả phổ cập tiểu học đã đạt đ-
ợc, tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
Trong thời đại ngày nay, không tạo đợc mặt bằng dân trí tối thiểu là trình
độ trung học cơ sở thì không thể tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc,
không thể hội nhập với các nớc trong khu vực và trên thế giới, đất nớc không thể
phát triển nhanh và bền vững.
Do đó, việc thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở nớc ta hiện nay
có ý nghĩa quan trọng và là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo
dục và đào tạo. Việc hoàn thành tốt công tác phổ cập giáo dục sẽ góp phần thiết
thực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng và của cả nớc.
III. Vốn đầu t và vai trò của vốn đầu t trong phát triển giáo
dục.
1. Khái niệm và phân loại vốn đầu t:
1.1. Khái niệm:
Trong tác phẩm "T bản", K.Marx đã dành phần quan trọng để nghiên cứu
về cân đối kinh tế, về mối quan hệ giữa hai khu vực của nền sản xuất xã hội để
đảm bảo quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng, về các vấn đề trực tiếp
liên quan đến tích luỹ.
Với những giả định về một nền kinh tế đóng, K.Marx đã chứng minh điều
kiện để đảm bảo quá trình tái sản xuất mở rộng không ngừng bằng cách chia nền
kinh tế thành hai khu vực: khu vực I sản xuất t liệu sản xuất và khu vực II sản

tiêu dùng tăng thêm do quy mô của nền sản xuất xã hội đợc mở rộng.
Để có d thừa về t liệu sản xuất, một mặt phải tăng cờng sản xuất t liệu sản
xuất ở khu vực I, mặt khác phải sử dụng tiết kiệm t liệu sản xuất ở cả hai khu
vực. Để có d thừa về t liệu tiêu dùng, một mặt phải tăng cờng sản xuất t liệu tiêu
dùng ở khu vực II, mặt khác phải thực hành tiết kiệm tiêu dùng trong sinh hoạt ở
cả hai khu vực.
Từ đó có thể rút ra kết luận: con đờng cơ bản và quan trọng về lâu dài để
tái sản xuất mở rộng là phát triển sản xuất và thực hành tiết kiệm ở cả trong sản
xuất và tiêu dùng.
Vấn đề này cũng đợc kinh tế học hiện đại chứng minh. Nếu gọi GDP là
tổng sản phẩm quốc nội, C là tiêu dùng (của cá nhân và của Chính Phủ), I là tiêu
dùng của doang nghiệp để bổ sung vốn cố định và vốn lu động (để đầu t ) thì:
GDP = C + I
Phần tiêu dùng I của doanh nghiệp chính là phần thừa ra (hay tiết kiệm)
không tiêu dùng đến từ GDP. Nếu gọi phần tiết kiệm này là S thì:
GDP = C + S
Từ đó suy ra: I = S
Nh vậy, tăng GDP cho phép tăng C+I hoặc C+S; trong đó S hoặc I càng
lớn sản xuất càng đợc mở rộng; đến lợt mình sản xuất càng mở rộng, GDP càng
tăng và càng có điều kiện để tăng tiêu dùng nâng cao đời sống của ngời lao động.
Trong điều kiện nền kinh tế mở: GDP = C + I + X - M
Trong đó: X- giá trị hàng hoá xuất khẩu
M- giá trị hàng hoá nhập khẩu
Mà: GDP = C + S
Vậy: S = I + X + M
Suy ra: I= S + M - X
I - S > 0 M - X > 0
S: tiết kiệm trong nớc
M-X: tiền đầu t từ nớc ngoài
Nh vậy, trong điều kiện nền kinh tế mở, nguồn vốn để đầu t ngoài tiết

sách vợt quá các khoản thu trong cân đối ngân sách Nhà nớc.
Khi đã có các khoản thu, Nhà nớc tiến hành chi tiêu để duy trì sự tồn tại và
phát triển kinh tế, thờng là vào các lĩnh vực chủ yếu sau:
- Chi cho các dự án kết cấu hạ tầng, bao gồm có hạ tầng kinh tế - kỹ thuật
và hạ tầng xã hội. Hạ tầng kinh tế - kỹ thuật gắn liền với các ngành sản xuất dịch
vụ, năng lợng, giao thông vận tải, cấp thoát và xử lý nớc.... Hạ tầng xã hội gắn
liền với các ngành giáo dục, văn hoá, y tế, kế hoạch hoá gia đình, an ninh quốc
phòng,.... Thờng thì các dự án này đòi hỏi số lợng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn
lâu, khả năng sinh lời thấp, t nhân ít đầu t buộc Nhà nớc phải đầu t để đảm bảo sự
ổn định cân đối của nền kinh tế.
- Chi cho việc hỗ trợ các dự án của doanh nghiệp đầu t vào lĩnh vực cần có
sự tham gia của Nhà nớc.
- Chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội của vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn.
Vốn đầu t từ ngân sách tham gia trực tiếp, đồng thời hỗ trợ làm vốn "mồi"
để thu hút nguồn vốn khác vào phát triển sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn vốn
đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.
1.2.1.2. Vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc:
Đây là một hình thức quá độ chuyển từ phơng thức cấp phát ngân sách
Nhà nớc sang phơng thức tín dụng đối với những dự án có khả năng thu hồi vốn
trực tiếp. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng vốn này phải đảm bảo nguyên
tắc hoàn trả vốn vay, nếu có lãi thì phải thanh toán lãi. Nguồn vốn này có tác
dụng làm giảm đáng kể sự bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nớc sang hình thức hỗ
trợ vốn cho các doanh nghiệp với lãi suất u đãi, góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, khuyến khích phát triển kinh tế
- xã hội của ngành, vùng, lĩnh vực theo định hớng chiến lợc của mình, thực hiện
mục tiêu tăng trởng kinh tế, phát triển xã hội ....
1.2.1.3. Vốn đầu t từ doanh nghiệp Nhà nớc:
Nguồn vốn này đợc hình thành từ nhiều nguồn bao gồm:
- Vốn chủ sở hữu và tiết kiệm của doanh nghiệp Nhà nớc

