một số nét chính về công ty cổ phần bánh kẹo hải hà - Pdf 13

Lời mở đầu
Đã bao giờ bạn tự hỏi các nhà quản trị điều hành công ty như thế nào?
Tại sao họ lại có những quyết định như vậy hay các cổ đông dựa vào những
đặc điểm gì để đầu tư vào một công ty. Tại sao nhà cho vay này lại quyết
định thu hồi vốn của công ty này nhưng lại gia hạn cho công ty kia? Tất cả
các vấn đề trên đều được giải quyết bằng công cụ cực kì hiệu quả : phân tích
tình hình tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công
cụ cho phép xử lí các thông tin kế toán và thông tin khác về quản lí nhằm
đánh giá tình hình tài chính, rủi ro, chất lượng hiệu quả các hoạt động của
doanh nghiệp đó. Sau khi phân tích xong, các nhà quản trị sẽ biết được hoạt
động của công ti ra sao, doanh thu, lợi nhuận , các chỉ số thanh toán, sinh
lời…từ đó có biện pháp điều chỉnh công ti. Các cổ đông cũng biết được tỉ lệ
chia cổ tức, tỉ suất lợi nhuận, vốn chủ sở hữu, giá cổ phiếu…để có thể ra
quyết định đầu tư, góp vốn. Còn nhà cho vay thấy được khả nănh thanh
khoản, công ti có khả năng thanh toán nợ hay không…để đưa ra những
quyết định cho vay, gia hạn hay thu hôi vốn.
Như vậy, phân tích tài chính là một công việc rất quan trọng, cần thiết
cho mỗi công ty và những ai quan tâm đến hoạt động công ty.
Tại sao chúng tôi lại chọn công ty bánh kẹo Hải Hà là đối tượng để
phân tích?
Hải Hà là công ty sản xuất bánh kẹo lâu đời ở nước ta. Mặc dù mới chỉ
chiếm 6,5 % thị phần bánh kẹo toàn quốc (trong khi Kinh Đô là 20%) nhưng
những gì Hải Hà đã đạt đụợc rất đáng khích lệ. Được người tiêu dung biết
đến với những sản phẩm như kẹo Chew, kẹo Jelly…Hải Hà vẫn được coi là
một công ti có tiếng ở Việt Nam. Từ 2007, Hải Hà đã chính thức lên sàn
giao dịch. Đây là hướng đi mới rất tích cực ở Hải Hà. Tình hình cuối năm
2007 đã cho thấy doanh thu và lợi nhuận của công ti đều tăng đáng kể. Năm
2008 sẽ hứa hẹn là một năm phát triển hơn nữa của Hải Hà.
Chúng tôi hy vọng rằng phân tích tài chính công ti bánh kẹo Hải Hà
trong 3 năm 2005, 2006, 2007 sẽ phần nào giúp mội người thấy được sự

- Kinh doanh xuất nhập khẩu: các loại vật tư sản xuất, máy móc thiết bị, sản
phẩm chuyên ngành, hàng hoá tiêu dùng và các loại sản phẩm hàng hóa
khác.
- Ðầu tư xây dựng, cho thuê văn phòng, nhà ở, trung tâm thương mại.
- Kinh doanh các ngành nghề khác không bị cấm theo các quy định của pháp
luật.
1.3. Các sản phẩm chính của HAIHACO:
Sản phẩm của Haihaco rất đa dạng về kiểu dáng và phong phú về
chủng loại đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Có những sản phẩm mang
hương vị hoa quả nhiệt đới như: nho đen ,dâu, cam, chanh… Có những sản
phẩm mang hương vị sang trọng Chew cà phê, chew caramen,sôcola… lại
có những sản phẩm mang hương vị đồng quê như: Chew Taro, chew đậu
đỏ,cốm Mặt khác các sản phẩm của bánh kẹo Hải Hà luôn có chất lượng
đồng đều, ổn định nên được người tiêu dùng đặc biệt là ở miền Bắc rất ưa
chuộng. Nhờ thiết bị hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức, các sản phẩm
kẹo xốp mềm Hải Hà chiếm lĩnh phần lớn thị phần của dòng sản phẩm này
vượt qua tất cả các công ty sản xuất kẹo mềm trong nước.
Hiện nay công ty có các nhóm sản phẩm chính sau:
Kẹo chew : Dẫn đầu trong cơ cấu doanh thu là nhóm sản phẩm kẹo chew
Hải Hà với sản lượng tiêu thụ của kẹo chew gối và chew nhân đạt 4.287 tấn,
doanh thu tăng từ 27,7% năm 2004 lên 32% năm 2006. Xét về dòng kẹo
chew, HAIHACO giữ vị trí số 1 về công nghệ, uy tín và thương hiệu trên thị
trường. Trong tương lai gần sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh như Bibica,
Perfectti Van Melle sẽ chưa phải là thách thức lớn nhất đối với HAIHACO.
Sản phẩm kẹo chew Hải Hà có mười hai hương vị: nhân dâu, nhân khoai
môn, nhân sôcôla, nhân cam… với công suất 20 tấn/ngày.
Kẹo mềm : Trong cơ cấu doanh thu 2006 sản phẩm kẹo mềm chiếm 24,7%.
HAIHACO là Công ty sản xuất kẹo mềm hàng đầu, với dây chuyền thiết bị
hiện đại của Cộng hòa liên bang Đức, các sản phẩm kẹo xốp mềm Hải Hà
chiếm lĩnh phần lớn thị phần của dòng sản phẩm này vượt qua tất cả các

