Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập Tự do Hạnh phúc
.*** .
Bộ xây dựng
Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu
ảnh hởng của triết học phơng đông trong kiến
trúc cổ việt nam
Hà nội 2000
1
Báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu
đề tài nghiên cứu khoa hoc.
.*** .
ảnh hởng của triết học phơng đông trong
kiến trúc cổ việt nam
2
Báo cáo tổng kết kết quả nghiên cứu
đề tài nghiên cứu khoa hoc.
.*** .
đề tài nghiên cứu khoa học
ảnh hởng của triết học phơng đông trong kiến
trúc cổ việt nam
Phần I
Kiến thức cơ bản về
triết học cổ phơng đông
Cần thiết cho ngành kiến trúc
Hà nội tháng 4/1999
3
Chơng I
1.1. Tính cần thiết của đề tài
Triết học phơng Đông cổ đại, nền tảng của một nền văn minh phát sinh
phát triển sớm nhất trên trái đất, lừng lẫy ngàn năm trớc Công nguyên.
văn hoá mới, đã cung cấp cho chúng ta nhiều thông tin quý giá, đang đợc bổ
sung hoàn chỉnh dần. Đây là những cơ sở khoa học nền tảng của nhiều ngành
trong chủ trơng mở rộng ứng dụng. Song các cơ sở nền tảng đó từ nhiều
nguồn khác nhau, các công trình diễn giải từ nhiều góc độ nhìn khác nhau,
cha có đợc nhiều nguồn khác nhau, các công trình diễn giải từ nhiều góc độ
nhìn khác nhau, cha có đợc những công trình lớn tổ hợp hệ thống hoá chính
thống cho nhiều ngành sử dụng, ngoài quyển kinh dịch. Song tuy kinh dịch là
một công trình tổng hợp nhng lại đợc việt quá cô đọng làm cho nhiều ngành,
nhiều ngời phải tự để diễn giải và ứng dụng vào thực tế của ngành mình.
Ngành quy hoạch kiến trúc cha có đợc công trình tổng hợp hoặc diễn
giải nào mang tính nghiên cứu cơ bản, có hệ thống để giúp cho những việc
nghiên cứu ứng dụng cụ thể vào đời thờng.
Hai thập kỷ, tổ chức UNESCO đã nhiều lần kêu gọi các nớc trên thế
giới, gìn giữ và bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hoá, văn minh của tất cả các
cộng đồng dân tộc hiện tồn coi nh kho tàng chung của toàn thế giới.
Giao lu văn hoá đợc mở rộng, chúng ta đã nhận đợc nhiều t liệu quý giá
các tổ chức nghiên cứu khoa học của Trung Quốc. Nhà xuất bản văn hoá
thông tin cũng đã cho in nhiều t liệu dịch thuật mới rất bổ ích để hiểu rõ thêm
nền văn hoá thần bí phơng Đông.
Nền văn hoá gọi là Thần bí còn rất nhiều điều cần đợc làm rõ, song
thiết tuởng cũng đã đến lúc chúng ta cần có hệ thống hoá đễ đợc những cơ sở
cơ bản ứng dụng cho mỗi ngành.
Đã có nhiều nhà báo dự đoán rằng thế kỷ XXI là thế kỷ của tin học,
hoặc thế kỷ của sinh học. Nhng cũng có nhiều ý kiến lại cho rằng thế kỷ XXI
là thế kỷ của giao lu văn hoá, hoặc thế kỷ của Tâm Linh. Tâm linh là một
5
lĩnh vực quan trọng của triết học phơng Đông, một lĩnh vực rất quan trọng của
triết học phơng Đông, một lĩnh vực khoa học vô hình liên quan đến cái
Thần của con ngời, cho tới nay còn những nhận thức khác nhau. Không ít
ngời xếp lĩnh vực tâm linh vào lĩnh vực thần bí siêu nhân, thậm chí còn có
Nh trên đã nói, Triết học phơng Đông là một khoa học tổng hợp bao
gồm nhiều lĩnh vực, tiếp cận cả thế giới hữu hình và thế giới vô hình, cả thiên
nhiên và con ngời, cả cái TA và cái Không Ta.