lực giữa các quốc gia trên thế giới). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự di chuyển
vốn quốc tế này là sự chênh lệch tỷ suất lợi nhuận so sánh giữa các nớc, có sự
gặp gỡ nhau về lợi ích giữa nớc nhận đầu t và nớc đi đầu t. Dòng vốn này diễn ra
dới nhiều hình thức. Mỗi hình thức có một đặc điểm, mục đích và điều kiện thực
hiện riêng. Theo tính chất lu chuyển vốn, có thể phân loại nguồn vốn nớc ngoài
thành:
1.2.2.1. Vốn đầu t gián tiếp nớc ngoài:
Đây là nguồn vốn của các tổ chức quốc tế, các Chính Phủ nớc ngoài, các
tổ chức phi Chính Phủ đợc thực hiện dới các hính thức khác nhau là viện trợ hoàn
lại, viện trợ không hoàn lại, cho vay u đãi với thời hạn dài và lãi suất thấp, kể cả
vay theo hình thức thông thờng. Một hình thức phổ biến của đầu t gián tiếp tồn
tại dới loại hình ODA - viện trợ phát triển chính thức của các nớc công nghiệp
phát triển. Nguồn vốn này có một số đặc điểm sau:
- Chủ sở hữu vốn không trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động sử
dụng vốn.
- Vốn đầu t gián tiếp thờng lớn, cho nên có tác dụng mạnh và nhanh đối
với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nớc nhận
đầu t.
- Thời hạn cho vay dài, lãi suất u đãi hơn so với các nguồn vốn khác (th-
ờng là 0,5% - 5%/ năm)
- Có ít nhất 25% tổng số vốn vay là không phải hoàn lại, gọi là thành tố hỗ
trợ.
- Các điều kiện ràng buộc tơng đối khắt khe, thờng ràng buộc về cơ chế
chính trị, cơ cấu chuyển đổi, cơ cấu vốn...
Do đặc điểm nh vậy mà vốn ODA thờng đợc dùng cho các dự án có thời
gian hoàn vốn lâu. Hiệu quả sử dụng vốn ODA gắn liền với tính khả thi của dự
án. Nếu không tính toán kỹ, dự án không khả thi thì chính ODA và các khoản tín
dụng u đãi sẽ dẫn tới nợ nần chồng chất.
1.2.2.2. Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI):
Đây là vốn của các doanh nghiệp và cá nhân nớc ngoài đầu t sang các nớc khác

2. Vai trò của vốn đầu t trong phát triển giáo dục:
2.1. Nguồn ngân sách Nhà nớc:
Trong cơ chế thị trờng, ngân sách Nhà nớc không còn là ngân sách của
toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhng trong tất cả các nguồn vốn đầu t cho hoạt
động giáo dục thì nguồn ngân sách Nhà nớc vẫn giữ vai trò chủ đạo và quan
trọng nhất, có tính chất quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển
sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Đợc thể hiện:
Thứ nhất, chi phát triển văn hoá - xã hội trong đó có sự nghiệp giáo dục -
đào tạo là một trong những nội dung cơ bản nhất của hoạt động chi ngân sách
Nhà nớc.
Đảng và Nhà nớc coi giáo dục - đào tạo là "quốc sách hàng đầu", vì vậy
đầu t cho hoạt động giáo dục - đào tạo cũng là u tiên hàng đầu và theo điều 89
của Luật giáo dục đã nêu rõ: "Nhà nớc dành u tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân
sách giáo dục, bảo đảm tỷ lệ ngân sách Nhà nớc chi cho giáo dục tăng dần theo
yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục". Bên cạnh đó, nền kinh tế đa thành
phần ở nớc ta mới đợc hình thành và phát triển, trong đó thành phần kinh tế quốc
doanh còn nhỏ bé nên sự đóng góp cho hoạt động giáo dục - đào tạo còn nhiều
hạn chế. Mặt khác, hệ thống trờng công của nớc ta còn chiếm tỷ lệ lớn, việc phát
triển các trờng bán công, dân lập cha nhiều, vấn đề "xã hội hoá sự nghiệp giáo
dục - đào tạo", đa dạng hoá các loại hình trờng, lớp cha đợc phổ biến rộng rãi, do
đó cha có khả năng thu hút đợc các nguồn đầu t khác cho sự nghiệp giáo dục -
đào tạo. Chính vì vậy, nguồn đầu t của ngân sách Nhà nớc trong những năm vừa
qua vẫn chiếm u thế trong tổng chi cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo theo định h-
ớng của Đảng, Nhà nớc trong chiến lợc phát triển chung của quốc gia.
Thứ hai, đầu t của ngân sách Nhà nớc nh: xây dựng cơ sở vật chất, tài liệu
phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu.... một mặt tạo điều kiện để tăng về số
lợng và từng bớc nâng cao chất lợng giáo dục - đào tạo. Mặt khác, đây cũng là cơ
sở ban đầu để khuyến khích các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội, các thành
phần kinh tế đóng góp nhằm thực hiện phơng châm: "Nhà nớc và nhân dân cùng
chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo".


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status