cần tiếp tục đẩy mạnh phát triển không chỉ giữ vững vị trí của mình mà còn
nhắm đến cả thị trường dành cho những người có thu nhập cao. Ngoài ra
HAIHACO cũng hướng tới sản xuất để xuất khẩu sang các nước châu Á và
một số nước châu Âu.
1.5.Những lợi thế cạnh tranh nổi bật của Hải Hà
HAIHACO sở hữu một trong những thương hiệu mạnh nhất Việt Nam,
sản phẩm Bánh kẹo Hải Hà liên tục được người tiêu dùng bình chọn là
"Hàng Việt Nam chất lượng cao" trong nhiều năm liền từ 1996 đến nay. Gần
đây nhất, HAIHACO được bình chọn vào danh sách 100 thương hiệu mạnh
của Việt Nam.
Thương hiệu HAIHACO đã được đăng ký sở hữu bảo hộ công nghiệp
tại Việt Nam và một số nước châu Á như Trung Quốc, Lào, Campuchia,
Malaysia, Nga, Singapore…. Nhiều sản phẩm của HAIHACO chiếm lĩnh thị
trường từ khi mới xuất hiện, có hương vị thơm ngon đặc trưng như kẹo
chew, kẹo mềm, kẹo jelly. Công ty đặc biệt chú trọng đến công nghệ và vấn
đề bảo hộ độc quyền cho các dòng sản phẩm như ChewHaiha, Haihapop,
Miniwaf, ChipHaiha, Snack -Mimi và dòng sản phẩm mới sắp tung ra thị
trường như Long-pie, Long-cake, Hi-pie, Lolie… khiến lĩnh vực sản xuất
bánh kẹo của HAIHACO có ưu thế vượt trội.
1.6. Tình hình chung ngành bánh kẹo của thị trường Việt Nam
và một số đối thủ cạnh tranh chính của Hải Hà
a. Tình hình chung ngành bánh kẹo của thị trường Việt Nam
Bánh kẹo là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng ổn định
(khoảng 2%/năm). Dân số phát triển nhanh khiến nhu cầu về bánh kẹo cũng
tăng theo. Trong những năm gần đây ngành bánh kẹo Việt Nam đã có những
bước phát triển khá ổn định. Tổng giá trị của thị trường ước tính năm 2005
khoảng 5.400 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng của ngành trong những năm qua,
theo tổ chức SIDA, ước tính đạt 7,3-7,5%/năm. Ngành bánh kẹo Việt Nam
có nhiều khả năng duy trì mức tăng trưởng cao và trở thành một trong những
thị trường lớn trong khu vực châu Á – thái Bình Dương.

