BỘ CÔNG THƯƠNG
VIỆN NGHIÊN CỨU DẦU VÀ CÂY CÓ DẦU BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
DẦU THỰC VẬT SẢN XUẤT TRONG NƯỚC
MÃ SỐ ĐỀ TÀI: 232.11.RD/ HĐ-KHCNCHỦ TRÌ THỰC HIỆN: Ks. VÕ BỬU LỢI
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO SỨC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
DẦU THỰC VẬT SẢN XUẤT TRONG NƯỚC
Thực hiện theo Hợp đồng đặt hàng sản xuất và cung cấp dịch vụ
sự nghiệp công nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
số 232.11.RD/HĐ-KHCN ngày 09/06/2011 giữa Bộ Công
Thương và Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu Chủ trì thực hiện: KS. Võ Bửu Lợi
Tham gia thực hiện: Ks. Bùi Thanh Bình
KS. Đặng Thị Thanh Hương
CN. Lê Thị Xuân Mai
CN. Huỳnh Đình Thạch
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12/2011
LỜI NÓI ĐẦU
Nền kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO đã có những phát triển
nguyên liệu cho ngành, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm.
MỤC LỤC
Danh sách các các bảng i
Danh sách các đồ thị và sơ đồ ii
Danh sách các từ viết tắt iii
Tóm tắt đề tài iv
MỞ ĐẦU 1
* Cơ sở pháp lý của đề tài 1
* Tính cấp thiết và mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1
* Đối tượng và nội dung nghiên cứu 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆ
U 3
1.1. Thị trường dầu thực vật thế giới 3
1.1.1. Giới thiệu về dầu thực vật 3
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dầu thực vật trên thế giới 3
1.1.3. Biến động giá cả dầu thực vật trên thế giới 5
1.2. Thị trường dầu thực vật (DTV) Việt Nam 6
CH
ƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM 8
2.1. Phương pháp tiến hành nghiên cứu 8
2.1.1. Phương pháp kế thừa 8
2.1.2. Phương pháp toán học 8
2.1.3. Phương pháp thực nghiệm 8
2.2. Thiết bị, dụng cụ, đối tượng và nhóm chuyên gia nghiên cứu 9
2.2.1. Thiết bị, dụng cụ và đối tượng 9
2.2.2. Nhóm chuyên gia nghiên cứu 9
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN 10
3.1. Điều tra xác định các nhóm sản phẩm DTV nhập khẩu vào Việt Nam 10
3.1.1. Nhóm nguyện liệu DTV thô nhập khẩu vào Việt Nam 10
3.4. Chiến lược và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh DTV sản xuất
trong nước 45
3.4.1. Ma trận SWOT để hình thành các chiến lược và giải pháp 45
3.4.2. Chiến lược nâng cao sức cạnh tranh DTV 46
3.4.2.1. Chi
ến lược mở rộng thị trường 46
3.4.2.2. Chiến lược phát triển sản xuất 48
3.4.2.3. Chiến lược phát triển vùng nguyên liệu và công nghệ 48
3.4.2.4. Chiến lược tài chính 48
3.4.2.5. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực 48
3.4.2.6. Chiến lược tận dụng các ưu đãi chính sách của nhà nước 48
3.4.2.7. Chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh 48
3.4.3. Các giải pháp nhằ
m thực hiện chiến lược phát triển và nâng cao
năng lực cạnh tranh của sản phẩm dầu thực vật 49
3.4.3.1. Giải pháp mở rộng thị trường 49
3.4.3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm 49
3.4.3.3. Giải pháp về nguồn nguyên liệu và khoa học công nghệ 50
3.4.3.4. Giải pháp về tài chính 50
3.4.3.5. Giải pháp về nguồn nhân lực 51
3.4.3.6. Giải pháp tận dụng các ư
u đãi chính sách của Nhà nước 51
3.4.3.7. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành DTV 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHI 53
1. Kết luận 53
2. Kiến nghị 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54 i
Bảng 3.16. Trình độ lao động của ngành DTV (ĐVT: người) 31
Bảng 3.17 . Thống kê diện tích, năng suất, sản l
ượng các cây có dầu từ năm
2005-2010 và tốc độ tăng trưởng qua cac năm 32