Điểm đáng lu ý, là Triết học không chỉ nghiên cứu cái hiện tồn mà luôn
luôn phân tích cái đã qua, cái dạng đến và cái sẽ đến, nghĩa là sự tiếp cận sự
dịch chuyển của sự vật hiện tợng và những mối quan hệ tác động tơng hỗ,
giữa thiên nhiên và con ngời vầ các cộng đồng nhân loại, cũng nh các cõi hữu
sinh khác.
Đề tài không có tham vọn tiếp cận toàn bộ nội dung của triết học phơng
Đông mà đã đợc viết ra trong toàn tập các sách kinh, và chỉ chắt lọc ra một số
điểm chính có liên quan mật thiết đến lĩnh vực chuyên môn của ngành Quy
hoạch và Kiến trúc nhà cửa.
Những tài liệu cơ sở chính mà đề tài dựa vào tổng hợp phân tích là:
* Tổng quan về lịch sử triết học phơng Đông của ông Nguyễn Đắc
Thực.
* Các học thuyết lớn.
- Khí đạo của ông Lục Lu.
- Lý của ông Trơng Lập Viện chủ biên
- Âm dơng ngũ hành - cam chi thông luận ông Lê Văn Sửu
- Tam tài: Thiên - Địa Nhân.
- Cửu trù Hồng Phạm.
* Các môn khoa học chủ đạo trong triết học phơng Đông.
- Khoa học tổng hợp: Kinh dịch của ông Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê,
Nguyễn Duy Hinh, Lê Văn Quán.
- Địa lý cổ đại: Phong thuỷ học, hệ bài giản của ông Vũ Xuân Quang,
Hoàng Phơng, Cao Trung, Lu Đạo Siêu, Dơng Quân Tùng, Nguyễn Minh
Triết
- Thời sinh học của ông Lê Văn Sửu.
7
- Chiêm tinh học (Thái ất), dự đoán học tứ trụ Thiên Vĩ Hoa, Triệu
gốc những môn phái chính, hệ t tởng chính:
- Giới thiệu một số học thuyết lớn có liên quan đến chuyên ngành Quy
hoạch Kiến trúc.
- Giới thiệu một số môn khoa học chính có liên quan đến việc ứng dụng
Triết học phơng Đông vào chuyên ngành Kiến trúc Quy hoạch.
Phần 2 gồm:
- Vài nét về văn hiến Việt Nam nhằm định hớng cho việc ứng dụng các
môn khoa học cổ đại phơng Đông vào chuyên ngành Quy hoạch Kiến trúc
của Việt nam.
- Mô tả, minh giải trên một số công trình cụ thể đã xây dựng ở Việt
Nam Kết luận chung và kiến nghị.
Phần 3 gồm:
Định hớng ứng dụng triết học phơng Đông vào ngành qui hoạch
Kiến trúc Việt nam.
Kết luận chung.
Chú ý
: Vì điều kiện hạn chế về thời gian nên nhiệm vụ chính trong sản
phẩm này mới là phần 1: su tập hệ thống hoá các t liêu dữ liệu. Đề tài cha có
điều kiện tiến hành phần 2 và phần 3: điều tra khảo sát thực tế những điểmcần
thiết, nhất là những công trình đã ứng dụng thuật phong thuỷ chẳng hạn và
phần định hớng, kết luận chung.
Tác giả không lờng trớc đợc nội dung quá lớn của đề tài nên đã không
thực hiện nổi toàn bộ đề tài đúng thời hạn nh hợp đồng. Tác giả mong đợc cơ
quan quản lý đề tài thông cảm, miễn thứ cho, xin chân thành cảm ơn trớc.
1-4- phớng pháp nghiên cứu của đề tài
Những t liệu của triết học cổ phơng Đông hiện đã có khá nhiều, nhng vì
vấn đề phản ánh đợc cả một nền văn minh cổ đại phát triểnhững, nên nhìn
chung các t liệu vẫn còn cha đầy đủ, nhất là còn tản mạn đợc su tập từ rất
9
3.3-Học thuyết Hồng Phạm Cửu Trù.
3.4- Học thuyết Can Chi
Chơng IV
Những môn khoa học cổ đại của triết học cổ phơng
Đông có liên quan đến ngành quy hoạch kiến trúc.