động là luôn hướng đến sức khoẻ và lợi ích của người tiêu dung. Điểm mạnh
cua Bibica đó chính là sự phát triển một cách ổn định, có ưu thế về ngành
kẹo và bánh bông lan. Tuy nhiên, công ty này có một số yếu điểm đó là quy
mô của công ty vẫn còn nhỏ. Việc quản lý điều hành còn nhiều mặt hạn chế
dẫn đến kết quả kinh doanh không được tốt đẹp như kế hoạch đề ra cũng
như mong muốn của các cổ đông và các nhà đầu tư. Chính điều này đã gây
ra tâm lý nghi ngờ cho các nhà đầu tư và cổ đông.
Công ty cổ phần Kinh Đô được thành lập vào tháng 9/2002 từ tiền thân
là Công ty TNHH Xây dựng và Chế biến thực phẩm Kinh Đô. Vốn điều lệ
của Cty vào thời điểm thành lập là 150 tỷ đồng, sau lần tăng vốn thứ hai lên
200 tỷ đồng vào năm 2003 thì vào tháng 8/2005, cty thực hiện phát hành
thêm 5 triệu cổ phiếu nâng tổng vốn điều lệ lên 250 tỷ đồng, trong đó Công
ty TNHH Xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh Đô góp 15% vốn. Hệ thống
phân phối của Kinh Đô trải khắp 64 tỉnh và thành phố. Những ngành sản
xuất chính của Kinh Đô như chế biến nông sản thực phẩm; sản xuất kẹo,
nước uống tinh khiết và nước ép trái cây; mua bán nông sản thực phẩm,
công nghệ phẩm, vải sợi, hàng may mặc, giày dép, túi xách, đồng hồ, mắt
kính, mỹ phẩm, kim khí điện máy, điện lạnh, thủ công mỹ nghệ, dụng cụ học
tập và giảng dạy, văn phòng phẩm, vật tư ngành ảnh, rau quả tươi sống; dịch
vụ thương mại; đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa; dịch vụ quảng cáo. Phương
châm hoạt động của công ty Kinh Đô là: “CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM LÀ
TIÊU CHUẨN HÀNG ĐẦU”. Kinh Đô là một thương hiệu mạnh. Đa dạng
các măt hàng, thị phần lớn trong ngành bánh kẹo(20%), kinh doanh đa
ngành. Đây có thể nói là điểm mạnh của Kinh Đô.
II. Phân tích tình hình tài chính của Công ty Cổ phần
bánh kẹo Hải Hà
2.1. Phân tích khái quát
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp một
cách tổng quát tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay
không khả quan. Kết quả phân tích này sẽ cho phép nhà quản lý, chủ doanh

Hàng tồn kho 65,866 63,456 56,490
Hàng mua đang đi đường
- - -
Nguyên liệu, vật liệu tồn kho
- - -
Công cụ, dụng cụ trong kho
- - -
Chi phí sản xuất dở dang
- - -
Thành phẩm tồn kho
- - -
Hàng hóa tồn kho
65,866 63,456 56,490
Hàng gởi đi bán
- - -
Dự phòng giảm giá hàng tồn
kho
- - -
Tài sản ngắn hạn khác 1,652 1,130 1,831
Tài sản dài hạn 48,814 46,627 84,429
Các khoản phải thu dài hạn - - -
Tài sản cố định 48,526 42,599 80,624
TSCĐ hữu hình 44,838 42,599 80,624
Nguyên giá 117,723 128,095 179,273
Giá trị hao mòn lũy kế
(72,885) (85,496) (98,649)
TSCD thuê tài chính - - -
Nguyên giá - - -
Giá trị hao mòn lũy kế
- - -

Nợ khác - - -
Nguồn vốn chủ sở hữu 63,233 72,771 99,153
Nguồn vốn - Quỹ 59,874 68,578 93,834
Vốn điều lệ
40,156 40,156 54,750
Cổ phiếu quỹ
- - -
Thặng dư vốn
- - -
Chênh lệch đánh giá lại tài sản