Bảng 3.18. Tỷ lệ điều tra các chỉ tiêu (ĐVT: Mẫu phiếu điều tra người tiêu
dùng) 35
Bảng 3.19. Giá bán lẻ một số loại dầu ăn của các doanh nghiệp 38
ii
DANH SÁCH ĐỒ THỊ VÀ SƠ ĐỒ
Đồ thị 1.1. Tiêu thụ dầu thực vật trên thế giới niên vụ 2009/2010 4
Đồ thị 1.2. Sản lượng Dầu thực vật giai đoạn 2001-2009 5
Đồ thị 3.1. Khối lượng nhập khẩu Dầu thực vật thô 10
Đồ thị 3.2. Mức huy động công suât Dầu tinh luyện 25
Đồ thị 3.3 Cơ cấu hộ sử dụng Dầu thực vật 33
Đồ thị 3.4. Mức độ thường xuyên sử dụng d
ầu ăn 34
Đồ thị 3.5. Thói quen lựa chọn kênh phân phối 35
Đồ thị 3.6. Nhãn hiệu dầu ăn được nhiều người yêu thích 37
Đồ thị 3.7. Thị phần dầu ăn năm 2009 44
Sơ đồ 3.1. Quy trình thủ tục Hải Quan 19
Sơ đồ 3.2. Tổ chức Tổng công ty ngành Dầu thực vật Việt Nam 26
Sơ đồ 3.3. Quy trình công nghệ chế biến dầu 28
Sơ đồ 3.4. Môi trường vĩ mô tác động lên sản ph
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
iv
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản
phẩm dầu thực vật sản xuất trong nước” được thực hiện từ tháng 01-12/2011
với sự phối hợp với các đơn vị như: Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách
Bộ Công Thương, Cục Thống Kê TP.HCM, Cục Hải Quan TP.HCM, Cục Thuế
TP.HCM, Tổng Công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam – Vocarimex.
Đề tài đã đ
iều tra xác định nhóm nguyên liệu Dầu thực vật thô nhập khẩu
và nhóm sản phẩm Dầu tinh luyện nhập khẩu vào Việt Nam. Tìm hiểu, thống kê
hệ thống chính sách thuế, quy trình thủ tục hải quan và các chính sách ưu đãi
khác cho doanh nghiệp và người tiêu dùng. Đề tài đã đánh giá thực trạng sản
xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của sản phẩm Dầu thực vật sản xuất trong nước
và đề xuất giả
i pháp nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm dầu thực vật sản
xuất trong nước. 1
MỞ ĐẦU
dầu thực vật là từng bước xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu đến chế biến
sản phẩm một cách đồng bộ. Tăng dần tỷ trọng nguyên liệu trong nước để sản xuất
dầu thô và cung cấp khô dầu cho ngành chế biến, hoàn thiện quy trình sản xuất
kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm thỏa mãn yêu cầu cao nhất của
người tiêu dùng.
Hiện nay thị trường dầu ăn Việt Nam rất sôi động với sự góp mặt nhiều
doanh nghiệp trong và ngoài nước. Sự đa dạ
ng này thể hiện qua sự phong phú cả
về chủng loại, mẫu mã, giá cả và chất lượng sản phẩm. Người tiêu dùng có được
nhiều sự lựa chọn hơn, điều đó cũng đồng nghĩa với việc sức ép cạnh tranh đối với
các doanh nghiệp sản xuất là không hề nhỏ, bên cạnh đó sức ép về vấn đề nguyên
liệu nhập khẩu để sản xu
ất dầu thực vật ngày càng lớn. Để đối phó với vấn đề này
ngành dầu thực vật cần phải xác định vị thế cạnh tranh sản phẩm dầu của các
doanh nghiệp trong nước, xác định các nguồn lực cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh.
2
Mục tiêu đề tài:
- Đánh giá tác động của sản phẩm dầu thực vật nhập khẩu đối với sản phẩm dầu
thực vật sản xuất trong nước và đề xuất giải pháp để nâng cao sức cạnh tranh của
sản phẩm dầu thực vật sản xuất trong nước.
- Là tài liệu góp phần đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao vị thế của ngành Công
nghiệp sản xuấ
t dầu thực vật Việt Nam trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế
khu vực và thế giới giai đoạn 2011-2020.
Đối tượng và nội dung nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
- Các sản phẩm dầu thực vật sản xuất trong và ngoài nước
dầu như: Dừa, cọ, ôliu… Dầu thực vật thường ở hai dạng: dạng lỏng hoặc dạng
đặc.