4.1-Dịch học (chi dịch) cổ đại
4.2 - Phong thuỷ học cổ đại
3.4 - Thời sinh học cổ đại
Chơng V
Một số nét về ảnh hởng của triết học cổ phơng Đông
đến nền văn hoá việt nam (nếu có điều kiện)
5.1 - ảnh hởng của triết học cổ phơng Đông đến nền văn hoá Việt
Nam
5.2 - Một số minh chứng cụ thể:
- Thành phố Huế
- Một số thành cổ Việt Nam
5.3 - Định hớng ứng dụng triết cổ phơng Đông vào ngành quy hoạch
Kiến trúc Việt Nam
Kết luận chung
1.6- Hệ quan điểm:
- Hệ thống triết học hoàn bị gồm nhiều chuyên đề nh:
* Nhận thức luận
* Lý luận học
* Siêu Hình học
11
* Tự nhiên học
* Tâm lý học
. Và các thuyết lý giải thoát
ở phơng Đông, mà chủ yếu ở hai nên văn minh của ấn Độ và Trung
Hoa, gốc của triết học đều xuất phát từ khuynh hớng xác định chân lý của tinh
- Đánh giá truyền thống lịch sử phát triển Kiến trúc Việt Nam
Do triết học vừa rất rộng, vừa liên tục phát triển vì phản ánh hệ tâm thức
xã hội, đề tài chỉ giới hạn khai thác vốn triết học cổ đại phơng Đông và ảnh h-
ởng đến Việt Nam trong lĩnh vực Quy hoạch Kiến Trúc.
Tuy nhiên, giới hạn nh vậy còn rộng, nên đề tài phải chia thành hai bớc:
+ Bớc một là bớc giới thiệu các cơ sở khoa học cơ bản nhất có liên quan
đến chuyên nhà Kiến trúc Quy hoạch.
+ Bớc hai sẽ là bớc nghiên cứu tiếp theo của đề tài mới có điều kiện đi
sâu vào các chi tiết nguyên tắc mô hình hoá và tính toán giải mã.
- Có những vấn đề cho tới nay, chua tìm ra đợc đủ cơ sở để giải thích,
thuyết phục đợc, nhng để độc giả có đợc nhận thức có hệ thống, đề tài xin
phép giới thiệu để độc giả tham khảo. Cũng có thể đợc độc giả lợng thứ bổ
sung cho, tác giả xin chân thành cảm ơn trớc.
- Tác giả cho rằng đề tài nài vì tính chất quan trọng của nó, phải là một
công trình khoa học của nhiều ngời đóng góp, tác giả tự nhận xét cha đủ trình
độ hiểu biết về lĩnh vực này nhng vì yêu cầu của chuyên ngành nên xin phép
các độc giả cứ mạnh dạn đa ra vấn đề trớc để làm nền cho nội dung đóng góp
của các độc giả mong đợc các độc giả hết sức thông cảm và lợng thứ cho
những thiết sót của đề tài.
13
Chơng II
Lợc qua lịch sử phát sinh phát triển triết học phơng
Đông
Chúng ta đều biết, tính theo niên đại, thì các dòng triết học thế giới phát
sinh nh sau:
-Triết học cổ đại gồm:
Triết cổ ấn Độ: Thế kỷ XV trớc Công nguyên
Triết cổ Trung Hoa: Thế kỷ VIII trớc Công nguyên
Triết cổ La Mã: Thế kỷ VII trớc Công nguyên
- Triết học trung đại gồm:
mời tối, nghiêng ngả. Đạo tâm là thiên về lý nên là chính nghĩa. Hoà giải
nhân tâm theo đờng thiên lý là sứ mệnh của văn hoá, trong đó triết học chiếm
địa vị hớng đạo.
Có thể nói rằng triết học là chìa khoá mở cho chúng ta thấy những cơ sở
nền tảng định hớng cho các hoạt động phát triển của nhiều ngành khoa học
trong đó có ngành Quy hoạch Kiến Trúc của chúng ta.