- - -
Chênh lệch tỷ giá
- - -
Quỹ đầu tư phát triển
14,261 21,246 30,286
Quỹ dự phòng tài chính
1,077 1,701 2,527
Quỹ khác thuộc vốn chủ sở
hữu
- - 3,656
Lợi nhuận chưa phân phối
4,380 5,475 2,614
Nguồn kinh phí, quỹ khác 3,359 4,193 5,320
Báo cáo kết quả kinh doanh
ĐVT : Triệu đồng
Năm
2003
Năm
2004

mạnh qua 3 năm chứng tỏ khả năng thanh toán của công ty đã khá lên so với
trớc kia. Tuy nhiên nhìn theo chiều dọc thì tuy tiền mặt có tăng nhng vẫn
chiếm tỉ trọng ít trong TSNH. Còn HTK vẫn chiếm tỷ trọng lớn bởi th
trng bỏnh ko cú tớnh cht mựa v, sn lng tiờu th tng mnh vo thi
im sau thỏng 9 m lch n Tt Nguyờn ỏn, trong ú cỏc mt hng ch
lc mang hng v truyn thng Vit Nam nh bỏnh trung thu, ko cng,
mm, bỏnh qui cao cp, cỏc loi mt, htc tiờu th mnh .Bên cạnh đó
T l tiờu th bỏnh ko theo bỡnh quõn u ngi Vit Nam cũn thp so
vi tc tng trng dõn s. Hin nay t l tiờu th mi ch khong 2,0
kg/ngi/nm (tng t 1,25 kg/ngi/nm vo nm 2003). Đây là nguyên
nhân vì sao mà lợng HTK của công ty chiếm tỷ trọng lớn và đây cũng là tình
trạng chung của các công ty trong ngành. Nhỡn chung trong c cu ti sn thỡ
hng tn kho chim t l khỏ cao, tip n l khan phi thu. Tin mt chim
khụng ỏng k. S gim dn ca hng tn kho cho thy doanh nghip ó cú
nhng hng i ỳng n.
- Tài sản cố định của công ty giảm qua 2 năm 2005-2006 nhng không đáng
kể, tuy nhiên đến năm 2007 thì TSCĐ tăng lên gấp đôi thể hiện sự đầu t vào
trang thiết bị, máy móc, dây chuyền sản xuất. Cụ thể là dõy chuyn sn xut
bỏnh trung thu bao nhõn v dp hỡnh t ng kt hp vi h thng lũ nng
ca hóng MASDAC Nht Bn, và dõy chuyn sn xut bỏnh mm ph
sụcụla v bỏnh snack. Qua đó ta thấy quy mô hoạt động của công ty lớn hơn
rõ rệt ch yu l do liờn doanh. S gia tng ny s to ngun li tc di hn
cho doanh nghip.
2.1.2. Phân tích sự biến động của nguồn vốn
Nhận thấy VCSH tăng mạnh qua các năm dặc biệt là năm 2007 chứng
tỏ lợng vốn đầu t vào công ty ngày một tăng. Tuy nhiờn con s ny vn cũn
khỏ khiờm tn so vi khon n phi tr. Cỏc khon n phi tr cng tng dn
qua cỏc nm l iu cnh bỏo vi cụng ti. Nht l khi cụng ti ó chớnh thc
niờm yt. Cụng ti cn y mnh hot ng hn na thu hỳt vn u t t
cỏc c ụng.