Các sản phẩm dầu thực vật được dùng trong chế biến các món ăn hay ở dạng
tự nhiên trong thực phẩm, không làm ảnh hưởng đến mùi vị chất lượng của món ăn
mà còn giúp tăng thêm sự hấp dẫn, nhất là hương vị đó là một trong những lý do để
một số người tiêu dùng lựa chọn. Trong tương lai, các sản phẩm dầu thực vật sẽ
phát triển với nhiều loại dầu có các hương vị khác nhau để đáp ứng nhu cầu, sở
thích và khẩu vị ăn uống của mọi đối tượng trong xã hội.
Bảng 1.1. Sự khác nhau giữa sản phẩm dầu thực vật và mỡ động vật
Dầu thực vậ
t Mỡ động vật
- Có nhiều acid béo không no (chưa
bão hòa)
- Có nhiều acid béo no (bão hòa)
- Ở tinh thể lỏng nhiệt độ bình thường - Ở dạng đặc nhiệt độ bình thường
- Chứa nhiều Vitemine E, K - Vitamine A, D
- Làm hạ lượng Cholesterol xấu (LDL)
trong máu
- Làm tăng lượng Cholesterol xấu
(LDL) trong máu
- Dễ hấp thụ hơn ở đường ruột - Khó hấp thụ ở đường ruột
- Dễ bị oxi hóa - Dễ bị oxi hóa
Nguồn: Bài tiểu luận “So sánh giá trị dinh dưỡng của các loại dầu, mỡ” ĐHBK
Từ bảng so sánh trên người tiêu dùng ngày càng lựa chọn sản phẩm dầu thực
vật để ăn, ngoài ra dầu thực vật là một loại thức ăn cung cấp năng lượng lớn gấp
hai lần so với gluxit, nó có thể sử dụng ở dạng nguyên chất hay hỗn hợp.
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dầu thực vật trên thế giới
Tình hình sản xuất và tiêu thụ dầu thực v
ật trên thế giới ngày càng gia tăng,
tổng sản lượng dầu thực vật toàn thế giới niên vụ 2009/2010 đạt khoảng 162 triệu
cũng chiếm tỷ trọng tương đối là dầu hạt cải 16% và dầu hướng dương 7%. Các
loại dầu còn lại đều có tỷ trọng nhỏ dưới 5% và có xu hướng ngày càng thấp đi do
sự gia tăng tỷ trọng dầu cọ và dầu đậu nành.
Đồ thị 1.1. Tiêu thụ dầu thực vật trên thế giới niên vụ 2009/2010
Trong thời gian gần đây, nhóm 4 quốc gia và vùng lãnh thổ dẫn đầu thế giới
về sản lượng dầu thực vật, đã có sự thay đổi về vị trí. Indonesia đã vượt qua
Malaysia kể từ niên vụ 2005 để trở thành quốc gia có sản lượng dầu thực vật cao
nhất thế giới với 22,96 triệu t
ấn sản xuất trong niên vụ 2009, cao hơn 3,1 triệu tấn
so với Malaysia. Bên cạnh đó, Trung Quốc đã vượt qua các nước EU từ niên vụ
2004 và trở thành quốc gia đứng thứ ba về sản xuất dầu thực vật với sản lượng niên
vụ 2009 là 15,68 triệu tấn. 5
Đồ thị 1.2. Sản lượng dầu thực vật giai đoạn 2001-2009
1.1.3. Biến động giá cả dầu thực vật trên thế giới
nành sang trồng ngô do nhu cầu ethanol tăng đã đẩy giá ngô tăng cao. Tại Trung
Quốc, diện tích trồng đậu nành cũng sụt giảm do quá trình đô thị hóa. Trong khi
đó, mức độ tiêu thụ dầu ăn của người Trung Quốc lại gia tăng nhanh chóng. Trung
BIỂU ĐỒ SẢN LƯỢNG DẦU THỰC VẬT GIAI
ĐOẠN 2001 - 2009
0
5
10
15
20
25
30
35
40
2001 2005 2006 2007 2008 2009
Năm
Triệu tấn
Indonexia
Malaixia
Trung Quoc
Cac nuoc EU
My
Achentina
An Do
Khac
6
Quốc không chỉ là quốc gia nhập khẩu dầu cọ lớn nhất, hiện đã trở thành quốc gia
nhập khẩu dầu nành lớn nhất thế giới.