Kiến trúc s không phải là một ngời thợ vẽ giản đơn mà là một ngời làm
nghề sáng tác ra một giá trị sử dụng trên cơ sở một phơng pháp t duy lôgic,
một hệ quan điểm trong cách nhìn nhận, đặt vấn đề. Hệ nhận thức t tởng xuất
phát từ nền triết học là nền tảng cơ bản của sản phẩm kiến trúc, còn về thể
hiện chỉ là công cụ, phơng tiện diễn đạt.
Cho nên trong môn triết học nói chung của thế giới kể từ Heraclite cho
tới Hegel và cả Karl Marx, đều nhấnh mạnh là triết học không bao giờ chỉ là
hoàn toà lý thuyết hoặc hoàn toàn thực hành, mà luôn luôn nó tìm một học
thuyết, một hệ quan niệm có hệ thống về vũ trụ nhằm ứng dụng làm cơ sở cho
một nền lý luận thực hành.
15
Do vậy, triết học luôn dựa vào thái độ của nhân loại, của các cộng đồng
dân tộc đối với vũ trụ nhân sinh trong hoàn cảnh thực tế về trí thức, tình cảm
và ý chí.
Tóm lại, do triết học là một khoa học đặc biệt bao quát tất cả các khoa
học khác, là một trong những hình thái ý thức xã hội đối với các quy luật
chung nhất về sự vật hiện tợng trong tự nhiên và nhân sinh nên phải coi là h-
ớng đạo cho mọi suy nghĩ và hành động cụ thể của tất cả các ngành hoạt
động.
2.2- Một số nét về triết học ấn độ:
Truyền thống triết học ấn Độ, xuất phát từ thánh thi ca Vada với sự
nhân cách hoá các thế lục thiên nhiên thành vô số các thần thánh và vẫn giữ đ-
ợc tính truyền thống từ thời tối cổ hồn thơ Kinh Thi và Ca dao.
Khác với Kinh Thi của Trung Hoa xuất phát từ tâm hồn của đại chúng
- Linh hồn cá nhân đồng nhất với linh hồn vũ trụ (gọi là Advaita)
- Luân hồi linh hồn giam trong cuộc đời hữu hạn thì đau khổ (gọi là
Samsari).
- Giải thoát linh hồn tìm cách ra khỏi cảnh hữu hạn để ý thức sự
đồng nhát của nó với Đại vũ trụ. Một khi hợp nhất thì hết đau khổ (gọi là
Koksa) nghĩa là chú trọng về tri thức cái tự ngã tự tại đi tuần tự từ thần học
đi trớc rồi đến triết học siêu hình rồi lấy thực nghiệm làm căn bản của tri thức.
Nh vậy Upanisad coi bản ngã của tất cả chúng sinh đồng nhất với ý thức
vũ trụ khác với phơng Tây cho rằng tâm linh học có ý nghĩa là tự giao phó cho
vô biên và lặn chìm vào đây.
2.2.1 T tởng UPAnisad: (750 550 tr ớc công nguyên)
2.2.1.1 Đồng nhất thể: Thực hữu ý thức hoan lạc:
ở phơng Tây cận đại ngời ta quen nhìn vật chất và tinh thần nh là lỡng
nguyên cách biệt thuộc thế giới hữu hình về thế giới vô hình không có liên
quan với nhau. Nhng các biệt gia phơng Đông thời Upanisad đã bổ sung một
quan niện thực tại duy nhất nghĩa là tất cả trạng thái của hiện hữu vật chất
17
cũng nh tinh thần đồng nhất với nhau trong sự biến hoá. Đây không phải là
ngời ta muốn vật chất hoá tinh thầnh và ngợc lại là đã tinh thần hoá cái vật
chất với vũ trụ quan tâm vật đồng nhất hay là vạn hữu thần. Một quan
niệm mới là ngời ta không đứng ra ngoài vũ trụ để nhìn nhận thần linh hay là
cho rằng thần linh đứng ở ngoài thế giới hữu hình, mà thống nhất nhạn thức
rằng thần linh đã thấm nhuần tất cả mọi sự vật.
Về bản tính của sự sống tự ngã (gọi là Atman) thì thần linh có bốn
giai đoạn phát triển.