gim chỳt ớt. Tuy nhiờn li nhun vn tg qua cỏc nm cho thy cụng ti
lm n khỏ n, cú hiu qu. Hn na sc tng ca li nhun ln hn sc
tng ca doanh thu. Nm 2006, trong khi doanh thu gim 0,9% thỡ li
nhun vn tng 18,14%. Nm 2007 doanh thu tng hn 4% thỡ li nhun
ó tng hn 20%. Chỳng tụi tin rng c ny thỡ hot ng ca cụng ti
cũn tt hn rt nhiu. õy l im cú th thu hỳt c cỏc nh u t.
2.2.Phõn tớch cỏc ch s ti chớnh nm 2007
2.2.1. Ch s ỏnh giỏ kh nng thanh toỏn
nm 2005 nm 2006 nm 2007
HSTTNH 1,5 1,6 1,4
HSTTN 0,6 0,7 0,7
HSTTTT 0,2 0,3 0,3
H s thanh toỏn ngn hn nm 2007 ca Cụng ty c phn bỏnh ko
Hi H l 1.4, chng t c mi 1 VN n ngn hn c m bo bng 1.4
VN giỏ tr ti sn ngn hn. H s ny gim xung so vi nm 2006 nhng
nhỡn chung l khỏ n nh trong ba nm gn õy. Tuy nhiờn, h s thanh
toỏn ngn hn ca Hi H rt thp so vi ngnh (3.6) cho thy kh nng
thanh khon ca doanh nghip thp v doanh nghiờp ang gp nhng khú
khăn tài chính tiềm tàng. So sánh với Kinh Đô và Bibica, hai đối thủ cạnh
tranh chính của Hải Hà, hệ số thanh toán ngắn hạn của Hải Hà cao hơn
Bibica (1.3) nhưng thấp hơn Kinh Đô (3.8), cho thấy khả năng trả nợ của
Hải Hà thấp hơn Kinh Đô và cao hơn Bibica.
Hệ số thanh toán nhanh của Hải Hà bằng 0.7 cho thấy mặc dù cứ
1VNĐ nợ ngắn hạn được tài trợ bởi 1.4VNĐ tài sản lưu động nhưng có quá
nhiều tài sản lưu động nằm dưới dạng hàng hoá tồn kho các loại, do đó
doanh nghiệp cần đánh giá lại lượng hàng tồn kho. Khả năng của công ty chỉ
có 0.7VNĐ sẵn sàng đáp ứng cho 1VNĐ nợ ngắn hạn. Trung bình ngành của
hệ số này năm 2007 là 2.3, hệ số thanh toán nhanh của doanh nghiệp là 0.7
là quá thấp. Hệ số này của Hải Hà bằng Bibica (0.7) nhưng chỉ bằng 1/5 so
với Kinh Đô (3.5) cho thấy khả năng công ty trả các khoản nợ ngắn hạn mà

3
4
5
6
7
2005 2006 2007
doanh nghiệp lớn hơn Bibica (2.3) và Kinh Đô (0.9) cho thấy doanh nghiệp
tạo ra mức doanh thu thuần cao so với tài sản cố định và lớn hơn các doanh
nghiệp cùng ngành. Tuy nhiên số vòng quay tài sản cố định của Hải Hà là
quá cao cho thấy doanh nghiệp đã sử dụng hết công suất tài sản cố định và
rất khó mở rộng hoạt động nếu không đầu tư thêm vào tài sản cố định. Chỉ
số này của công ty giảm mạnh vào năm 2007, từ 7.0 của năm 2006.
c. Số vòng quay vốn lưu động ròng
Số vòng quay VLDR = doanh thu/ (Tài sản ngắn hạn - nợ ngắn hạn)
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số vòng quay VLĐR 9.3 7.6 10.0
Số ngày quay vòng VLĐR 38.7 47.4 36
Số vòng quay vốn lưu động ròng năm 2007 của Hải Hà là 10.0 nghĩa là
cứ mỗi 1 VNĐ vốn lưu động ròng tạo ra 10.0 VNĐ doanh thu, cứ 36 ngày
thì có một vòng quay vốn lưu động ròng. Chỉ số vòng quay vốn lưu động
ròng năm 2007 cao hơn các năm 2005 và 2006 cho thấy doanh nghiệp tạo ra
nhiều doanh thu hơn trên 1VNĐ vốn lưu động ròng, vốn lưu động ròng được
quay vòng nhanh hơn. Số vòng quay vốn lưu động ròng của Hải Hà lớn hơn
Kinh Đô (0.95) nhưng nhỏ hơn Bibica (11.9).
d. Số vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay HTK = giá vốn hàng bán / HTK
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số vòng quay HTK 4.3 4.3 5.0
Số ngày tồn kho 84.5 84.4 73.2


Số vòng quay khoản phải trả của Hải Hà năm 2007 là 8.5, nghĩa là cứ 1
VNĐ khoản phải trả bình quân chiếm 8.5 VNĐ doanh số mua hàng chịu và
sau trung bình 42.8 ngày doanh nghiệp phải trả nợ. Chỉ số này của doanh
nghiệp tăng lên so với năm 2006 (8.0) và gần gấp đôi mức trung bình ngành
(4.2), cao hơn Kinh Đô (5.9) và Bibica (4.5) chứng tỏ doanh nghiệp không
tận dụng được nguồn vốn vay, phải trả nợ sớm.
2.2.3. Chỉ tiêu cơ cấu nợ
a. Tỷ lệ nợ/tài sản
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tỷ lệ nợ/tài sản (%) 59.8 56.4 49.1