1.2. Thị trường dầu thực vật của Việt Nam
Tốc độ tăng trưởng của ngành Dầu thực vật cũng rất nhanh, là một trong
nhữ
ng ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất nước, bình quân 15 –
16%/năm.
Năm 2010, riêng Tổng Công ty Công nghiệp Dầu thực vật Việt Nam
VOCARIMEX sản xuất đạt sản lượng 600.000 tấn dầu ăn các loại, chiếm 90% thị
phần trong nước. Giá trị sản xuất công nghiệp đạt 6.231 tỷ đồng, tăng 14% so với
năm 2009. Tổng doanh thu thực hiện 16.856 tỷ đồng, tăng 26% so với thực hiện
n
ăm 2009, nộp ngân sách 1.687 tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2009.
Nhiều cơ sở mới được xây dựng, đầu tư thiết bị, công nghệ hiện đại, sản
xuất ra sản phẩm với nhiều chủng loại, mẫu mã và đạt tiêu chuẩn chất lượng cao.
Nhiều sản phẩm của ngành đã thay thế các sản phẩm nhập khẩu, có thương hiệu và
được người tiêu dùng ưa chuộng. S
ản phẩm của ngành không những đáp ứng được
nhu cầu tiêu dùng trong nước cả về số lượng và chất lượng mà còn tham gia vào thị
trường xuất khẩu.
7
Ngành dầu thực vật phát triển còn góp phần thúc đẩy các ngành khác như
nông nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm (mì ăn liền, bánh kẹo…), cơ khí, bao
bì, giao thông vận tải vv…
Hiện nay do tỷ giá giao dịch VNĐ/USD tăng cao làm cho chi phí nguyên
liệu đầu vào tăng nhưng giá các sản phẩm đầu ra không thể tăng tương ứng do sức
ép cạnh tranh gay gắt sản phẩm của đối thủ và sức mua của người dân giảm sút vì
giá c
ả nhiều mặt hàng trên thị trường tăng cao. Đây là khó khăn chung mà các nhà
sản xuất phải chấp nhận bởi người tiêu dùng trong nước chưa quen với sự biến
động giá như ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.
- Thủ tục hải quan.
- Các văn bản chính sách.
Đối tượng nghiên cứu: các văn bản, quy định pháp lý ảnh hưởng đến các
doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm Dầu thực vật trong n
ước.
Nội dung 3
Đánh giá thực trạng kinh doanh và sức cạnh tranh của sản phẩm
dầu thực vật sản xuất trong nước
Đề tài tiến hành điều tra và đánh giá thực trạng kinh doanh và sức cạnh tranh
của sản phẩm dầu thực vật sản xuất trong nước.
- Sự phân bố kinh doanh sản phẩm DTV trên các vùng lãnh thổ.
- Quy mô và năng lực sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm.
- C
ơ cấu sở hữu và tổ chức quản lý.
- Máy móc thiết bị và công nghệ trong sản xuất DTV.
- Quản lý chất lượng sản phẩm dầu thực vật.
- Công tác đầu tư vào ngành dầu thực vật.
- Nguồn nhân lực, công tác đào tạo, nghiên cứu trong sản phẩm trong doanh
nghiệp.
- Nguồn nguyên liệu cung cấp cho ngành.
- Công nghiệp phụ trợ cho ngành (sản xuất bao bì, thiết bị).
- Thị hiếu người tiêu dùng.
9
- Giá bán các loại dầu trên thị trường hiện nay.
- Môi trường vĩ mô tác động lên năng lực cạnh tranh sản phẩm DTV sản xuất trong
nước.
- Môi trường vi mô tác động lên năng lực cạnh tranh sản phẩm dầu thực vật sản
xuất trong nước.
Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm dầu thực vật,
10
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BÌNH LUẬN
3.1. Điều tra xác định các nhóm sản phẩm dầu thực vật nhập khẩu vào Việt
Nam.