Giai đoạn tự ngã thân thể
Giai đoạn tự ngã kinh nghiệm
Giai đoạn tự ngã siêu nhiên
Giai đoạn tự ngã tuyệt đối
Cũng có thể ví nh bốn cấp độ bức xạ năng lợng trong vật lý hiện đại:
cái cơ bản của tất cả các vật hữu hạn. nó là Tự ngã đại đồng (còn gọi là đại
tự ngã) toàn thể vũ trụ sinh sống và hô hấp ở trong các chi của Atman đại
đồng, cụ thể là:
Đầu là vòm trời, mặt là mặt trời, hơi thở là gió, thân thể là không gian,
thật là nớc, chân là đất, miệng là lửa thờ, 19 miện (hay cửa đợc xác định là:
Ngũ tử căn (5 giác quan) ngũ tác căn (5 động tác), ngũ sinh khí và tứ
uẩn (thành phần cơ quan nội giới) trong đó thức là yếu tố tinh thần chi phối
cả 18 miệng cửa.
T tởng Upanisad từ chối không đồng nhất cái tự ngã với thân thể
nghĩa là có hai thế giới đồng nhất với nhau: thế giói hiện tợng ở dới và thế
giới siêu nhiên, siêu hiện tợng vô thời gian ở trên.
Tuy nhiên, t tởng Upanisad về tự ngã không cho là h vô mà quan
niệm là một thực tại toàn diện, một ý thức hoàn bị. Sự đồng nhất ấy biểu thị ở
biểu tơng đơng nh sau:
19
Chủ thể (Atman) - Khách thể (Brahman)
Tự ngã thân thể (trạng thái thức - Vũ trụ
Tự ngã sinh khí (trạng thái mộng) - Linh hồn thế giới
Tự ngã tri thứuc (trạng thái ngủ say) - ý thức tự tại
Tự ngã trự giác (Turiya) - Lcj (Brahman)
Nhng phải hiểu đồng nhất này là một thực tại linh hoạt đầy đủ, một tâm
linh sống động có sinh thành, có biến hoá thay đổi hình dạng ở trong cái thực
tại tổng hợp ấy, với hệ t tởng triết học của ba phơng diệ thựuc tại tối cao:
Thực hữu (SAT), ý thức (CIT) Hoan lạc (Ananda) đồng nhất tính linh
động ấy bao hàm cả thể lẫn dụng, cả lý tởng và thực thế, một thực tồn hoàn
chỉnh, viên mãn.
2.2.1.2 Nhân sinh quan luân hồi nghiệp báo:
Thuyết luân hồi (Samsara) và nghiệp báo (Karma) là những cơ sở triết
học nhân sinh của các dân tộc á Đông nói cung từ thợng cổ đến nay.
Cuộc đời của một con ngời, từ lúc sinh ra đến lúc chết đợc coi nh một
tinh tuý bất diệt hiện trong cái huỷ diệt, thì ngời đó hết cả oán hờn.
Tóm lại, triết lý của gia đạon Upanisad quan niệm đồng nhất thể trong
đó bản thể cùng tột của vạn vật và của mỗi cá thể là Brahman hay Atman (tự
tại hay tự ngã) và bản ngã chân chính Atman đồng nhất tính với bản ngã vũ
trụ.
TRI đã thay thế cho hành lễ.
Brahman, đại ngã tuyệt đối, đồng nhất với tiểu ngã Atman luân hồi
(Samsata) và nghiệp báo (Karma) là luận thuyết sinh đôi đã trở nên cơ sở cơ
bản cho tất cả hệ thống t tởng của ấn Độ giáo cũng nh Phật giáo.
Sự giải thoát (Moksa) khỏi vòng sinh tử luân hồi chỉ có thể thực hiện đ-
ợc bằng con đờng giác ngộ, con đờng tri thức nghĩa là thực hiện sự đồng nhất
Brahman và Atman Thiên -địa tâm (nhân tâm). Trong cái vũ trụ đạo ấy
Tâm linh vũ trụ (Brahman) là mục đích cứu cách mà trí tuệ (Jnana) là phơng
tiện để đạt tới.