Tỷ lệ nợ/tài sản năm 2007 của Hải Hà bằng 49.1% nghĩa là trong tổng
tài sản của doanh nghiệp có 49.1% được tài trợ bằng nợ. Tỷ lệ này của Hải
Hà tuy đã giảm dần trong ba năm gần đây nhưng vẫn rất cao so với mức
trung bình ngành (24.6%) và hai đối thủ cạnh tranh, Kinh Đô (19.2%) và
Bibica (45.5%). Điều này cho thấy gánh nặng nợ nần của Hải Hà là khá
nặng nề. Với tỷ lệ nợ/tài sản này, doanh nghiệp khó có thể vay mượn thêm
được tiền của các nhà tài trợ.
b. Tỷ lệ VCSH/Tài sản
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tỷ lệ VCSH/Tài sản
(%)
38.1 41.1 50.9
Tỷ số VCSH/Tài sản năm 2007 của Hải Hà bằng 50.9% nghĩa là trong
tổng tài sản của doanh nghiệp có 50.9% là vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ này của
Hải Hà tăng mạnh trong ba năm gần đây, từ 38.1% năm 2005 lên 50.9%
năm 2007 chứng tỏ doanh nghiệp đã và đang tìm cách mở rộng nguồn vốn
chủ sở hữu của mình. Tuy nhiên tỷ lệ VCSH/Tài sản của Hải Hà vẫn kém
mức trung bình ngành (69.9%) cũng như kém Kinh Đô (80%) và Bibica
(54.1%), cho thấy một khoản lớn tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bằng

mỗi 1 VNĐ doanh thu thuần có 0.175 VNĐ lợi nhuận gộp. Tỷ lệ này tăng
lên trong ba năm gần đây, từ 13.8% năm 2005 thành 17.5% năm 2007, cho
thấy khả năng trang trải chi phí đặc biệt là chi phí bất biến để đạt lợi nhuận
của doanh nghiệp tăng lên. Tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận gộp của Hải Hà vẫn
là rất thấp so với mức trung bình ngành (25.1%) cũng như so với Kinh Đô
(26.1%) và Bibica (26.1%).

b. Tỷ suất lợi nhuận hoạt động
Tỉ suất lợi nhuận hoạt động = (DT - GVHB - CP hoạt động)/ DT
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tỷ suất LN hoạt động
(%)
4.1 5.1 6.3

Tỷ suất lợi nhuận hoạt động năm 2007 của Hải Hà là 6.3% nghĩa là
trong mỗi 1 VNĐ doanh thu có 0.063 VNĐ là lợi nhuận từ hoạt động sản
xuất kinh doanh. Mà tỷ suất lợi nhuận gộp của doanh nghiệp là 17.5%, có
thể thấy trong lợi nhuận gộp có phần lớn là chi phí hoạt động. Tỷ suất lợi
nhuận hoạt động của doanh nghiệp tăng lên trong ba năm từ 2005 dến 2007
cho thấy doanh nghiệp đã tìm cách giảm chi phí hoạt động. Tuy nhiên tỷ
suất này vẫn ở mức thấp so với Kinh Đô (18.2%) và Bibica (7.4%).

c. Tỷ suất lợi nhuận ròng
Tỉ suất lợi nhuận ròng = lợi nhuận ròng / doanh thu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Tỷ suất LNR (%) 4.5 4.6 5.8
Tỷ suất lợi nhuận ròng của Hải Hà năm 2007 là 5.8% nghĩa là 1 VNĐ
doanh thu thuần tạo ra 0.058 VNĐ lợi nhuận ròng. Tuy tỷ suất này của
doanh nghiệp tăng lên trong ba năm gần đây, từ 4.5% năm 2005 lên 5.8%
năm 2007, nhưng vẫn rất thấp so với mức trung bình ngành (14.7%) và tỷ

hơn năm 2005 và 2006 là
do đòn cân nợ của doanh
nghiệp giảm xuống và
mức giảm đòn cân nợ lớn
hơn mức tăng ROA. ROE của doanh nghiệp xấp xỉ mức trung bình ngành
(20%) và lớn hơn Kinh Đô (9.8%) , Bibica (12.1%) cho thấy đồng vốn đầu
tư của chủ sở hữu được sử dụng hiệu quả.