3.1.1. Nhóm nguyên liệu dầu thô nhập khẩu vào Việt Nam.
Điều tra tình hình nhập khẩu nguyên liệu dầu thực vật những năm gần đây,
kết quả cho thấy ở bảng 3.1 và 3.2
Bảng 3.1. Khối lượng nhập khẩu dầu thực vật (tấn)
Dầu thực vật 2005 2006 2007 2008 2009 2010*
Thô 351.018 212.226 286.517 320.605 313.500 345.000
Tinh luyện 31.394 279.502 317.673 383.442 318.100 346.000
Tổng số 382.412 491.728 604.190 704.047 631.600 691.000
*Nguồn: Viện NCCLCSCN – Bộ CT lấy từ Tổng cục Hải quan
Khối lượng dầu thực vật nhập khẩu tỷ lệ thuận với lượng dầu sản xuất trong
nước. Từ bảng 3.1 cho thấy, nếu như năm 2005 cả nước nhập 382.412 tấn dầu thực
vật các loại thì năm 2010 đã nhập tới 691.000 tấn, tăng 2,5lần. Riêng dầu thực vật
thô, năm 2005 nhập khẩu 351.018 tấn thì năm 2010 nhập khẩu là 345.000 tấn
B
ảng 3.2. Khối lượng nhập khẩu các loại nguyên liệu dầu thực vật thô (tấn)
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010*
Dầu cọ
262.236 95.163 139.566 186.991 203.000 223.000
Dầu nành
74.365 96.745 119.035 119.710 106.000 117.000
Dầu cải
6.633 486 1.404 849 4.500 5.000
Dầu khác (Dừa, lạc,
Vừng, lanh, bông )
Tuy nhiên, từ số liệu của bảng 3.2 cũng cho thấy sự mất cân đối giữa một số
chủng loại dầu:
Đối với dầu cọ
:
Từ số liệu ở bảng 3.2, cho thấy cơ cấu tiêu thụ dầu của nước ta chủ yếu là
dầu cọ, gồm dầu cọ thô (Palm Oil), dầu cọ lỏng (Palm Olein), dầu cọ đặc (Palm
Sterin) từ Malaysia và một phần từ Indonesia. Khối lượng nhập khẩu dầu thô chỉ
tăng dần đều từ năm 2000 đến 2005 do Hiệp định cắt giảm thuế quan AFTA chưa
có hi
ệu lực khi các nước trong khối ASEAN quy định mức thuế suất của dầu thô là
5%, còn dầu tinh luyện từ 15 – 25%, những năm từ 2000 – 2003 là 40%.
Từ Quý 2/2006, khi Hiệp định AFTA bắt đầu có hiệu lực thì mặc dù sản
lượng sản xuất dầu ăn các loại tăng lên nhanh, (chủ yếu vẫn là dầu cọ), nhưng khối
lượng nhập khẩu dầu thô lại có xu hướng giảm đi so với các nă
m từ 2000 đến
2005. Điều này lý giải là mức thuế suất lúc này đã không còn chênh lệch nhiều
giữa dầu thô là 3% và dầu tinh luyện chỉ là 5% (ngang bằng với thuế suất của dầu
thô trước năm 2006), thì xu hướng nhập dầu tinh luyện từ các quốc gia ASEAN sẽ
tăng lên và xu hướng nhập dầu thô sẽ giảm xuống.
Đối với dầu đậu nành
: Tại Việt Nam, dầu đậu nành được tiêu thụ nhiều sau dầu cọ,
các nước cung cấp dầu nành thô là Mỹ, Argentina Đây là những quốc gia ngoài
khối ASEAN nên không áp dụng Hiệp ước AFTA mà áp dụng theo cam kết của Tổ
chức Thương mại Thế giới WTO, dầu nành thô có biểu thuế là 5%, dầu đậu nành
tinh luyện thuế suất là 25%. Theo lộ trình cắt giảm thì đến năm 2010 mức thuế suất
nhập khẩu dầ
u nành tinh luyện sẽ giảm xuống là 15%.