21
Tuy nhiên, tôn giáo Upanisad không có đền chùa, không có ảnh hởng,
không có giáo hội, tỏ ra quá thiên về cá nhân, nên chỉ thích hợp cho một số
siêu nhân, thiên về siêu hình và thần học, chỉ mới đa ra một số qun điểm về
trực giác chua có một nguyên lý nào đợc toàn thể công nhận, suy tôn và về
lĩnh vực t tởng vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau, tuy những hệ
thống siêu hình có bao quát và rộng rãi hơn luận thuyết của Platon và Atistote
ở Hy Lạp.
2.2.2. Phật học (550-326 Năm trớc công nguyên)
Giáo lý Phật giáo thích ca, hiểu một cách chính xác, cũng chỉ là tiếp
diễn những trực giác linh t của Upanisad mà thôi, thiên về vũ trụ siêu nhiên,
siêu linh bản thể sau khi đặc quyền vũ đoán giai cấp Bàlamôn không đợc xã
hội thừa nhận nữa.
T tởng Phật giáo thay thế và đi sâu vào luận lý nhân sinh, tìm phơng
thuốc cứu chữa cho đau khổ bằng các định luật quy định sự ăn ở của ngời đối
với ngời. Có thể nói Phật giáo chủ yếu là môn tâm lý học và chuyển từ phụng
Tự do ý chí mà chúng ta cảm thấy ở mỗi hành vi, chỉ là sức mạnh của
nghiệp quả (Karma), một cái nghiệp ấy là thực tại biểu hiện ở nội giới, cũng
nh ở ngoại giới, thông suốt vũ trụ, chính cái Nghiệp ấy gốc rễ ở trong vô
minh của chúng sinh, là các nguyên nhân của sống, chết. Chừng nào cái sức
của Nghiệp chua kiệt thì vòng sống chết vẫn tiếp diễn và là cái lới giam
chúng sinh trong vòng luân hồi, cái vòng luân hồi sống chết ấy đợc giải thích
cặn kẽ ở thuyết 12 nhân duyên, theo tang kinh của phà Phật, tóm tắt ở đồ biểu
sau:
2.2.2.1 - Đồ biểu mời hai (12) nhân duyên:
Nguyên nhân do đời
sống quá khứ
* Vô minh
(Avidya): ngu mê không biết điều ác
* Hành
(Samskara): Khuynh hớng bằng thân thể, lời
nói, t tởng
Nguyên nhân do đời
sống hiện tại
* Thức
(ViJnana): ý thức về mình qua mát, tai, mũi,
lỡi, thân thể, tinh thầnh.
23
* Danh sắc
(Nâm Rupa): Tinh thần và thân thể qua
nghi thứuc tiếp súc, cảm giác, tự giác.
* Lục nhập
(Jaramarana): Già, chết
Thập nhị nhân duyên cho đau khổ của thế giới ở tại vô thờng, vô
ngã và nguyên lai của nó là vô minh.
Vậy thì muốn diệt khổ, chỉ có một cách là đánh tan Vô minh đi bằng
ngọn đèn của Trí tuệ.
Nhập Niết bàn đối với Phật, không hoàn toàn vào chỗ h vô mà là một
cách nói khác của sự cá nhân giác ngộ, chân lý, giải thoát vô minh, đến tr-
ớc một chân nh nghĩa là cái bản thể đồng nhất giữa linh hồn với Đại hồn thé
giới.
Phép mầu về đạo diệt khổ là chính đạo gồm 8 chính:
Chính kiến
Chính t
duy
Chính ngữ
Chính mệnh
Chính nghiệp
24
Chính tinh tiên
Chính niệm
Chính đinh
Theo đạo Phật, muốn thành Phật cần đạt đợc bốn bậc tinh thần sau:
1- Thông tỏ các việc kiếp trớc
2- Trừ khử các ác căn ở trong lòng và đợc các huệ nhỡn để thấu triệt
mọi việc.
3- Lĩnh hội đợc Thập nhị nhân duyên là cái lới giam chúng sinh trong
vòng luân hồi.
4- Phát minh đợc Tú diệu đề là bốn điều căn bản để giải thoát khỏi
vòng sinh tử
Phật thích ca thu gọn triết lý của Phật trong bài thuyết pháp về Tứ