2.2.5. Chỉ tiêu liên quan đến thị trường
a. Thu nhập trên một cổ phiếu (EPS)
8
8.5
9
9.5
10
10.5
2005 2006 2007
18
19
20
21
22
23
24
2005 2006 2007
EPS = lợi nhuận ròng/ sl cổ phiếu lưu hành
Đây là một chỉ số quan trọng vì nó là yếu tố chính chi phối thị giá cổ
phần, nó chỉ ra số thu nhập mà mỗi cổ đông được hưởng. Năm 2007, năm
đầu tiên Hải Hà lên sàn, EPS của công ty là 3604,7 đ/CP. Như vậy, với mỗi
cổ phiếu mỗi cổ đông được hưởng 3604,7 đ. Kết quả này là khá khả quan

KPT của công ti chiếm gần 30% tài sản, một con số tương đối cao, nhưng
công ti thu hồi nợ khá tốt, công ti cũng có những khách hàng trung thành, có
khả năng thanh toán. Đó cũng là lí do công ti tiếp tục bán chịu
- Tỉ suất sinh lời tài sản ROA tuy thấp hơn ngành nhưng cao hơn đối thủ
cạnh tranh. Hiện nay Kinh Đô, Hải Hà và Bibica là ba đối thủ chính trong
ngành sản xuất bánh kẹo. Trong đó, Hải Hà có chỉ số ROA cao nhất (như
phân tích ở trên), như vậy công ti tận dụng được tài sản vốn có của mình.
Lợi nhuận tạo ra khá tốt.
- Tỉ suất sinh lời VCSH ROE chấp nhận được. Mặc dù ROE năm 2007 thấp
hơn 2005, 2006 nhưng vẫn cao hơn đối thủ cạnh tranh nên công ti vẫn có
khả năng cạnh tranh trên thị trường.
2.3.2.Điểm yếu
- Vòng quay tài sản khá cao. Nó cho biết doanh nghiệp đang làm ưn hiệu
quả nhưng đó cũng là lời cảnh báo công ti đã hoạt động hết công suất và khó
mở rộng hoạt động. Do đó công ti cần đầu tư thêm vào tài sản nếu muốn đủ
sức cạnh tranh hơn nữa.
- Vòng quay TSCD cao. Năm 2007, công ti đã đầu tư khá nhiều vào tài sản
cố định. Tuy nhiên cũng giống như trên, có lẽ công ti cần có những biện
pháp khác để vẫn tăng doanh thu trong khi không quá tận dụng tài sản.
- Khả năng thanh toán thấp. Bảng cân đối kế toán cho thấy công ti còn nợ
khá nhiều, cao hơn rất nhiều so với ngành và đối thủ cạnh tranh. Nếu cứ tiếp
tục như vậy thì công ti khó có thể vay thêm cho hoạt động sản xuất.
- Vòng quay khoản phải trả cao, ko tận dụng được vốn vay. Như đã nói,
công ti nợ khá nhiều, do đó việc trả nợ là rất khó khăn. Doanh nghiệp cần
điều chỉnh lại các khoản vay của mình để hoạt động hiệu quả hơn.
- Tỉ lệ nợ/ tài sản cao.
- Tỉ lệ VCSH/ tài sản thấp. Vì hầu hết tài sản của công ti là các khoản nợ nên
phần vốn của công ti là rất nhỏ.
- Tỉ lệ nợ/ VCSH cao. Nếu chỉ nhìn vào nguồn vốn mà không xem xét kĩ bên
trong thì thấy công ti có nguốn vốn khá ổn. Tuy nhiên, các khoản nợ là điều

ngành. Đây là một vấn đề quan trọng, bảo vệ quyền lợi khách hàng cũng như
uy tín thương hiệu của Công ty nhất là khi Việt Nam đang trong giai đoạn
hội nhập với Thế giới.
- Rủi ro về tỉ giá. Một số nguyên liệu được nhập khẩu nên sự biến động
về tỷ giá cũng sẽ ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, phần lớn
máy móc của Công ty đều được nhập từ nước ngoài do vậy những dự án đầu
tư mới của Công ty cũng phải gánh chịu những biến động về tỷ giá.
- Rủi ro về biến động nguyên vật liệu. Nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng
lớn trong giá thành sản phẩm (khoảng 65%-70%), vậy nên biến động giá
nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status