Đối với dầu cải
: Là loại dầu có mức nhập khẩu giảm dần từ năm 2005 đến 2008,
theo dự đoán thì đây là loại dầu có chứa nhiều acid béo Erucic (C
phát triển ngành Dầu thực vật, một ngành quan trọng đảm bảo sức khỏe cho cộng
đồng và đóng góp tích cực cho nền kinh tế quốc dân, ngày 28 tháng 6 năm 2010
Bộ Công thương đã phê duyệ
t Quyết định số 3388/QĐ – BCT về “Quy hoạch phát
triển Ngành Dầu thực vật Việt Nam đế năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025”. Đây là
một văn bản rất có ý nghĩa để định hướng cho một ngành công nghiệp đầy tiềm
năng và rất có triển vọng như ngành công nghiệp Dầu thực vật. Với quan điểm
phát triển, mục tiêu phát triển, định hướng phát triển, quy ho
ạch phát triển sản
phẩm và phân bố năng lực sản xuất theo vùng lãnh thổ, bản quy hoạch luôn nhấn
mạnh đến vấn đề nguyên liệu cho ngành. Trong đó thời gian đầu sử dụng hiệu quả
cả nguyên liệu trong nước và cả nhập khẩu và nghiên cứu đầu tư phát triển vùng
nguyên liệu trong nước để dần thay thế một phần nguyên liệu nhập khẩu. Điều đó
cho th
ấy các doanh nghiệp trong ngành chế biến dầu ăn hiện nay trong đó Tổng
Công ty Công nghiệp dầu thực vật Việt Nam cũng như các đơn vị khác phải nỗ lực
rất nhiều để sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi mà nguyên liệu sản xuất vẫn phải
nhập từ nước ngoài, đồng thời lại phải đối phó với bối cảnh mức thuế của dầu tinh
luyệ
n trong khối ASEAN đang được cắt giảm chỉ còn 5%.
3.1.2. Nhóm sản phẩm dầu thực vật tinh luyện nhập khẩu vào Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, chế biến dầu thực vật cho mục đích thực phẩm là một
ngành công nghiệp rất cần thiết và có nhiều tiềm năng. Bên cạnh việc cung cấp các
loại dầu ăn có chất lượng ngày càng cao và nhiều chủng loại để đảm b
ảo cho sức
khỏe của cộng đồng thì ngành công nghiệp này còn góp phần phát triển kinh tế xã
hội, tạo việc làm cho hàng ngàn công nhân, đầu tư phát triển thiết bị và làm chủ
công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực tinh luyện dầu ăn, làm cho ngành công nghiệp chế
biến dầu ăn của nước ta từng bước trở thành tiên tiến, hiện đại để sản xuất sản phẩm
đạt chất lượng cao, có thể cạ
Bơ + Shortening 13.066 19.106 9.462 12.896 2.200 2.450
Tổng 31.394 279.502 317.673 383.442 318.100 346.000
Nguồn: Viện NCCLCSCN – Bộ CT lấy từ Tổng cục HQ và ước tính của thương nhân(*Sơ bộ)
- Lượng dầu tinh luyện nhập khẩu tăng nhanh, chỉ từ 31.394 tấn năm 2005 đã
tăng lên 346.000 tấn trong năm 2010, gấp 11,15 lần. Đặc biệt là những năm sau
2005, lượng dầu nhập khẩu đã tăng vọt, gấp khoảng 10 lần. Điều này cho thấy có
một sự đột biến trong chính sách, cơ chế nhập khẩu.
- Dầu tinh luyện được nhập khẩu vào n
ước ta bao gồm dầu lỏng và dầu đặc.
Dầu lỏng là các loại dầu cọ (Palm olein), dầu nành, dầu Ôliu, dầu hướng dương;
dầu đặc là dầu cọ đặc tinh luyện (Palm sterin), các loại bơ thực vật, dầu hydrohóa
và shortening, các loại dầu đặc này chủ yếu sử dụng trong công nghiệp sản xuất
bánh kẹo và mì ăn liền.
- Các loại dầu nhập khẩu chính cũng vẫn là dầu c
ọ, nành. Ngoài ra còn có dầu
oliu, hướng dương là những loại dầu ăn có chất lượng cao, các loại dầu mà nguồn
nguyên liệu chưa được phổ biến ở Việt Nam.
- Ngoài việc nhập khẩu dầu thô làm nguyên liệu, tình hình nhập khẩu dầu tinh
luyện cũng có những biến chuyển đáng lưu ý, đặc biệt là khi Hiệp định cắt giảm
14
thuế quan AFTA của khối ASEAN bắt đầu có hiệu lực từ năm 2006, giá dầu tinh
luyện từ ASEAN chỉ còn 5% (bằng mức thuế của dầu thô trước năm 2006)
- Như đã trình bày trong phần tổng quan, do Hiệp định về cắt giảm thuế quan
AFTA trong khối ASEAN của một số mặt hàng, trong đó có dầu thực vật có hiệu
lực từ năm 2006, nên việc nhập khẩu các loại d
ầu thô từ các nước ASEAN như
Malaysia, Indonesia chủ yếu được thực hiện từ giai đoạn trước 2006, vì lúc đó thuế
suất nhập khẩu dầu thô là 5%, (chủ yếu là dầu cọ thô), còn các loại dầu tinh luyện
thuế suất từ 10% - 25%, do đó các doanh nghiệp chưa thể nhập dầu tinh luyện. Đối
tinh luyện nhập khẩu vẫn nằm ở mức rất cao so với trước năm 2006 trong khoảng
50%. Nếu tính theo chủ
ng loại dầu nhập khẩu thì dầu cọ chiếm tỷ lệ ngày càng cao
vì dầu cọ có những đặc tính ưu việt đã trở thành nguồn nguyên liệu chính yếu, từ
58,1% năm 2000 tăng lên trên 79% năm 2009, các năm 2008 và 2010 cũng nằm
trong khoảng 77 – 78%.
- Dầu nành cũng có xu hướng tăng dần từ 13,7% năm 2000 tăng lên 21,27% năm
2010, các năm 2005, 2006, 2007, 2009 giữ ở mức trên 19%. Các loại dầu còn lại
hầu như giảm d
ần, đặc biệt là dầu hạt cải (rape seed oil), loại dầu có hàm lượng
15
acid Erucic trên 4% giảm từ 22% năm 2000 xuống còn 0,14% năm 2010. Dầu Oliu
cũng có tăng, các doanh nghiệp nhập dầu Oliu để sản xuất mặt hàng mới, nhằm
thăm dò thị trường và cho một số đối tượng cho trẻ em và người có thu nhập cao,
năm 2009 khoảng 0,28% (900/318.100 tấn); năm 2010 khoảng 0,30%, (tương
đương 1050/346.000tấn). Riêng đối với dầu đặc là các loại bơ thực vật, dầu
hydrohoá và shortening tỷ lệ vẫn có tăng do các ngành ch
ế biến bánh kẹo cũng như
mì ăn liền nhu cầu tiêu thụ tăng, năm 2009 là 0,69% và năm 2010 là 0,70%.
Như vậy có thể nói: Ngành Công nghiệp Dầu thực vật của nước ta hiện nay
họat động vẫn tiếp tục dựa vào việc nhập khẩu dầu thô và dầu tinh luyện và tỷ lệ
giữa hai loại dầu này là 50/50.
3.2. Tổng hợp các hệ thống văn bản chính sách, thủ tục thuế và th
ủ tục hải
quan.
3.2.1. Hệ thống chính sách thuế.
Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng luật thuế xuất nhập khẩu số
45/2005/QH11 được Quốc Hội thông qua ngày 14/06/2005, có hiệu lực từ ngày
01/01/2006. Căn cứ vào luật này, Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội đã ban hành nghị
tư
Ngày
ban hành
Cơ quan
ban hành
Nội dung
1
61/2006
/TT-
BTC
29/06/2006
Bộ Tài
Chính
Hàng hoá nông sản chưa qua chế
biến trong đó có các loại hạt và quả
có dầu như: Đậu tương, lạc, hạt cải
dầu, hạt hướng dương, do các
doanh nghiệp Việt Nam hỗ trợ đầu
tư, trồng tại các tỉnh của Campuchia
giáp biên giới Việt Nam nhập khẩu
để làm nguyên liệu sản xuất hàng
hoá tại Việt Nam được miễn thuế
nhập khẩu và không thuộc đối
tượng chịu thuế giá trị gia tăng.
2
83/2009
/TT-
BTC
28/04/2009
Bộ Tài
9/TT-
BTC
17/11/2009
Bộ Tài
Chính
Thông tư kèm theo biểu thuế nhập
khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam
để thực hiện Hiệp định Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN-Úc-Niu
Dilân giai đoạn 2010-2012 (thuế
suất áp dụng viết tắt là thuế suất
AANZFTA)
5
58/2010
/TT-
BTC
16/04/2010
Bộ Tài
Chính
Thông tư kèm theo biểu thuế nhập
khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam
để thực hiện Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN-Ấn Độ giai đoạn 2010-